Thursday, November 19, 2009

THỰC PHẨM VIỆT NAM

*
MIẾN VÀ CÀ PHÊ VIỆT NAM



Làng Cổ Cự Đà! Ôi, miến!

Làng cổ Cự Đà (Cự Khê, Thanh Oai, Hà Nội) nổi danh về miến. Thử một lần về đất miến và... thật kinh!

7g sáng, người người, nhà nhà ở đây đã tấp nập. Mọi nẻo đường, mọi con ngõ, bất kỳ một không gian nào hứng được ánh nắng mặt trời, đều được người dân tận dụng để phơi miến. Làng cổ phút chốc vàng óng màu của những giàn miến.

Nhưng màu vàng óng, quyến rũ, lãng mạn mang lại cảm giác ngon lành từ những sợi miến vụt biến mất. Thay vào đó khi thấy người ta làm miến, phơi miến, bạn sẽ... hãi!


Phơi miến ngay trên một bãi sình lầy và rác.


Ngay trên rãnh cống nước thải đen sì, hôi thối.


Và bứt một lọn miến bằng cả tay lẫn chân trần!
------------------------------
Kinh hoàng làm miến

Những ngày này cả làng Tó (Thanh Oai, Hà Tây) tấp nập cho những mẻ miến cuối năm. Phên bánh miến được phơi hai bên đường làng chật chội, ngay sát rãnh cống bốc mùi. Bánh tráng còn được phơi cả trên những nấm mồ, trên bờ sông đầy rác thải.

Dùng hóa chất tẩy trắng, tạo màu
Cảm nhận đầu tiên khi về đến làng nghề này là một mùi chua chua, nồng nồng của bột ủ nước, mùi thối khăn khẳn của những rãnh nước thải không qua xử lý. Nhưng điều khiến người tiêu dùng thấy giật mình có lẽ chính là cách "nhuộm màu" cho sợi miến.
Bột dong riềng ngâm nước trong nửa ngày rồi lọc lấy tinh bột. Sau đó người ta đem hoà vào mỗi thùng bột ấy một muôi bột hoá chất màu trắng, thường được gọi là thuốc tẩy để miến có màu trắng, hay hanh hao vàng.

Chú chó này đã hồn nhiên tè ngay trên chỗ phơi bánh.


Theo chị Liên, một thợ làm miến trong làng, thì loại thuốc tẩy này có thể mua dễ dàng ở chợ Đồng Xuân với giá 25.000 đồng/gói. Tuy nhiên, do ở đây tiêu thụ nhiều nên có nguồn hàng chở về tận nơi, chỉ cần gọi điện thoại báo số lượng.
Những hoá chất này có mùi rất hắc và được đóng trong các bao nilon mà người làm miến chẳng quan tâm đến xuất xứ của chúng. Mỗi một tạ bột chỉ cần khoảng 1-2 lạng thuốc tẩy. Chỉ sau một đêm ngâm thuốc tẩy, bột sẽ trở nên trắng tinh. Khi ấy người thợ sẽ bắt đầu công đoạn pha hồ, tráng bánh.
Theo người trong nghề thì mỗi vùng lại chuộng một loại miến có màu khác nhau, nên bây giờ các cơ sở sản xuất còn thêm công đoạn làm màu. Ví như người miền Nam thì thích sợi miến có màu trắng trong, do đó, chỉ cần tẩy bột thật kỹ, miến càng trắng thì thuốc tẩy càng nhiều.


Nhưng người miền Bắc lại thích có màu vàng ruộm, hoặc hơi xám vì họ cho rằng như thế mới là miến mộc (không tẩy). Để có được những mẻ hàng màu đẹp như yêu cầu, bột sau khi tẩy xong sẽ được pha màu bằng nước hàng hoặc ô xít sắt - loại chất tạo màu không được sử dụng trong thực phẩm.

Miến phơi ngoài nghĩa trang

Càng sát Tết thì hàng đặt càng nhiều, nhân lực được huy động tối đa. Mọi ngóc ngách đều được tận dụng để chất hàng và phục vụ sản xuất. Sân nhà nào cũng chất ngất những bao bột dong riềng. Đôi khi những bao bột này lại được trưng dụng làm bậc để thợ bước lên các khu chất đồ hay lò tráng.
Do các mẻ hàng được làm liên tục, nên kể cả những thùng phi gỉ sét cũng được huy động ngâm bột. Những chiếc thùng tôn, sắt mới cũng cáu bẩn vì lâu ngày chưa được cọ rửa.

Những phên tre để phơi bánh tráng mốc xanh, bám đầy bột, bị vứt chỏng chơ trên nền đất, gác chuồng lợn hôi hám. Nhưng khi bánh tráng ra khuôn, chúng sẽ được dùng làm giá phơi.
Miến mới thái sợi được phơi trên sân thượng, bãi cỏ, sân bóng, ngay cạnh bờ sông đầy rác và hôi hám.
Bất cứ nơi đâu cũng có thể thành sân phơi từ đường tàu, nghĩa trang hay ngay cạnh bãi rác thải.

Bánh tráng được phơi ngay trên những nấm mồ.

Người viết đã chứng kiến dân phơi bánh tráng cùng với những túi nilong bẩn của một xưởng sản xuất nhựa. Bánh nằm la liệt dọc đường đi, sân bóng bụi bay mịt mù, và thậm chí chó còn...tè ngay cạnh phên bánh.
Những năm trước đây, người làng Tó thường lấy ngay nước sông Nhuệ để làm miến. Giờ thì nước sông quá ô nhiễm, đen và đặc quánh bùn rác, hơn nữa do lượng hàng làm nhiều nên nhà nào cũng đào giếng khoan. Nước làm miến giờ là nước giếng khoan không qua xử lý, nhưng thế cũng là sạch lắm rồi.


Không còn sản xuất thủ công, dây chuyền làm miến ở Tó đã hiện đại hơn nhiều. Tất cả quy trình từ đánh bột, tráng bánh đến thái miến đều bằng máy. Nên mỗi gia đình một ngày cũng sản xuất được vài ba tạ. Rồi từ đó hàng được chuyển đi khắp mọi miền.
Nhưng Tết đến, hầu như nhà nào cũng làm riêng một mẻ miến "mộc", nghĩa là không thuốc tẩy, không bột màu để đem biếu người thân và để nhà dùng. Bởi chính những nhà sản xuất cũng cảm thấy "rợn" về công nghệ làm miến của mình.


**

Khoảnh đất còn lại

(ANTĐ) - Làng miến Cự Đà, Thanh Oai, Hà Nội đứng trước nguy cơ bỏ nghề. Không có cơ quan nào hướng cho người dân làng nghề biện pháp bảo vệ môi trường, mà chỉ phạt khi gây ô nhiễm môi trường. Hơn nữa đất đai đã bị phân lô, các khu chung cư đang mọc dần về ngôi làng cổ kính khiến cho làng nghề phải đem miến ra nghĩa địa phơi. Nghĩa địa là nơi an nghỉ của ông cha đời đời kiếp kiếp đã từng làm miến, sinh sống bằng nghề miến nay không còn cách khác để giữ nghề người dân phải chọn nơi này làm chỗ để phơi miến mưu sinh, nghề không bị mai một.

Chị Nguyễn Thị Thu, ở làng Cự Đà, nhà có 3 đời làm miến nói: “Không phơi ở đây thì biết phơi đâu, giờ chỉ có bãi nghĩa địa mới khoảng trống, có nắng”

Mang miến khô về đóng gói

Miến phủ vàng khắp nghĩa địa, nơi duy nhất để duy trì làng nghề

Mỗi mẻ phơi từ 2,3 tiếng thì khô, và phải đảo liên tục trong khi phơi để miến khô đều

Quỹ đất hẹp, cho nên những điểm như này rất lý tưởng đối với làng nghề làm miến cần không gian rộng để phơi phóng

Không gian để làm nghề bị thu hẹp, nhu cầu miến tăng cho nên không còn cách làm nào khác

Làm miến bằng...chân

Thường nhật ở làng nghề

Ánh Nguyệt

http://www.baomoi.com/Home/AmThuc/www.anninhthudo.vn/Khoanh-dat-con-lai/2958487.epi?refer=anninhthudo

***


Café VN: Sản Phẩm Dối Trá XHCN/VC


Tham khảo: Co Pham, Diễn Đàn X-cafeVN 2009/09/20
http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?p=372451#post372451

Cách đây ít lâu, tôi tình cờ đọc được một nghiên cứu thị trường, trong đó thể hiện rằng người Việt Nam rất tự hào là có một ly cà phê "đậm, đắng, đặc quẹo mà người nước ngoài không uống được".
Thế nhưng, họ không biết rằng niềm tự hào của họ được xây từ những điều dối trá.
Để bắt đầu, tôi có thể nói sơ lược như sau : về nguyên thuỷ thì ly cà phê thường được uống nóng. Rồi dân ta, đặc biệt dân Nam, với thói quen thưởng thức dễ dãi của mình, chuyển qua uống đá. Từ đây, loại cà phê nguyên chất không còn được ưa chuộng nữa : trong nước đá, nó loãng ra và không đủ đắng, còn mùi hương thì bị ức chế bởi nhiệt độ thấp.

Và thế là các nhà sản xuất tìm đủ mọi cách để tăng đắng và tăng mùi hương.
Nhưng cuối cùng, Trung Nguyên đã trở thành nhà phát minh vĩ đại nhất trong lịch sử chế biến cà phê Việt Nam, với việc cho thuốc ký ninh vào cà phê với liều lượng cao. Một biện pháp hết sức rẻ tiền và hiệu quả.
Song song đó, VN đã tiên phong trên con đường trộn hương nhân tạo nồng độ cao vào cà phê để tăng hương. Xét về mặt sức khoẻ, điều này cũng không hại lắm, nếu như không có mặt của một chất cầm hương, đó là gelatin. Vốn dĩ gelatin được sản xuất từ da và xương trâu - bò, và đủ tiêu chuẩn làm thực phẩm thì rất đắt, nên VN đã sử dụng gelatin TC làm nền cầm hương.
Và thứ này thì hiển nhiên là không dùng được cho thực phẩm, vì nó chứa rất nhiều preservatives.
Thế nhưng, những điều đó của riêng Trung Nguyên thì không có gì đáng nói. Điều đáng nói là khi ly cà phê VN được coi là tiêu chuẩn, thì tất cả các cơ sở sản xuất cà phê khác đều noi theo tấm gương sáng này, nếu không thì không bán được.
Và như thế, không ngoa khi nói rằng, VN đã đẩy ly cà phê Việt vào một ngõ cụt dối trá.
P/S : Nếu bạn không tin, cứ dùng phin pha một ly cà phê VN bằng nước lạnh, rồi nếm thử cà phê nước ấy xem có vị gì.
Ký ninh từ lâu đã được sử dụng làm tác nhân gây đắng trong thực phẩm, và với hàm lượng nhỏ thì nói chung là an toàn. Tuy nhiên, lượng ký ninh được sử dụng trong cà phê TN nói riêng và TẤT CẢ CƠ SỞ cà phê ở Việt Nam nói chung là ở mức khoảng 0,06~0,08 g/kg thành phẩm, tức khoảng 0,0015g~ 0,002g cho mỗi phin.

Ở mức này, thì việc uống cà phê lâu dài sẽ dẫn tới triệu chứng cinchonism, tức ngộ độc ký ninh, bao gồm dị ứng trên da, ù tai, chóng mặt, giảm chức năng nghe và nhiều triệu chứng mang tính cơ hội khác.


Còn chuyện bạn hỏi về "tại sao không có ai lên tiếng" - well, Chi cục Y tế dự phòng Đaklak biết rõ mọi chuyện ày - nhưng ở Việt Nam nói chung trong mọi vấn đề đều rất khó lên tiếng, và luôn luôn có một kênh nào đó để "bịt". Cho nên, điều nhỏ nhất mà tôi nghĩ có thể làm được là tự mình không uống cà phê, và khuyến khích những người mình biết không uống cà phê.
Tôi chỉ nói những gì tôi chắc chắn hiểu rõ. Tôi không có ý vơ đũa cả nắm. Và cũng hy vọng các bạn không nghĩ thế.

Nhưng về sự giả dối trong ly cà phê Việt Nam, có lẽ các bạn cần hiểu rõ hơn một chút.
So với cách uống cà phê ở phương Tây, thì ly cà phê Việt được uống theo kiểu dễ dãi : cứ mỗi phin cà phê pha ra khoảng 40 ml, được đổ vào một ly nước đá khoảng 180 ml.
Và chính nước đá mới là nguồn gốc của mọi tai hoạ.


Một ly cà phê nguyên chất không đủ đắng để có thể cảm nhận được vị đắng trong chừng ấy nước đá. Nhiệt độ thấp sẽ ức chế sự bay hơi của hương cà phê tự nhiên. Và cảm quan nó không đủ độ sánh để không bị tan loãng ra trong chừng ấy nước đá.
Cho nên, trước Trung Nguyên từ lâu, thì cách hoàn thiện một ly cà phê đá đã bao gồm 3 việc : tăng đắng cho cà phê, tăng mùi hương cho cà phê, và tăng độ sánh cho cà phê.


Cách chế biến truyền thống như sau : Để tăng đắng, người ta thường dùng hạt cau rang. Để tăng mùi, người ta thường dùng nước mắm nhĩ. Còn để tăng độ sánh, người ta dùng đường nấu thành caramel.
Trung Nguyên chỉ là nhà sản xuất đưa ra những giải pháp hiệu quả nhất, và biến nó thành chuẩn mực "cà phê ngon" mà thôi.
Điều đáng nói nhất là khi nó đã thành chuẩn mực, thì sự giả dối nghiễm nhiên lộng giả thành chân.

Về phía các cơ sở sản xuất, thì họ nghĩ - khi những chỉ tiêu chất lượng quan trọng bậc nhất của cà phê - độ đắng, mùi hương, độ sánh - đều là hàng giả, thì việc gì họ phải dùng cà phê thật làm gì ?
Về phía người uống, khi đã quen với thuốc ký ninh và đường caramel, họ mất khả năng thưởng thức cà phê ngon thực sự. Và tôi tin chắc rằng, nếu được uống một ly cà phê Blue Mountains hay Hawaii Kona, họ sẽ chửi thề.
Và thế là người Việt, đa phần, đều gật gù trước một ly nước màu đen, pha từ đậu nành hay bắp rang, trộn với caramel, hương liệu, thuốc ký ninh và nghĩ rằng họ đang uống thứ cà phê "có văn hoá đặc biệt nhất thế giới".
Đến đây chính là một ngõ cụt - Ngõ Cụt Dối Trá.


Câu hỏi cuối cùng - chính xác ai phải chịu trách nhiệm cho tình trạng đó ? Sự dễ dãi của người uống ? Sự xu thời của Trung Nguyên ? Hay là trình độ quản lý chất lượng thực phẩm của Nhà nước ?
PS : Một điểm cuối cùng, bạn uống ly cà phê Việt, cảm thấy nôn nao, tim đập mạnh, thì đấy có khả năng là ngộ độc ký ninh chứ không phải là do tác dụng kích thích trí não của cà phê như bạn vẫn nghĩ.


No comments: