Wednesday, May 5, 2010

PHAN QUỲNH * VÕ THUẬT VIỆT NAM

THI VÕ DƯỚI TRIỀU NGUYỄN
PHAN QUỲNH


Từ khi Nguyễn Phúc Ánh bình định được triều đại Tây Sơn Nguyễn Quang Toản, chấm dứt thời kỳ phân liệt Nam Bắc, thống nhất đất nước và lên ngôi Hoàng đế hiệu là Gia Long (1802) cho đến năm Minh Mạng thứ 17 (1836), nhà Nguyễn chưa đặt phép thi võ để tuyển nhân tài quân sự.


Bắt đầu từ năm Minh Mạng thứ 18 (1837) phép thi võ mới được qui định rõ ràng và giao cho bộ Binh thi hành : lấy các năm Dần, Tỵ, Thân, Hợi mở khoa thi Hương ?để lấy Cử Nhân Võ ; các năm Tý, Mão, Ngọ, Dậu mở khoa thi Hội ?để lấy Tiến Sĩ Võ. Đến năm Thiệu Trị thứ 5, thi Hương về võ lại được định lại là các năm Tý, Mão, Ngọ, Dậu, và thi Hội là các năm Sửu, Thìn, Mùi, Tuất. Về thi Hương , thi tại một số tỉnh địa phương được qui định như Thừa Thiên, Thanh Hóa và Hà Nội, cũng như về thi Hội, thi tại kinh đô Huế, được thi làm 3 lần :

kỳ nhất thi sách khối chì nặng,

kỳ hai thi võ nghệ và kỳ ba thi bắn súng điểu thương (một loại súng dài cá nhân),

Các kỳ đều chia ra các hạng Ưu, Bình, Thứ và Liệt.

Phép thi Hương lấy Cử Nhân Võ :

-Kỳ nhất : thi sách quả tạ là khối chì nặng.

Hạïng Ưu : 2 tay mỗi tay sách một khối chì, mỗi khối nặng 110 cân (mỗi cân ta bằng khoảng 0.30kg), đi được 16 trượng trở lên (một trượng là 10 thước ta và bằng khoảng 4.16 mét) hoặc 1 tay sách 1 khối nặng 110 cân, đi được 32 trượng trở lên.

Hạng Bình : 2 tay sách 2 khối nặng 110 cân đi được 12 trượng (ngót 50 mét) trở lên hoặc 1 tay sách 1 khối nặng 110 cân đị được 24 trượng trở lên.

Hạng Thứ : 2 tay sách 2 khối 110 cân đi được 8 trượng (khoảng 33.3 mét) trở lên hoặc 1 tay sách 1 khối đi dược 16 trượng trở lên.




Không theo kịp số ấy thì là hạng liệt (rớt).

-Kỳ hai : thi côn quyền , đoản đao và khiên lăn (bằng mây) .

Hạng Ưu : trên 2 môn xuất sắc và 1 môn trúng cách

Hạng Bình : các môn đều trúng cách.

Hạng Thứ : . các môn trúng nhưng có một môn hơi kém.

Các môn không trúng cách hay một môn rất kém là hạng Liệt.



Ở kỳ hai, sách Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ ghi: năm Thiệu Trị thứ 6 (1846) định lại phép thi côn và giáo. Cần lấy cách thức bài múa võ hơn kém làm thứ bậc . dùng côn sắt 30 cân, cốt phải phải múa tròn như bánh xe, nhẹ nhàng như bay, 10 phần đúng phép, không cứ số trượng đi được nhiều ít, múa phải được 3 bài là hạng Ưu, 2 bài là hạng Bình, 1 bài là hạng Thứ; không theo kịp là hạng Liệt.

Về phép thi giáo, dùng giáo dài 7 thước 7 tấc, chu vi 2 tấc 5 phân, 1 tay cầm chuôi giáo, 1 tay cầm đốc giáo, đứng cách bù nhìn hơn 3 trượng, nhẹ nhàng múa nhẩy lên liền 3, 4 bước, tiến đến đâm thẳng vào miếng hộ tâm kính ở bù nhìn, đâm trúng suốt qua mũi nhọn làm hạng Ưu, trúng mà chính đầu nhọn, làm hạng Bình, mới chớm trúng vào làm hạng Thứ, không trúng làm hạng Liệt . Cách đâm vào bù nhìn cốt phải tinh mắt, tay nhanh, lúc đến chỗ bù nhìn, đâm ngay lập tức thì mà trúng, mới là trúng cách. Nếu hoặc chậm một chút để nhìn rõ tâm kính, thì tuy trúng nay cũng theo hạng Liệt (trang 294).

Về múa côn quyền, năm Tự Đức thứ 3 (1851) mới định rõ : điệu múa Ngũ Môn làm chủ, thứ đến điệu múa 1 hay 2 bài Trực Thủ, Ô Du. Nếu không thông điệu múa Ngũ Môn thì dù múa được 2 bài kia cũng không cho “nhập cách”

-Kỳ ba : thi bắn súng điểu sang bắn 6 phát. Trước sân bắn là một ụ đất có tấm bia tròn, giữa là đích , chung quanh là khuyên tròn. Thí sinh đứng cách xa ụ đất 20 trượng 5 thước ( khoảng 85 mét) và được bắn 6 phát đạn :

Hạng Ưu :

Đạn trúng đích 2 phát , trúng khuyên 2 phát, trúng ụ đất 2 phát,

Trúng đích 2 phát, trúng ụ đất 4 phát

Trúng đích 1 phát, trúng khuyên 3 phát, trúng ụ đất 2 phát

Trúng đích 2 phát, 1 phát trúng khuyên, 3 phát trúng ụ đất.

Hạng Bình :

Trúng đích 1 phát, trúng khuyền phát, trúng ụ đất 3 phát,

Trúng đích 2 phát, trúng ụ đất 4 phát

Trúng khuyên 4 phát, trúng ụ 2 phát

Trúng đích 1 phát, trúng khuyên 1phát, trúng ụ đấ 4 phát.

Hạng Thứ :

Trúng khuyên 3 phát, trung ụ 3 phát

Trúng khuyên 2 phát, trúng ụ 4 phát

Trúng đích 1 phát, trúng ụ 5 phát.

Hạng Liệt :

Trúng khuyên 1 phát, trúng ụ 5 phát

6 phát không trúng pát nào

Có trúng đích hoặc khuyên nhưng lác ra ngoài ụ đất 1 phát trở lên.

.




Ở kỳ hai thi Hương, sử nhà Nguyễn không thấy chép phép thi quyền cước với những bài bản nào, nhưng theo quyển hồi ký có nhiều tư liệu sử học và dân tộc học From The City Inside The Red River , của giáo sư Nguyễn Đình Hòa, (một học giả uyên bác và là cháu nội cụ Nguyễn Đình Trọng tức cụ Cử Tốn, đậu Cử nhân võ năm Mậu Dần (1878) làm Suất Đội từ năm 1881 rồi thăng đến chức Nguyên Soái Đại Tướng Quân Thống Chế (August and Supreme Marshal of the Army of the Court of Huế) dưới Triều đình Huế năm1943, (năm Bảo Đại thứ 18), thì khi cụ Cử Tốn về hưu và dậy võ cho con cháu cùng học trò trong thập niên 40 tại Hà Nội) các bài thi đều là những bài võ cổ truyền nổi tiếng như Ngọc Trản, Ngũ Môn côn, Lão Mai, v.v. . .(In his own courtyard in Văn-tân Hamlet he (Cử Tốn) had trained large numbers of young men how to punch, kick and stab . . . . . Following the family tradition, on the large central patio of naked clay at the 13 Cité Văn-tân address, I myself learned , at the age of ten, the (beginners’) pugilistic dance called “Jade Cup” (quyền Ngọc-trản) and the “Five-Gate Long Stick” (côn Ngũ-môn) , of which I nơ remember only the principal postures and movements. My oldest brother has copied down all component forms (jums, leaps, punches, kicks, and so forth) of every lesson in a typewritten bôblet with their respective fancy names, such as Tả hữu tấn khai thập-tự (made the cross on left and right), Hoàng-long quyển địa (yellow dragon sweeping the sand) , or Tiến đả song quyền (forward and strike with both fists) I used to enjoy occasional demonstration by my father, my uncle and my oldest brother , particularly of the difficult and lengthy “Old Plum Tree” routine (quyền Lão-mai) that artfully combined grace and power. (trang 86)

Qua 3 kỳ thi trên, thí sinh nào có Ưu hay Bình được chấm đậu Cử nhân võ, nếu chỉ toàn có Thứ thì được chấm đậu Tú tài võ.

Để phân loại cao thấp, sau khi trúng tuyển Cử nhân hay Tú tài võ, các tân khoa phải thi phần Phúc hạch, hỏi về 3, 4 câu ở sách Võ kinh (Binh Thư Yếu Lược của Trần Hưng Đạo hay Hổ Trướng Khu Cơ của Đào Duy Từ, v.v. . .), Tứ tử (sách binh thư của Tôn tử, Ngô tử, Tư Mã Phá và Uất Liên tử) , thí sinh nào thông suốt nghĩa sách, thì ngày treo bảng, được xếp ở hàng đầu.

Phép thi Hội lấy Tiến Sĩ Võ :

Các thí sinh đã đậu kỳ thi Hương, được phép vào kinh đô Huế thi Hội.Nếu trúng cách các kỳ thi Hội, thí sinh đượïc mang danh hiệu Tạo sĩ (Tiến sĩ võ ). Thi Hội cũng giống phép thi Hương nhưng sách nặng hơn và đi xa hơn.

Kỳ nhất : thi sách nặng

Hạng Ưu ;

Sách 2 tay, mỗi tay 1 khối chì 120 cân , đi được 20 trượng trở lên, hoặc

1 tay sách 1 khối chì cũng nặng 120 cân đi được 40 trượng trở lên.

Hạng Bình:

2 tay sách 2 khối chì đi được 15 trượng trở lên, hoặc

1 tay sách 1 khối đi dược 30 trượng trở lên

Hạng Thứ :

2 tay sách 2 khối đi được 10 trượng trở lên, hoặc

1 tay sách 1 khối đi được 20 trượng trở lên

Hạng Liệt : nếu không theo kịp các số kê trên bị rớt.

Kỳ hai thi võ nghệ và kỳ ba thi bắn súng điểu thương , môn thi cũng tương tự như thi Hương.

Thi côn sắt nặng 30 cân, chia làm 3 phần, tay cầm chắc nhất định vừa múa vừa đi, làm ra bộ như thể ngồi xuống, đứng lên, đánh giặc, đâm giặc : vừa múa vừa đi được 60 trượng trỏ lên dược điể Ưu, trên 50 trượng được hạng Bình, và 40 trượng hạng Thứ, dưới 40 trượng bị Liệt., đao trường, đại đao đều 1 bài, khiên bằng mây mặt rộng 1 thước 6 tấc, đoản đao sắt cùng khiên mây tương xứng, đại đao mũi dài 1 thước 5 tấc, chuôi gỗ dài 3 thước 5 tấc 5 phân, nặng hơn 8 cân. Mỗi thứ phải múa một bài.

Thí sinh trúng các cách kỳ thi Hội được phép vào điện Thái Hòa để thi Đình. Trước khi vào thi Đình, thí sinh phải nộp đơn nóiù rõ đã học đủ thập bát ban võ nghệ (theo chú thích của sách Khâm Địng Đại Nam Hội Điển Sự Lệ thì gồm : Cung, Nỏ, Súng, Đao, Kiếm, Mâu, Thuẫn, Phủ, Việt, Kích, Roi, Gian, Qua, Thủ, Xua, Bà đẩu, Miên thăng, Thao sách, Bạch đả, trong các thứ ấy có nhiều thứ binh khí chưa rõ tên). Ngoài việc phải đi cả 18 thứ binh khí, dùng binh khí thật, sai 1 bài cũng bị đánh hỏng, thí sinh còn phải đấu tay không và đấu côn với 5 người lính ngự lâm do quan trường chỉ định. Phải đấu cho kỳ thắng được 3 người mới có Ưu hay Bình; chỉ thắng 2 sẽ bị đánh hỏng. Lính ngự lâm nào thua thí sinh thì phải phạt long trong 9 tháng. Do đó mọi người đều hết sức thủ thắng.

Trong thi Đình có 2 loại thí sinh thí sinh : biết chữ nho và không biết chữ nho. Thí sinh biết chữ thi văn sách. Thi văn sách được hỏi về 3, 4 điều về Võ kinh, về đại nghĩa sách Tứ tử cùng 3, 4 điều mấu chốt về việc dùng binh của những danh tướng đời trước và 2, 3 điều về phép trị nước hay về việc đời.Thí sinh có điểm cao nhất được mang danh hiệu Bảng nhỡn, Thám Hoa, v.v.. . Thí sinh không biết chữ , nếu trúng cách, chỉ được mang danh hiệu Phó bảng , tất cả đều được vua ban yến (cơm rượu), và được xướng danh treo bảng..


Các thí sinh đậu thi Hương, thi Hội hay thi Đình đều được triều đình cấp phát mũ áo màu lam cùng cờ biển , cho về quê 3 tháng Vinh Qui Bái Tổ.làm vẻ vang cho họ hàng làng xóm địa phương Sau đó các Tú Tài võ, Cử nhân võ và các Tạo sĩ sẽ được Triều đình bổ dụng




____



Tham khảo :

-Đại Nam Điển Lệ Toát Yếu, Nguyễn Sĩ Giác phiên âm và dịch nghĩa, Saigon, Viện Đại Học Saigon Trường Đại Học Văn Khoa, 1962.

-Nội Các Triều Nguyễn, Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ, tập X, quyển 161- 178, Lê Huy Chương, Phạm Huy Du, Trương Văn Chinh dịch, Huế, nhà xuất bản Thuận Hóa, 1993.

-Nguyễn Đình Hòa, From The City Inside The Red River, A Cultural Memoir Of Mid-Century Vietnam, with a foreword by Graham Tucker, North Carolina, McFarland & Co , 1999.

*




No comments: