Sunday, December 20, 2009

HOÀNG HẢI THỦY * NGUYỄN MẠNH CÔN

Môi Thắm Nửa ĐờiMôi Thắm Nửa Đời

Hoàng Hải Thủy

Mong Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử
Hòa Bình chưa kịp Nghĩ,
Đi tù,
Ba Lính Nhẩy Dù còn Lâm Nạn
Huống gì mỗi thân Kỳ Hoa Tử.


Đó là thơ Phan Nhật Nam làm về Nhà Văn Nguyễn Mạnh Côn. Một trong những tác phẩm đầu tay của anh NM Côn — viết năm 1956, 1957 — là Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử, ghi lại những cảm nghĩ của anh về tình hình chính trị đất nước từ những năm 1945 dến năm 1954; sau Hiệp Định Paris năm 1972 anh viết Hòa Bình Nghĩ Gì? Làm Gì? Tác phẩm này được tái bản tại Hoa Kỳ. Anh Côn là tác giả những truyện Ba Người Lính Nhẩy Dù Lâm Nạn, Kỳ Hoa Tử, Tình Cao Thượng, Mối Tình Mầu Hoa Đào. Tháng Ba 1976 anh bị bắt trong đợt bọn VC khủng bố văn nghệ sĩ Sài Gòn.

Năm 1977 khi vào sà-lim Nhà Giam Số 4 Phan đăng Lưu tôi nhìn thấy anh Côn ở Phòng Tập Thể 1 Khu B nhà giam này. Vài ngày sau là ngày chủ nhật, tôi ở sà-lim nhìn qua cửa gió ra sân thấy anh, và những bạn tù phòng anh, được cai tù cho ra ngồi phơi nắng ở trước cửa phòng giam, rồi anh Côn bị đưa lên Trại Lao Đông Cải Tạo Xuyên Mộc. Cuối năm 1979 trở về mái nhà xưa, tôi được tin anh đã chết trên Trại Xuyên Mộc. Nghe anh em tù Xuyên Mộc kể người tù Nguyễn Mạnh Côn tự cho án tù của anh là ba năm, đã ở tù đủ ba năm, anh đòi bọn VC phải cho anh ra tù. Không được, anh tuyệt thực. Học mót thủ đoạn đàn áp tù nhân của bọn đàn anh Nga Cộng, Tầu Cộng, bọn Cai Tù Việt Cộng đối xử với người tù dám tuyệt thực để phản kháng hết sức ác độc, dã man. Để cho những người tù khác kinh sợ chúng lập tức giam riêng và không cho người tù tuyệt thực uống nước đến chết. Người ta có thể nhịn ăn mà không thể nhịn uống, người ta có thể nhịn ăn đến lả đi và chết nhưng không thể chịu được khát. Bọn Cai tù VC Xuyên Mộc đã thản nhiên bắt người tù Nguyễn Mạnh Côn phải chết khát và chúng lấy làm khoái chí, thích thú, kiêu hãnh với việc làm man rợ của chúng. Anh Nguyễn Mạnh Côn là văn nghệ sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã chết vì tuyệt thực trong tù để phản đối chính sách tù đầy dã man của chế độ Cộng Sản Việt Nam.

Bánh xe lãng tử muộn màng — đúng ra là “bánh xe tị nạn” — đưa tôi sang Mỹ cuối năm 1994, khi ấy Duyên Anh sống ở bên Pháp. Nhưng mãi đến những năm 2000, sau khi Duyên Anh đã qua đời, tôi mới đọc mấy văn phẩm DA viết và cho in ở nước ngoài: Nhà Tù, Trại Tập Trung, Ngược Dòng Chữ Nghĩa, Quán Trọ Trước Cổng Thiên Đường … vv..

Trên một trang của những văn phẩm đó Duyên Anh viết: “..Thời ấy, Hoàng Hải Thủy là ông vua không ngai của nhật báo Ngôn Luận…!” Chưa bao giờ tôi có ý nghĩ tôi là “ông vua không ngai” của bất cứ tờ báo nào, tôi biết thân phận tôi: tôi chỉ là anh làm công, nhờ có chút tài còm, và lòng yêu nghề, tôi làm được việc, việc tôi làm xứng đáng với đồng tiền những ông bà chủ báo chi cho tôi, nên tôi được các ông bà ấy nể trọng đôi chút. Trong nhiều năm Duyên Anh và tôi giao du với nhau, khá thân, chẳng bao giờ DA nói xa gần đến chuyện có thời tôi là “ông vua không ngai” của nhật báo Ngôn Luận. Sau cuộc biển dâu trập trùng oan nghiệt, sau những năm tháng đằng đẵng tội tù, đến những ngày cuối đời sống lưu vong ở xứ người, đọc lời người bạn nhận xét về mình, tôi thấy quả thật có một thời gian mấy năm tôi được trọng dụng ở nhật báo Ngôn Luận. Không phải tự nhiên hay vì cảm tình mà ông Hồ Anh, chủ báo Ngôn Luận, trọng dụng tôi, ông dùng tôi vì tôi viết ăn khách, vì truyện tôi đăng trên báo ông có người đọc. Vì vậy ông để tôi viết tiểu thuyết phóng tác ở trang trong, viết phóng sự tếu ở trang nhất. Tôi đã viết những tiểu thuyết phóng tác hay nhất của tôi trên nhật báo Ngôn Luận: “Chiếc Hôn Tử Biệt, Như Chuyện Thần Tiên, Kiều Giang, Đỉnh Gió Hú, Đi Tìm Người Yêu, Bóng Người Áo Trắng..vv”, và ở trang nhất nhật báo Ngôn Luận tôi viết những phóng sự Tây Đực, Tây Cái — sau đổi là Ông Tây, Bà Đầm theo yêu cầu của Bộ Thông Tin, nhân viên Bộ Thông Tin thời ông Bộ Trưởng Trần Chánh Thành nói với ông chủ nhiệm Ngôn Luận: “Gọi người Pháp bằng cái tên Đực, Cái.. hạ giá người ta quá, nghe không được, không nên.” — và những cái gọi là phóng sự Yêu Tì, Bà Lớn vv.. Trong 20 năm làm báo ở Sài Gòn — từ 1954 đến 1975, tôi không thấy có ai vừa viết tiểu thuyết trang trong, vừa viết phóng sự trang nhất cùng một tờ báo như tôi.

Cũng trên một trang trong những văn phẩm Duyên Anh viết ở nước ngoài, trong phần viết về tôi, anh viết “..Nguyễn Mạnh Côn viết Tựa cho tiểu thuyết của Hoàng Hải Thủy..”

Khi đọc câu ấy tôi nghĩ: “Viết bậy rồi.. Làm gì có chuyện Nguyễn Mạnh Côn viết tựa cho tiểu thuyết của Hoàng Hải Thủy. Chuyện ấy không có..” Tiểu thuyết của tôi đa số — có thể nói là tất cả — là truyện phóng tác, tôi chỉ viết để người đọc giải trí, truyện giải trí thì làm gì có Tựa. Nếu Duyên Anh còn sống, có thể tôi phôn cho anh: “Mày viết sai. Nguyễn Mạnh Côn có bao giờ viết Tựa cho tao đâu. Truyện của tao mà Tự Tiếc ký gì..” Dù cho Duyên Anh có nói: “Mày quên à? Nguyễn Mạnh Côn chẳng viết Tựa truyện Môi Thắm Nửa Đời của mày là gì” tôi cũng vẫn không tin, vẫn không nghĩ là tôi quên.

Quả thật tôi quên khuấy đi mất chuyện anh NM Côn viết lời Tựa cho truyện Môi Thắm Nửa Đời của tôi — năm xưa nhiều bạn văn nghệ của tôi gọi truyện ấy là truyện “Môi Thắm Nửa Đùi”– Quên hoàn toàn, quên năm trăm phần trăm. Cho đến đêm nọ, tôi thấy trong số sách con tôi vừa gửi người mang từ Sàì Gòn sang cho tôi có quyển Môi Thắm Nửa Đời. Sách đã cũ nát, giấy ngả mầu vàng, trang nhất có hàng chữ:

“Nguyễn Thụy Long tìm lại được ở hàng sách cũ. Tặng lại anh Hoàng Hải Thủy.” Sg 28 / 4 / 2003

Và ở trang ba có bài:

THAY LỜI TỰA của NGUYỄN MẠNH CÔN
Giữa những người cầm bút Việt Nam hôm nay có lẽ Hoàng Hải Thủy là người có nhiều điều kiện thuận lợi nhất, mà cũng đồng thời thiệt hại nhất — là người được yêu mến rất nhiều, nhưng lại được hiểu biết thật ít.

Đẹp trai kiểu đàn ông, khỏe mạnh, vững vàng, HH Thủy ít nói, nhưng tiếng nói sang và trong, và có duyên — tất nhiên anh được phái đẹp để ý ngay khi bắt đầu nổi tiếng. Phái đẹp thích đọc những truyện tình đẹp, dù vui hay buồn, hay những phóng sự xã hội đầy những nhân vật trẻ, ham sống, yêu đời. Những tác phẩm của HH Thủy, do anh sáng tạo, hay phỏng dịch, đều theo nền nếp ấy.

Cả cuốn MÔI THẮM NỬA ĐỜI này cũng thế, mặc dù tôi bắt đầu thấy một cái gì khang khác.

Hoàng Hải Thủy là một trong những người mà tôi quí nhất, mà tôi trọng hơn cả trong các bạn đồng nghiệp của tôi. Hồi mới gặp nhau: ở gần nhau hàng nửa ngày, tôi không nghe Thủy nói xấu về bất cứ người cầm bút nào khác. Những ai quen biết nhiều nhà văn, nhiều ký giả, tất nhiên phải nhận đó quả thật là một hiện tượng kỳ dị, một biến cố trầm trọng — nói theo kiểu mác-xít.

Hoàng Hải Thủy đối với riêng tôi còn chứa đựng nhiều ngạc nhiên. Cuối năm 1965, ba tháng sau khi tôi cho in và phát hành cuốn “Mối tình mầu hoa đào”, anh đột nhiên hỏi tôi: “Tại sao chúng ta lại đau khổ?” Câu hỏi, lẩm cẩm trong những trường hợp bình thường, là một trong những câu hỏi thuộc loại căn bản, nói về triết học.

Thật là bất ngờ! Khi một cuốn sách về tư tưởng được in ra và phát hành rồi, tác giả của nó thao thức chờ đợi một lời phê bình, một cuộc thảo luận — một cuộc thảo luận hay một lời phê bình đúng theo ý muốn của người viết, không nhất thiết phải khen hay chê, mà chứng tỏ người đọc đã thật sự đọc hết và thật sự chú ý đến những ý kiến được trình bầy. Lẽ tất nhiên tôi đã thao thức mong chờ, nhưng tất cả các bạn đồng nghiệp của tôi không ai cho tôi cái hạnh phúc đó. Trừ Hoàng Hải Thủy.

HH Thủy hỏi tôi một câu đúng vào chỗ tôi thiếu sót. Một lý thuyết triết học, nếu đầy đủ, phải trả lời được tất cả mọi câu hỏi. Tôi đã tưởng lý thuyết “Phối ngẫu toàn bích” là đầy đủ. Không ngờ Thủy, bằng một câu hỏi ngắn, chỉ ngay cho tôi thấy một khoảng trống mênh mông mà mãi nửa năm sau tôi mới lấp đầy. Tôi nhờ thế mà biết anh đã đọc kỹ cuốn sách, đã suy nghĩ thêm nhiều về nội dung của nó. Anh lại phải có rất nhiều thiện cảm với tác giả, đồng thời cũng đồng ý nhiều phần với lý thuyết, mới nắm vững vấn đề, xem xét mọi khía cạnh, đủ để tìm thấy cái thiếu sót to lớn của nó. Như vậy, tuy không bao giờ nói ra, Hoàng Hải bắt buộc phải là một người có những suy tư triết học.

Nhu cầu và hưởng thụ lôi cuốn HH Thủy về một hướng đi khác, đến độ có anh Tổng thư ký một tờ báo văn chương nhất định không đăng — và không đọc — bài của HHThủy. Trong sự nhận xét bình thường của người chuyên nghiệp, có lẽ HH Thủy có trẻ mà không có mới, có giá trị mà không kỳ lạ, nên không xứng đáng đứng ngang hàng với những nhà văn tên tuổi. Hoặc giả HH Thủy không tự khoe mình, không chửi bới, không đòi hỏi…

Tôi tìm hiểu HH Thủy từ khi tôi quen anh. Nhưng tôi chỉ mơ hồ bắt đầu có một ý niệm về anh sau khi đọc hết tập MÔI THẮM NỬA ĐỜI đăng trên nhật báo. Sáng tác này của HH Thủy chắc chắn có mang nhiều tâm sự của anh. Rất nhiều đoạn diễn tả tế nhị và sâu sắc tâm lý của hai nhân vật chính. Nhưng cũng có nhiều đoạn thừa, về phương diện nghệ thuật, nhưng lại được nhà xuất bản yêu cầu giữ lại, về phương diện tiêu thụ: đó là hai thiếu nữ, dù có mặt hay không, cũng không làm cho câu truyện đổi khác.

MÔI THẮM NỬA ĐỜI thành ra chứa đựng đầy đủ những nét phức tạp của sự lần mò đổi hướng đi của một nghệ sĩ không bằng lòng với hiện tại của mình (mà nhiều người khác ao ước). Sự tìm kiếm chân phương, thành thật, của HH Thủy khiến cho chúng ta cảm động. Nhưng người nghệ sĩ trên con đường nghệ thuật luôn luôn cô đơn trong kiêu hãnh: không ai giúp được HH Thủy việc gì, ngoài chính anh.

Riêng phần tôi, có lẽ tôi đã tưởng tượng thấy công trình của HH Thủy sau này. Con người của anh chấp nhận triết học nhưng từ chối chính trị. Anh được lợi nhiều về vật chất, như hầu hết chúng ta. Nhưng chiến tranh kỹ thuật lấn áp và đè nén tâm hồn anh. Vì thế, tôi nghĩ anh sẽ chỉ lớn lên trong hoà bình, trong công cuộc vĩ đại của những người xây dựng thái bình cho tâm hồn con người.

Tôi có nói quá hay không, chúng ta phải chờ đợi nhiều năm mới biết được. Tôi thấy tự xét mình đã khó, xét bạn còn khó hơn — nhưng ngay bây giờ tôi đã đinh ninh rằng cuốn MÔI THẮM NỬA ĐỜI là một dấu hiệu báo trước sự nghiệp tinh thần của một HOÀNG HẢI THỦY không phải chỉ viết truyện tình cảm cho người Việt Nam chúng ta đọc mà thôi.

NGUYỄN MẠNH CÔN
29 tháng X, 1969

Té ra anh Nguyễn Mạnh Côn có viết Tựa cho truyện của tôi mà tôi quên mất. Cả đời viết truyện của tôi chỉ có một người viết bài Tựa cho một truyện của tôi, người viết bài Tựa duy nhất đó là anh Nguyễn Mạnh Côn và tác phẩm tiểu thuyết duy nhất của tôi có bài Tựa là truyện Môi Thắm Nửa Đùi, xin lỗi, Môi Thắm Nửa Đời.

Xứ người, đêm khuya, phòng ấm, đèn vàng, yên lặng sáu trăm phần trăm, an ninh tối đa, tôi nằm với quyển sách cũ — những trang truyện được viết, được in năm 1969, ở Sài Gòn, thành phố thủ đô thương yêu của tôi mà tôi đã để mất. Tôi bùi ngùi đọc những dòng anh NM Côn viết về tôi, tôi thương anh khi đọc những dòng anh viết về sự chờ đợi và nỗi thất vọng của anh khi anh không có qua một người nào nói gì với anh về những tác phẩm của anh, không một người nào cho anh thấy họ có đọc tác phẩm của anh, dù chỉ là đọc qua loa, đọc không đến nơi, đến chốn. Tôi thương anh khi anh than thở:

“…Khi một cuốn sách về tư tưởng được phát hành rồi, tác giả của nó thao thức chờ đợi một lời phê bình, một cuộc thảo luận — một cuộc thảo luận hay một lời phê bình đúng theo ý muốn của người viết, không nhất thiết phải khen hay chê, mà chứng tỏ người đọc đã thật sự đọc hết và thật sự chú ý đến những ý kiến được trình bầy. Lẽ tất nhiên, tôi đã thao thức mong chờ, nhưng tất cả các bạn đồng nghiệp của tôi không ai cho tôi cái hạnh phúc đó. Trừ HOÀNG HẢI THỦY.”

Những năm 1965, 1966, anh NM Côn viết quyển “Tình Cao Thượng” và “Mối Tình Mầu Hoa Đào”. Lâu quá tôi không nhớ là quyển nào, khi biết anh có sách mới tôi đến nhà anh, trong Cư Xá Chu Mạnh Trinh, đầu đường Chi Lăng, Phú Nhuận, để xin anh một quyển. Buổi sáng, anh đang ngồi viết. Nghe tôi hỏi xin sách, anh ngần ngừ, hỏi tôi:

- Ông lấy sách của tôi mà ông có đọc không?

Tôi trả lời anh:

- Tôi đọc chứ.

Anh lấy sách trong ngăn kéo bàn ra ký tặng tôi một quyển. Khi ấy chắc anh không tin mấy ở lời tôi nói là tôi sẽ đọc sách của anh. Nhưng tôi đọc anh thật. Tôi vào đời sớm, tôi thiếu cái học ở nhà trường, tôi vẫn cặm cụi, kiên trì tự học bằng cách đọc sách. Tôi mến anh Côn nên tôi đọc thật kỹ sách anh viết. Tôi hy vọng học được vài điều hay hay trong sách của anh. Văn anh trong hai quyển “Tình Cao Thượng, Mối Tình Mầu Hoa Đào” khó hiểu thấy mồ đi, hai quyển đó không hẳn là sách Triết mà cũng không phải là tiểu thuyết. Phải là người từng đọc nhiều, thích đọc, có chút hiểu biết về triết học mới có thể nhá nổi những trang sách của anh. Tôi đọc anh, suy nghĩ và ghi nhớ những đoạn tôi thấy có vấn đề, những đoạn tôi có thể có ý kiến, tôi đọc, tự hỏi rồi tôi tự dặn: “Ông ấy viết thế này là nghĩa lý ra làm sao đây? Phải chăng mình có thể hiểu là ông ấy muốn nói như thế này? Mình sẽ nói với ông ấy ông ấy viết như thế mình hiểu như thế. Nhưng mình có ý kiến vấn đề phải như thế này..vv..”

Tôi không thể bốc anh NM Côn viết hay, tôi cũng không thể phản bác những gì anh viết, nhưng tôi có thể cho anh thấy tôi có đọc anh, những gì anh viết làm tôi suy nghĩ, và tôi suy nghĩ như thế này. Chỉ thế thôi đã đủ làm anh sung sướng. Anh sẽ nói cho tôi biết anh viết như thế nghĩa là gì, anh muốn nói gì khi anh viết như thế, tại sao anh lại viết như thế, chỉ có tôi vừa là đàn em vừa là bạn đồng sàng, đồng tịch, đồng bàn đọi, bàn đèn với anh, văn huê là anh với tôi cùng là lính của Cô Ba Phù Dung, nôm na là tôi hít tốp, tức hít tô phe, lại tức hút thuốc phiện như anh Côn, tôi từng nằm bàn đèn với anh Côn. Một hôm anh bảo tôi:

- Có thằng Coón, trước làm thuốc ở tiệm Thủy Kính Trắng, thời tôi chơi ở đó tôi có giúp đỡ nó, nay nó mở tiệm., nó mời tôi đến chơi. Mình sẽ đến đó chơi.

Tôi theo anh Côn đến tiệm A Coón ở Khu Bàn Cờ. Anh Côn chơi rất hách, hút không trả tiền ngay mà ghi sổ, nửa tháng, một tháng anh chi một lần. Khi chi tiền, chủ tiệm nói bao nhiêu, anh trả ngần ấy, không bao giờ anh théc méc sao nhiều thế, làm gì mà nhiều thế? Tôi đến tiệm A Coón hút với anh, anh gọi thuốc cho tôi tha hồ hút, anh hút một thì tôi hút hai, anh nói:

- Tôi có bàn đèn ở nhà. Về nhà tôi còn hút được, ông không có, ông hút cho đủ đi.

Tiệm A Coón, cũng như đa số những tiệm á phiện ở Sài Gòn những năm 1960, 1975, thường là một căn gác không có bàn ghế, giường tủ gì cả, chỉ có ba bốn cái chiếu trải trên sàn. Thường là hai bàn đọi, chỉ những ông khách đang hút mới được nằm bên bàn đèn, những ông khách hút rồi chưa muốn về, còn nằm tình tang hay chờ hút thêm mấy bi nữa, phải ra nằm ở mấy cái chiếu không có bàn đèn. Anh Côn bảo tôi:

- Đi chơi mình phải nằm bên bàn đèn mới thú. Tôi với ông mà ra nằm ở cái chiếu kia thì chán chết.

Nằm bên khay đèn là phải gọi thuốc hút. Vì vậy khi có tôi đến, anh Côn vui vì có người nói chuyện với anh, anh gọi thuốc lu bù dù chúng tôi đã hút quá đô, để anh và tôi có quyền nằm bên bàn đèn. Và tôi cứ hút ra rít. Và hút như thế là tôi tăng đô, đang hút một ngày một trăm đồng, làm nhật báo Tin Báo với anh Côn, Tin Báo do anh làm chủ nhiệm, ngày nào cũng đi hút với anh, tôi hút lên ba trăm đồng một ngày. Ba tháng báo chết, anh Côn nằm nhà, tôi đi hút một mình, không còn ông anh chi tiền nữa, tôi méo mặt.

Anh Côn và tôi thường đi ăn cơm Tây ở nhà hàng Kim Hoa, đường Lê Lợi, canh rạp xi-nê Casino de Saigon. Anh Côn đi công việc trong buổi sáng, đến tiệm lúc 12 giờ trưa, tôi cũng thường đến vào giờ đó. Chúng tôi nằm hút đến bốn, năm giờ chiều mới đi ăn. Chúng tôi chỉ ăn cơm Tây ở tiệm Kim Hoa, và bao giờ chúng tôi cũng chỉ ăn có ba món: consommé chaud, bánh mì ăn với beurre frais, mỗi người chỉ một miếng beurre nhỏ bằng nửa cái hộp quẹt, và beefsteak khoai chiên. Tôi uống một chai 33, anh Côn uống nước trà, ăn xong chúng tôi làm hai ly cà phê, anh Côn cà phê sữa, tôi cà phê đen. Bữa nào cũng y boong như thế. Một lần chúng tôi gặp Mai Thảo ở Kim Hoa. Mai Thảo nói:

- Ăn bíp-tết ở đây chúng mày phải ăn bíp-tết tỏi!

Lần sau chúng tôi gọi bíp-tết tỏi. Nhưng chúng tôi không thích, tỏi nhiều quá làm mất mùi thịt bò. Anh Côn nói:

- Mình thích ăn gì mình cứ ăn món đó thôi. Đừng có nghe lời người khác.

Từ năm 1970 anh Côn vẫn viết đều cho báo, cho Đài Phát thanh Quốc gia, từ năm 1970 đời sống kinh tế của anh khá hơn nhờ anh được Tướng Cao Văn Viên nể trọng và giúp đỡ, anh thầu cung cấp những món nho nhỏ cho Bộ Tổng Tham Mưu và cơ sở Hoa Tình Thương của bà Cao Văn Viên. Nhờ những khoản thầu này anh có tiền, nhà có tô-lô-phôn, anh mua lại căn nhà lầu của Phạm Duy cũng trong cư xá Chu Mạnh Trinh. Chưa trả hết tiền nên Phạm Duy chưa làm giấy sang tên nhà cho anh. Ngày 30 Tháng Tư đen như mõm chó đến, Phạm Duy đi mất, anh Côn bị cộng sản bắt và chết trong tù, tôi không biết tình trạng căn nhà của anh về sau ra sao.

Ngày 26 hay 27 Tháng Tư 1975 tôi đến tìm anh Côn ở tiệm Sơn Cụt hẻm chùa Vạn Hạnh đường Trương Minh Giảng. Tôi nói:

- USIS đưa gia đình tôi sang Mỹ. Tôi đến chào anh.

Anh nói:

- Ông đi bình an.

Và anh nói:

- Tôi không tin Việt Cộng vào được Sài Gòn. Nhưng Sài Gòn sẽ phải qua một cuộc tắm máu chắc là khủng khiếp lắm.

Buổi trưa ấy tôi chưa ra khỏi tiệm Sơn Cụt thì anh chị Vũ Hoàng Chương đến. Anh Chương yếu nhiều, anh bận áo dài ta trắng, anh đi đâu đều có chị Chương đưa đi, ông bà thi bá đi bằng xe xích-lô đạp. Anh chị đến tiệm Sơn Cụt lấy thuốc.Tôi cũng nói với anh chị Chương chuyện USIS đưa gia đình tôi sang Mỹ và tôi chào tạm biệt anh chị. Khi tôi bắt tay anh Chương để đi khỏi đó, anh Chương nói:

- Tôi bắt tay cậu lần này chắc là lần trót.

Như lời anh Chương nói, đó là lần cuối cùng tôi gặp anh Chương, lần cuối cùng tôi bắt tay anh.

“Nhu cầu và hưởng thụ lôi cuốn HH Thủy về một hướng đi khác, đến độ có anh Tổng thư ký một tờ báo văn chương nhất định không đăng — và không đọc — bài của anh.”

Anh Tổng thư ký ấy là anh Trần Phong Giao, tờ báo văn chương ấy là tờ Văn. Trong những năm Trần Phong Giao làm tờ Văn, tôi không gửi bài nào đến báo Văn, tôi không bao giờ tự nhận tôi là “nhà văn”, tôi chỉ nhận tôi là người viết truyện, văn huê là tiểu thuyết gia, người viết tiểu thuyết.

Tháng Bẩy năm 1977 tôi bị bắt vào Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, Trung Tâm Thẩm Vấn Nhân Dân của bọn Công An VC Thành Hồ chuyên bắt nhân dân. Vào sà-lim chiều thứ bẩy, sáng chủ nhật nhìn qua khung cửa gió sang hai phòng giam tập thể đối diện tôi nhìn thấy anh Côn trong một phòng. Phòng giam tập thể khu B Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu không có chấn song mà có cửa lưới sắt, tôi nhìn thấy anh Côn ngồi sau khung cửa lưới sắt ấy. Anh và tôi trao đổi với nhau được vài câu. Sáng chủ nhật sau, phòng anh Côn được Cai Tù mở cho tù ra lối đi ngồi phơi nắng chừng nửa giờ. Qua cửa gió sà-lim, tôi trông thấy toàn thân anh Côn. Anh râu bạc, tóc bạc, da xanh lướt như mầu lá chuối non, anh bận bộ đồ ngủ mầu nâu đã cũ. Anh ngồi dựa lưng vào tường, cách chỗ tôi đứng sau cánh cửa sắt nhìn anh khoảng mười thước, tôi nghe tiếng anh, không phải ngâm, mà nói:

- Chí ta ta biết, lòng ta ta hay.
Nam nhi ý khí như hồ thỉ
Hà tất cùng sầu với cỏ cây..!

Đấy là lần cuối cùng tôi nhìn thấy anh Côn, lần cuối cùng tôi nghe tiếng anh nói. Vài ngày sau, vào lúc tám, chín giờ tối, cửa gió sà-lim bị đóng, tôi nghe bên ngoài có tiếng gọi tên những người tù, tiếng người lao xao. Bọn cai tù tập trung những người tù đi trại tù khổ sai vào một phòng, sáng mai lên xe đi sớm. Anh Côn đi khỏi Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu trong đợt đó. Hai năm sau, năm 1980, tôi trở về mái nhà xưa, được tin anh Nguyễn Mạnh Côn đã chết trên trại tù khổ sai Xuyên Mộc. Tù được ba năm, anh Côn cho là hạn tù của anh đã hết, anh đòi cai tù phải trả tự do cho anh. Không được, anh tuyệt thực phản đối. Bắt chước cách trấn áp tù nhân của bọn Nga Cộng, Tầu Cộng, bọn cai tù Xuyên Mộc lập tức biệt giam người tù tuyệt thực Nguyễn Mạnh Côn, chúng không cho anh uống nước, chúng giết anh để làm người người tù khác sợ không ai dám tuyệt thực.

Anh Nguyễn Mạnh Côn chết ở trại tù khổ sai Xuyên Mộc năm 1979. Đến nay, mùa thu 2009, thời gian qua đã 30 năm. Hôm nay viết về anh, tưởng nhớ anh, tôi thấy ẩn hiện hình ảnh anh: người tù già, râu bạc, tóc bạc, xanh lướt, bộ quần áo ngủ mầu nâu bạc mầu, ngồi dựa lưng vào tường bên lối đi trong nhà tù cộng sản. Kỷ niệm của tôi với anh Côn thật nhiều, tôi không thể kể hết trong bài này. Mỗi lần nhớ đến chuyện anh và tôi cùng chịu cảnh tù đầy, anh và tôi nhìn thấy nhau trong ngục tù cộng sản, tôi thường nhớ lại một thời hai anh em tôi hút ở tiệm Đinh Quát, cũng trong hẻm Vạn Hạnh đường Trương Minh Giảng. Anh Triều Đẩu hay lui tới tiệm này. Những năm 1950 ở Hà Nội, anh Triều Đẩu viết phóng sự “Trên vỉa hè Hà Nội” khá hay, có duyên, tử vi của anh có “thất sát triều đẩu” nên anh lấy bút hiệu Triều Đẩu. Anh xem tử vi cho anh Côn và tôi, theo tử vi hai chúng tôi càng ngày càng có danh, kiểu “sống lâu lên lão làng”. Nếu Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa còn, tất nhiên chúng tôi, hoặc ít nhất là anh Nguyễn Mạnh Côn, sẽ “sống lâu lên lão làng”, càng ngày càng có tiếng. Nhưng anh Nguyễn Mạnh Côn đã chết thảm khốc trong ngục tù cộng sản.

Dường như — tôi không nói chắc — anh NM Côn là đảng viên Đảng Đại Việt Cách Mệnh Đồng Minh Hội, thường được gọi tắt là Việt Cách, anh là đại biểu của Đảng Việt Cách trong Quốc Hội Lâm Thời 1945-1946 ở Hà Nội. Anh nói với tôi:

- Khi ấy cần có một tuyên cáo về vụ đồng bào mình bị chết đói năm Ất Dậu, chúng tôi để con số người chết là 2 triệu người. Ước lượng thôi, hồi ấy mình có làm kiểm tra đâu mà biết được số người chết là bao nhiêu.

Anh Côn nói:

- Nước mình nghèo, chậm tiến, ít người, mình không thể nổi đình đám trên thế giới về mặt kỹ thuật, khoa học, phát minh nọ kia, nhưng tôi nghĩ mình có thể được thế giới biết đến nhờ văn học, nếu mình đưa ra được một lý thuyết triết học nào có giá trị.

Ngày 29 Tháng 10, năm 1969, anh NM Côn viết về tôi:

“Tôi có nói quá hay không, chúng ta phải chờ đợi nhiều năm mới biết được. Tôi thấy tự xét mình đã khó, xét bạn còn khó hơn — nhưng ngay bây giờ tôi đã đinh ninh rằng cuốn Môi Thắm Nửa Đời là một dấu hiệu báo trước sự nghiệp tinh thần của một Hoàng Hải Thủy không phải chỉ viết truyện tình cảm cho chúng ta đọc mà thôi.”

Từ ấy, năm 1969, đến nay năm 2009, đã qua bốn mươi mùa lá rụng, thời gian đã quá đủ để tôi thấy ông đàn anh Nguyễn Mạnh Côn của tôi đã “nói quá” về tôi. Đêm khuya, xứ người, phòng ấm, đèn vàng, yên lặng, úp quyển sách lên ngực, tôi nhắm mắt mơ màng: những buổi trưa tôi lên tòa soạn báo Chính Luận ngồi viết Môi Thắm Nửa Đời. Tôi viết bằng bút bi trên tờ giấy teletype của toà soạn dài như lá sớ, tôi viết bừa tăng tít, toàn chuyện những nhân vật trẻ yêu nhau, giận hờn nhau, thương nhớ nhau, những chuyện ăn chơi linh tinh lang tang ở Sài Gòn những năm 1960, Môi Thắm Nửa Đời là truyện không có cốt truyện. Tôi thầm nói với anh Côn:

- Ông ơi.. Ông kỳ vọng quá đáng ở tôi. Tôi viết tiểu thuyết cho người Việt Nam đọc giải trí còn chưa xong, sức mấy tôi viết được tiểu thuyết cho người thế giới đọc.

Tôi théc méc về chuyện “tại sao con người lại đau khổ” từ những năm tôi 25 tuổi, đến nay théc méc ấy vẫn còn trong tôi, nhưng với tuổi tác, ý muốn tìm câu trả lời trong tôi nhạt đi. Tôi biết không bao giờ tôi có thể giải tỏa được théc méc ấy. Có người nói: “Vì con người xa rời Thượng Đế, nên con người phải đau khổ..”, có người nói: “Con người đau khổ vì con người vô minh..” Đấy là chuyện tôi sẽ viết trong một bài khác.

*

No comments: