Monday, May 17, 2010

TIN TỔNG HỢP * BIỂN ĐÔNG


TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG
Sơn Trung


Trước sự bành trướng trên toàn cầu của Trung Quốc, chúng tôi cho rằng vì tham vọng làm bá chủ hoàn cầu, Trung Quốc có thể gây ra đại chiến thế giới.

Đa số nhà chính trị rất thận trọng khi nhận định về chiến tranh vì xưa nay nhiều cuộc chiến có thể bùng lên rồi tự nhiên tan biến như đám mây.mưa sấm sét có thể làm cơn bão hay sóng thần nhưng bỗng chốc tan đi.Trước khi Gorbachov lên làm Tổng bí thư cộng đảng Liên Xô, người ta đã thấy cuộc chiến tranh Nga Hoa sắp bùng nổ (Phải chăng vì vậy mà Mỹ rút quân về để đứng ra ngoài cuộc chiến?). Nhưng Gorbachov lên, đã lui binh, gỡ cho hai nuớc Nga Hoa và thế giới qua cơn tàn phá của bom hạch nhân.

Vì thận trọng hay vì chủ quan, một số nhà nghiên cứu chính trị, học giả, ngoại giao cho rằng Mỹ Trung không thể xảy ra chiến tranh vì cả hai cần nhau như trong bài CHIẾN TRANH TRUNG QUỐC VÀ MỸ CÓ THỂ XẢY RA HAY KHÔNG...
Có lẽ chúng ta đều là những thấy bói mù, hoặc là cả hai đều là những tay chơi tài xỉu, không biết cuộc đời sấp ngữa sẽ về đâu?


Theo thiển kiến, con người có thể gây chiến tranh vì tức giận, vì nóng nẩy nhaât thời . Chiến tranh Nga Hoa đã xảy ra và xảy nhỏ, chưa đi đến đại chiến vì đó chỉ là cuộc tranh nhau danh tiếng hão. Nga và Hoa đều muốn giành địa vị độc tôn trong thế giới cộng sản. Nhất là Mao Trạch Đông tức giận vì Khroushchev đã triệt hạ Stalin, thần tượng của Mao. Và đường lối xét lại của Nga là trái với đường lối hiếu chiến của Mao. Nói tóm lại, đó cũng chỉ là một cuộc chiến tranh ý thức hệ, hay nói nôm na đó là chiến tranh của những con gà tức nhau vì tiếng gáy. Gorbachov là ân nhân của hai nước Nga Hoa và của thế giới.


Nhưng cuộc chiến của Đế quốc Anh, thực dân Pháp và phát xít Đức, Nhật, Ý là có dự tính kỹ lưõng, là cuộc chiến một mất một còn giữa tư bản và phát xít, nguyên do là vì thị trường.


Nay Trung Quốc cũng đứng vào vị thế của Nhật, Đức, Ý quyết sống mái với Mỹ để chiếm lĩnh thi trường và nguyên liệu trên thế giới. Đây là một cuộc chiến quan trọng mà Trung Quốc đã muốn thực hiện từ khi Marx còn sống, chuyển qua Lenin, Stalin và Mao.Tất cả những người này đều muốn tiêu diệt Mỹ, tiêu diệt tư bản.
Hơn một thế kỷ, và hàng trăm triệu sinh linh đã chết oan uổng cho mộng bá chủ đồ vương của thánh tổ Marx mà mộng đó vẫn không thành!

Đây là một cuộc chiến dio lý trí quyết định, và đã chuẩn bị từ lâu. Người Đông Phương nói"Trả thù mười năm cũng không muộn." Từ khi Mao lất lục địa đã hơn nửa thế kỷ, và nay, Trung quốc đã có tiền bạc, vũ khí, tàu bay, tàu thủy chẳng thua Mỹ thì họ sẽ ra tay.
Có nhiều nguyên do bắt buộc Trung Quốc phải dùng võ lực:
1. Nguyên do thứ nhất là vì nhu cầu dầu hỏa. Biển Đông là túi dầu khá lớn, vì vậy mà Trung Quốc phải chiếm Thái Bình Dương.Lý luận của Trung Quốc là trái với quy định LHQ, Trung Quốc đòi mở rộng 200 hải lý.
2.Dân Trung Quốc càng ngày càng đông. Phải tìm kiếm nguồn kinh tế nuôi họ. Vì vậy Trung Quốc đã xâm lấnn Việt Nam, dồn ép Nhật Bản, Singapore, Indonesia và Malaysia. Xa hơn nữa, Trung Quốc đã dùng những tên Phi Châu cũng như những tên Việt Nam bán nườc cho chúng. Nay chúng đã khai thác ruộng đất, lập công ty ở Phi Châu thực hiện chính sách thực dân kiểu cũ.
3. Trung Quôc tìm kiếm thị trường nhằm tiêu thụ số hàng khổng lồ ế động sau một thời gian sản xuất ồ ạt.

4 Dân Trung Quốc ngày càng bất mãn vì ruộng nương, nhà cửa bị cộng sản chiếm đoạt. Luật nhà đất quy định mỗi người chỉ làm chủ ngôi nhà mình ở trong khoảnh 30 đến 50 năm mà thôi! Nhiều cuộc biểu tình nổi lên. Bọn Cộng sản muốn dùng chiến tranh để chiếm thêm đất đai, làm bá chủ thế giới, mà cũng muốn nhò chiến tranh mà kìm kẹp dân chúng, giết chếr đi vài chục, vài trăm triệu người để khỏi tốn cơm! Lấy chiến tranh để ổn định nội bộ là một chính sách rất thông thường trong lịch sử nhân loại.

Cuộc chiến ngày càng đến gần qua các sự kiện sau:

+Cuối năm 2009, tàu Trung Quốc ngăn chận tàu Mỹ tại Hải Nam.
+Trung Quốc bắn tiếng muốn chia Mỹ nửa Thái Bình Dương. Nếu Mỹ tỏ vẻ nhượng bộ thì Trung Quốc sẽ đòi Mỹ cút khỏi Thái Bình Dương!
+Trung Quốc lấn biển Động, xâm lấn biên giới Việt Nam.
+Trung Quốc bắt bọn đầu nậu Cộng sản Việt Nam bán đất tai miền Bắc và miền Trung dưới danh nghĩa khai thác quăng mỏ và gỗ.
+Đầu năm 2010, Bắc Triều Tiên thử hỏa tiển. Bắc Triều Tiên thực ra là tay sai của Trung Cộng. Vừa rồi Bắc Triều Tiên đã uy hiếp Nam Triều Tiên và tháng 4-2010 đánh đắm một tàu Nam Triều Tiên.
+Tháng 4 năm 2010 Trung Quốc diễu võ dương oai với Nhật Bản, tập trận gần Okinawa.
+Tàu Trung Quốc và tàu Malaysia đã nghênh nhau ở Biển Đông.
+Khoảng tháng 3, 4 năm 2010, tàu Trung Cộng đóng ở vùng Hoàng sa, chuyên tuần tra khu vực này. Ngư dân Việt Nam bị bắt, bị phạt, còn ngư dân Trung Quốc đánh cá sát tình Quảng Ngãi.Trong khi đó, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng sang Trung Quốc lạy lục ,thật là nhục nhã trăm đừờng.
Nhưng Trung Cộng có tin Việt Cộng hay không? Cái đó là tùy ở cái tâm của Trung Quốc. Trung Quốc đã dùng vũ lực và kế tằm ăn dâu, cương nhu đều có cả, nhưng không có nghĩa là họ không dùng vũ lực trong giai đoạn quyết định.


Hệ quả ra sao?



Nếu tàu Trung Quốc cứ sấn vào, hoặc ngăn chận tàu Nhật Bản, Sigapore, Đài Loan thì sao? Hai trường hợp sẽ xảy ra. Nếu Nam Hàn, Nhật Bản và tàu Mỹ thấy tàu Trung Quốc mà cụp đuôi chạy thì là Mỹ nhượng bộ. Nếu tàu Trung Quốc tiến lên mà tàu Nam Hàn, Trung Quốc, Nhật Bản cũng tiến lên là đại chiến bùng ra từ nhỏ dần dần triển khai thành lớn.

Có lẽ Mỹ và Hoa đang thương lượng. Cái chính sách của cộng sản là "đả đả đàm đàm".
Nếu Mỹ làm cho Bắc Nam Triều Tiên hợp nhất dưới quyền Bắc Triều Tiên, nếu Mỹ thuận cho Đài Loan thống nhất với Trung Cộng thế là Mỹ chịu điều kiện Trung Cộng, chia nửa Thái Bình Dương.Nếu Việt Nam cúi đầu thì tất nhiên là Việt Nam trở thành lệ thuộc Trung Quốc.Chúng ta có nên tin những lời phỉnh phờ mười sáu chữ vàng,của Giang Trạch Dân là bảo vệ lãnh thổ. Bảo vệ lãnh thổ sao được khi bọn đầu gấu cứ sang quỳ lạy Bắc Kinh và ký hết hiệp ước này đến hiệp ước khác bán nước cho Trung Quốc? Và những lời kêu gọi của các tướng già là thật hay chỉ "làm dáng yêu nước"? Phải chăng Việt Nam chờ mua vũ khí về rồi sẽ hay? Hoặc việc mua vũ khí này cũng chỉ là "làm dáng anh hùng"?

Ở Việt Nam có lắm chuyện hài. Khi có quyền có thế, khi còn trẻ, không ai lên tiếng cho chính nghĩa, cho độc lập, tự do, phải chờ khi gần chết mới phát biểu. Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, Nguyễn Khải, Trần Độ, Nguyễn Kiến Giang, Võ Văn Kiệt . . . đều thế cả.Thật là:
"Lúc sống thì chẳng nói năng,
Gần chết thì mới nhăn răng ra cười."

Vì những lý do sống còn, Trung Quốc phải dùng võ lực, nhưng những vụ trên chỉ là những cú thăm dò cũng như trong trận đấu vật, đây chỉ là những cái hất tay, cái vờn thử sức.

Từ đây đến cuối năm thử xem sau, có thể mỗi ngày ta sẽ thấy rõ sự việc hơn. Chúng ta chỉ là những người mù xem voi, phải có tin tức chính xác của ngành gián điệp mới nắm vững tình hình. Chưa chắc CIA đã nắm rõ tình hình!

Theo thiển kiến, Khi cộng sản nói chung sống hòa bình,cũng như hội đàm Paris nghĩa là sau hòa đàm họ sẽ tiếp tục đánh. Khi cộng sản nói đình chiến, nghỉ ngơi tức là cộng sản đánh. Như vụ mậu thân, cộng sản đề nghị hưu chiến để họ tấn công mậu thân. Việc Trung Quốc mời Kissinger lên tiếng cho rằng Bắc Kinh yêu hòa bình không đánh Mỹ nghĩa là Trung Quốc sẽ đánh Mỹ. Kissinger là con người như thế nào?


Cái chuẩn bị chiến tranh thế giới và xâm lược Việt Nam là họ vẽ biển Đông hình lưỡi bò là của họ. Họ đã viết lịch sử và dạy cho dân Trung Quốc Việt Nam là của họ, và người Trung Quốc đã đi khắp thế giới. . .Thậm chí những việc xâm lăng Việt Nam, họ bảo là tội lỗi ở Việt Nam xâm chiếm và quấy rối biên cương Hoa Việt. . .

Nay Trung Quốc cho tàu ngư chính canh tuần chặt chẽ vùng Trường Sa, Hoàng Sa và ra lệnh cấm tàu Việt Nam đánh cá từ tháng ba cho đến tháng 8-2010. Phải chăng đây là giai đoạn hoạt động mạnh mẽ và bí mật của hải quân Trung Quốc? Và việc này có ảnh hưởng đến độc lập và chủ quyền toàn thể Việt Nam?

Thế giới ngày nay đứng giữa ngả ba đường:
+Mỹ sẽ rút lui , cúi đầu để mặc Trung Quốc cướp quyền lợi.
+Mỹ và Trung Quốc sẽ chia quyền lợi.
+Mỹ và Trung Quốc sẽ đánh nhau.

Quốc Văn Giáo Khoa Thư kể chuyện hai thằng bé đi chơi nhặt được quả bứa. Hai đứa tranh nhau, đứa bảo của tao vì tao thấy trước. Đứa kia cũng bảo của tao vì tao thấy trước. Cũng vậy, trong trường hợp này, hai đứa sẽ đánh nhau, hoặc cả hai cùng chia đôi quả bứa, hoặc một đứa phải bỏ đi! Trung Cộng thì không thể bỏ đi vì đây là cơ hội bằng vàng mà Trung Cộng đã chờ đợi ngót thế kỷ để trả thù bát quốc liên quân, để noi gương Tần Thủy Hoàng, Hốt Tất Liệt và thánh kinh của Marx tiêu diệt tư bản, nắm quyền cai trị thế giới!


Trong trường hợp Mỹ không chấp thuận hoặc chấp thuận điều kiện Trung Quốc, Việt Nam cũng phải thực hiện các điều sau:
+Đoàn kết toàn dân
+Thanh lọc bộ máy chính quyền thối nát
+Liên kết với các nước trên thế giới, nhất là các nước châu Á , quan trọng là Úc, Nhật Bản và Ấn Độ.
Trong khi chờ đợi, xin độc giả xem bình luận của các đài quốc tế sau đây:
Sơn Trung





Viễn ảnh tranh chấp Biển Đông
2010-05-16

Trang web Nhân Dân và Hoàn cầu thời báo của Trung Quốc ngày 29/4/2010 đã chính thức post lên những nhận định gay gắt về tình hình tranh chấp biển Đông giữa Trung Quốc và các nước trong khu vực, chủ yếu là Việt Nam.

Screen captured from www.boxitvn.net

Bài dịch của GS Vũ Cao Đàm đăng trên mạng Bauxite Việt Nam, từ một bài báo của TQ với tựa đề “Trung Quốc phải dùng vũ lực để tấn công bọn Việt Nam lòng lang dạ sói”

Cộng với những bài viết hồi gần đây trên các trang mạng Trung Quốc đồng loạt lên án, mạt sát Việt Nam bằng thứ ngôn ngữ kích động thù hận đang dấy một làn sóng lo ngại cho một viễn ảnh đen tối trên khu vực Biển Đông. Mặc Lâm tổng hợp ý kiến của các giới chức có quan tâm đến vấn đề này trong bài viết sau đây.

Câu chuyện về tranh chấp Biển Đông giữa Việt Nam Trung Quốc trong thời gian gần đây đang tiến vào một ngã rẽ quan trọng mà những người quan tâm theo dõi cho rằng ngày càng tiến gần hơn đến mức nguy hiểm có thể dẫn tới những động thái khởi động cuộc chiến nếu Việt Nam không đủ sức kềm chế.

TQ tấn công VN?

Trong vài ngày qua, nhiều trang mạng Trung Quốc đã loan tải các bài viết chống Việt Nam đăng tải trên các cơ quan chính thức của chính phủ Trung Quốc khiến sức nóng của Biển Đông hơn lúc nào hết hừng hực hơn lên. Bài báo có đoạn viết:

Lâu nay sự khoan dung và nhân nhượng một cách lịch sự của chúng ta trên vấn đề Biển Đông không đổi lại sự tôn trọng cần phải có, ngược lại một số nước đã coi nhân từ là mềm yếu điên cuồng cướp đoạt ngày càng nghiêm trọng hơn tài nguyên dầu khí và nghề cá của ta, nhiều lần tiến hành bắt giữ và giam cầm ngư dân ta đang tác nghiệp hợp pháp, thậm chí làm tổn hại về người.

Công an biên phòng Trung Quốc bắt tàu đánh cá Việt Nam hồi năm  2009.
Công an biên phòng Trung Quốc bắt tàu đánh cá Việt Nam hồi năm 2009.


Vì thế, phải gia tăng sức mạnh chấp pháp hải dương tại vùng Biển Đông, xua đuổi và bắt giữ kịp thời những thuyền cá tác nghiệp phi pháp tại vùng biển của ta, đồng thời căn cứ vào luật pháp có liên quan của Trung Quốc tiến hành xử lý, và cũng phải tiến hành hành động chống bắt giữ, chống xua đuổi, nhằm bảo đảm an ninh cho ngư thuyền tác nghiệp nước ta.

Cách đặt vấn đề một chiều của bài viết gợi ý rằng Trung Quốc đã đủ mạnh để nói tiếng nói của kẻ bề trên và những luận cứ họ áp đặt có thể được coi là dọn đường cho những hoạt động kế tiếp khó thể coi là hòa hiếu.

Nhà ngoại giao lão thành Dương Danh Dy, người đã bỏ công dịch những bài viết trong các web site chính thức của chính phủ Trung Quốc cho biết ý kiến của ông:

“Đáng lẽ trong bài dịch này tôi còn có lời mở đầu hay hơn nhưng vì họ ngại quá nên họ cắt đi. Đây là cái động thái trong rất nhiều động thái mà tôi biết. Trong bài này cùng với những sự kiện đang diễn ra nơi biển Đông tôi thấy là đúng. Có khả năng nó sẽ mãnh liệt hơn nhưng cũng có khả năng chỉ là việc dọa dẫm chính phủ Việt Nam.”

Dọa dẫm hay chuẩn bị dư luận cho một cuộc tấn công từ Trung Quốc đều là câu hỏi mà Việt Nam cần phải đặt trên bàn làm việc của giới chức ngoại giao lẫn quốc phòng cao cấp nhất. Giáo sư Phạm Quang Minh, chủ nhiệm Khoa Quan hệ Quốc tế Đại học Quốc gia Hà Nội nhận định theo kinh nghiệm của ông về các mối tương quan giữa các nước, đặc biệt là giữa Trung Quốc và Việt Nam:


- Tháng 11 năm 2000, khi hội đàm với TBT mới ĐCSVN Nông Đức Mạnh đến thăm, TBT Giang Trạch Dân nêu rõ, 16 chữ này là phương châm quan trọng chỉ đạo sự phát triển quan hệ hai nước:
- Ổn định lâu dài
- Hướng tới tương lai
- Hữu nghị láng giềng
- Hợp tác toàn diện

“Tôi cho rằng trên nguyên tắc thì đúng là Việt Nam và Trung Quốc phải xác định với nhau là quan hệ hai bên cần phải ưu tiên tôn trọng chủ quyền bình đẳng và toàn vẹn lãnh thổ. Không sử dụng vũ lực hay là đe dọa sử dụng vũ lực thì đấy là những nguyên tắc mà tôi cho rằng quan trọng nhất trong quan hệ song phương và đa phương giữa Việt Nam và Trung Quốc cũng như với các nước khác trong khu vực.

Việt nam cần phải làm gì? Tôi nghĩ rằng Việt Nam vẫn phải tiếp tục khẳng định chủ quyền Việt Nam ở khu vực này, đấy là điều thứ nhất. Điều thứ hai Việt Nam cần phải cùng với các nước trong khu vực đặc biệt là các nước ASEAN, vì là thành viên của ASEAN rồi thì phải có một tiếng nói chung quan hệ trong khu vực đối với các nước ngoài khu vực như Trung Quốc để đảm bảo trong khu vực này có sự hòa bình, ổn định. Và điểm thứ ba tôi nghĩ rằng Việt Nam cần có thông tin một cách rộng rãi đối với các tầng lớp nhân dân của mình đặc biệt là các tỉnh vùng ven biển cần phải biết tình trạng hôm nay để các cấp địa phương cũng như là người dân biết được hiện trạng vấn đề. Thực tế cho thấy rằng những thông tin đó trong một thời gian dài đã không được chuyển tải, trao đổi rộng rãi đến các tầng lớp nhân dân cũng như các lãnh đạo ở địa phương thành ra có sự hiểu lầm.”

Nhún nhường quá đáng?

ntt-giangto-27-4-10-chinhphu.vn
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Phu nhân và Đoàn cấp cao Chính phủ Việt Nam đến thăm tỉnh Giang Tô - Trung Quốc ngày 26/4/2010.


Nguyên tắc ứng xử quốc tế này nếu bị Trung Quốc phá vỡ thì việc gì sẽ xảy ra? Nhà ngoại giao Dương Danh Dy cho rằng:

“Ta nhún nhường, ta tôn trọng Trung Quốc nhưng có giới hạn chứ không phải chúng ta hoàn toàn chịu khuất phục. Ngay như thời cụ Trần Hưng Đạo, cụ viết hịch tướng sỹ đấy, sứ thần nó sang nó còn chửi mắng triều đình. Các cụ dằn cho đến lúc không chịu được mới trói gô cổ chúng nó lại!”

Ta nhún nhường, ta tôn trọng Trung Quốc nhưng có giới hạn chứ không phải chúng ta hoàn toàn chịu khuất phục.

Nhà ngoại giao Dương Danh Dy

Tiếp theo sau các bài viết trên các trang web được coi là chính thức, hằng hà sa số các bài viết khác có giọng điệu bài xích Việt Nam xuất hiện ngày một nhiều hơn. Một trong những đoạn mà chúng tôi cho là nhẹ nhất được trích dẫn sau đây:

“Khoan dung thái quá với Việt Nam là hủy diệt chính mình. Dùng vũ lực tấn công Việt Nam cần tàn nhẫn, cần phá hủy triệt để các cơ sở quân sự của Việt Nam, tất nhiên bao gồm cả cơ sở hạ tầng dân sự. Đối với một nước vô liêm sỉ như vậy, chúng ta không cần xem xét những gì là đạo đức và vô đạo đức, chỉ cần phù hợp với lợi ích quốc gia đó chính là cuộc chiến tranh chính nghĩa, nhân dân Trung Quốc cũng sẽ ủng hộ đến cùng.”

Trước những thù hằn này Việt Nam vẫn tỏ ra nhún nhường trên mặt trận ngoại giao. Người dân đã nhiều lần đặt câu hỏi về sự nhún nhường quá đáng này, cụ thể mỗi lần Trung Quốc bắt ngư dân Việt Nam, tịch thu tàu cá, bắt trả tiền chuộc mới thả người thì Bộ Ngoại Giao hình như chỉ sử dụng cùng một văn bản được soạn trước dành cho mọi trường hợp. Phải chăng cách phản ứng tiêu cực này càng làm cho Trung Quốc ngày một lấn sâu hơn vào cung cách ứng xử nước lớn này?

Giáo Sư Nguyễn Minh Thuyết, đương kiêm đại biểu quốc hội cho biết Bộ Ngoại Giao vẫn thường xuyên điều trần trước quốc hội về biển đảo và chủ quyền cùng nhiều vấn đề có liên quan. Tuy nhiên báo chí không được biết vì các buổi điều trần này đều không tiết lộ ra bên ngoài. GS Thuyết nói:

“Thật ra gần đây Bộ Ngoại giao đã ra điều trần trước quốc hội cũng đã hai ba lần rồi, nhưng thường thì những phiên điều trần ấy là kín chỉ trong quốc hội nghe thôi các nhà báo không tham dự. Trong những phiên đó trình bày về biên giới trên bộ. Các việc cụ thể về thác Bản Giốc, đàm phán như thế nào, lịch sử ra làm sao....chúng tôi có đề nghị bộ Ngoại giao báo cáo về vần đề biển đảo.”

Ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc bắt giữ. Photo courtesy of  lysonforum.
Ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc bắt giữ. Photo courtesy of lysonforum.

Về vấn đề ngư dân Việt Nam bị bắt, bị đòi tiền chuộc GS Nguyễn Minh Thuyết cho biết:

“Ngư dân mình bị bắt thì gần đây mình cũng lên tiếng rất là mạnh mẽ, về phía Trung Quốc cũng trả dân của mình để đòi tiền chuộc. Việc mình nói có chuyện là đánh đập đồng bào thì mình cũng đã yêu cầu Trung Quốc điều tra. Ở đây cũng có 1một phần nữa là mình phải tuyên truyền cho người dân họ biết rõ hơn những tọa độ trên biển để từ đó khi đồng bào mình đi thì có tọa độ chính xác để không lạc vào những vùng đang tranh chấp.”

Ông Dương Danh Dy, nhà ngoại giao có nhiều kinh nghiệm với Trung Quốc chia sẻ những cảm nhận của ông về vai trò của quốc hội, ông nói:

“Tôi xin nói thật không phải là tất cả người Việt đều không biết hết đâu. thế nhưng với lòng yêu nước của mình mà mình thấy chưa cần phải nói. Đến lúc nào đó sẽ nói để có lợi hơn. Trách nhiệm của một công dân Việt Nam thì như thế thôi. Không phải các anh trong quốc hội các anh ấy không biết nhưng còn nhiều vấn đề tế nhị mà mình không biết được. Có thể người ta quan niệm chưa cần thiết phải làm như vậy. Mang tư duy tự do dân chủ phương Tây mà vào Việt Nam thì rất nhiều vấn đề không lý giải được đâu.”

Thật ra gần đây Bộ Ngoại giao đã ra điều trần trước quốc hội cũng đã hai ba lần rồi, nhưng thường thì những phiên điều trần ấy là kín chỉ trong quốc hội nghe thôi các nhà báo không tham dự.
GS Nguyễn Minh Thuyết

Theo thông lệ của nhiều nước, Bộ ngoại giao phải điều trần công khai trước quốc hội để báo chí biết việc gì đã và đang xảy ra trong quan hệ quốc tế. Quốc hội không đủ nguồn lực như báo chí để có thể tiến hành các cuộc điều tra độc lập len lỏi vào tận các ngóc ngách tối tăm của các thế lực đen tối. Chỉ có báo chí mới có thể vạch trần các âm mưu chia chát quyền lợi đất nước của một tập đoàn hay một nhóm ưu đãi nào đó nhằm đưa ra trước ánh sáng quốc dân.

Mặc dù Việt Nam có những hệ thống quản lý rất khác biệt với phương tây, nhưng ngay cả nhìn dưới nhãn quan của một công dân bình thường cũng khó thể chấp nhận cách giải thích của nhà cầm quyền hiện nay khi cho rằng hai nước vẫn đang sống trong tinh thần hòa hiếu. Tàu Ngư Chính vẫn hiện diện trên Biển Đông trong phạm vi chủ quyền đất nước là một bằng chứng cho thấy cách dẫn dắt dư luận thiếu thông tin chính xác là một sai lầm lớn của chính sách hiện nay.

Trong bài tới chúng tôi sẽ trình bày những góc nhìn khác nhằm tìm ra cách đối phó hữu hiệu đối với những bài báo manh động xuất hiện ngày một nhiều tại Trung Quốc hiện nay.

Theo dòng thời sự:

Copyright © 1998-2010
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Vietnam-needs-to-prepare-the-public-opinion-before-the-south-china-sea-war-becomes-reality-part1-mlam-05162010164135.html




Chiến lược mới của hải quân Trung Quốc
2010-05-12

Ngày 10/04/2010 Lực lượng Phòng vệ Hàng hải Nhật Bản đã theo dõi 10 tàu chiến Trung Quốc đi qua 140 km từ Nam Okinawa qua eo biển Miyako đánh dấu giai đoạn mới về phát triển hải quân của Trung Quốc.

AFP PHOTO/Japan Coastguard via Jiji Press/HO

Tàu Haijian 51 của Trung Quốc bị lính biên phòng của Nhật Bản phát hiện cách đảo Oshima Amami của Nhật Bản khoảng 320 km vào ngày 04/05/2010.




Việc triển khai về quy mô và phạm vi chưa từng thấy đối với hải quân Trung Quốc, và là lần thứ hai các hoạt động như thế đã được Trung Quốc thiết lập liên tục nhanh chóng: tháng 3, một đội tàu nhỏ hơn đã triển khai tập trận. Hai cuộc tập trận, cùng với các hoạt động chống cướp biển của Trung Quốc tại vịnh Aden, thể hiện sự linh hoạt của các lực lượng hải quân Trung Quốc và sự nổi bật lớn hơn trong tính toán chiến lược của Bắc Kinh.

Đội tàu nhỏ của Hải quân Trung Quốc (1) gồm một số tàu chiến hiện đại nhất, có hai tàu ngầm tấn công loại Kilo, chạy bằng dầu diesel trên mặt nước và chạy bằng điện khi lặn dưới nước, và ít nhất hai tàu khu trục loại Sovremenny do Nga sản xuất. Nhiệm vụ trong tháng 3 và tháng 4 là lần đầu tiên với quy mô vượt ra khỏi ‘chuỗi đảo thứ nhất’ – thuật ngữ được Trung Quốc sử dụng cho các đảo gồm Aleutian, Kuriles, quần đảo của Nhật Bản, Ryukyus, Đài Loan, Philippines và Borneo - và chỉ ra rằng việc triển khai vượt ra khỏi chuỗi đảo này bây giờ là chính sách chính thức, đã được các sĩ quan hải quân thảo luận vài năm trước.

Căng thẳng trên Biển Đông

Thời điểm các cuộc tập trận cho thấy, có mối liên quan trực tiếp đến sự căng thẳng tăng cao trong tranh chấp chủ quyền lâu dài của Trung Quốc đối với các đảo trên Biển Đông. Biên giới hiện tại của Trung Quốc trong khu vực lần đầu tiên xuất hiện trong một cuộc khảo sát do chính phủ Quốc gia Trung Quốc tiến hành vào năm 1935, và được chính phủ Cộng sản giữ lại sau năm 1949. Họ xác định nhiều nhóm đảo của Trung Quốc bao gồm một số quần đảo như Hoàng Sa (Tây Sa), Trường Sa (Nam Sa), Pratas (Ðông Sa), bãi Macclesfield (Trung Sa) và bãi cạn Scarborough (Hoàng Nham Đảo).

Trong nhiều thập kỷ, Trung Quốc đã tranh chấp một số hoặc tất cả các quần đảo này với Việt Nam, Đài Loan, Philippines, Malaysia và Brunei. Khoáng sản, khí đốt tự nhiên và dầu mỏ được cho là lý do tranh chấp, mặc dù thiếu các cuộc khảo sát độc lập để biết được có nhiều hay ít. Nhưng điều không chắc chắn này đã không ngăn được các quốc gia đòi chủ quyền trong việc xây dựng các căn cứ quân sự trên nhiều rạn san hô. Hiện nay Trung Quốc có các căn cứ trên đảo Châu Viên, Đá Chữ Thập, Đá Huy Gơ, Đá Gạc Ma, Đá Vành Khăn, Đá Ga Ven và Đá Su Bi. Các căn cứ này, từ các tòa nhà nhỏ ba tầng có đường băng lên thẳng, cho tới các cơ sở có khả năng hoạt động như một bến tiếp nhiên liệu.


Tàu chiến bắn hỏa tiễn trong cuộc tập trận chung Nga - Trung Quốc  hồi tháng 8/2005 tại vùng biển đảo Sơn Đông. AFP PHOTO/Xinhua.
Tàu chiến bắn hỏa tiễn trong cuộc tập trận chung Nga - Trung Quốc hồi tháng 8/2005 tại vùng biển đảo Sơn Đông. AFP PHOTO/Xinhua.


Những cuộc tranh cãi dữ dội nhất gia tăng trong năm qua giữa Trung Quốc và Việt Nam, nước chính thức tuyên bố chủ quyền quần đảo Trường Sa là một tỉnh của Việt Nam trong năm 1973. Việt Nam chiếm 29 đảo và các rạn san hô trong khu vực, trong khi Trung Quốc sở hữu khoảng 9 đảo. Khi tranh chấp vùng biển xung quanh, nhiều như tranh chấp các hòn đảo, các hoạt động thương mại như đánh cá đã phát triển trong những năm gần đây, trở thành một vấn đề chiến lược. Các tàu đánh cá Việt Nam và Trung Quốc thường xuyên tụ tập trong cùng khu vực.

Trong tháng ba, Trung Quốc đáp lại lời yêu cầu giúp đỡ của các tàu đánh cá Trung Quốc ngoài khơi quần đảo Trường Sa mà họ bị lính tuần duyên Việt Nam sách nhiễu. Tàu ngư chính 311, tàu tuần tra thủy sản lớn nhất của Trung Quốc, 4.600 tấn, vào ngày 18 tháng 3, từ Tam Á, đảo Hải Nam, được phái đến Biển Đông cùng với tàu tuần tra 202. Tin tức của Trung Quốc đặc biệt tin tức nhấn mạnh sự hiện diện của các khẩu súng máy hạng nặng trên tàu 311.

Ngày 1 tháng 4, ông Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch nước Việt Nam, được hai tàu khu trục hộ tống, đến thăm hòn đảo tranh chấp Bạch Long Vĩ (được Trung Quốc gọi là Bái Long Ngụy), hòn đảo nằm giữa thành phố Hải Phòng, Việt Nam và đảo Hải Nam của Trung Quốc. Ông Nguyễn Minh Triết đã tuyên bố tại hòn đảo rằng Việt Nam sẽ ‘không cho phép bất cứ ai xâm phạm lãnh thổ của chúng tôi, biển, đảo của chúng tôi’. Hà Nội chính thức kháng nghị với Bắc Kinh về việc cục thuỷ sản Trung Quốc bắt giữ chín ngư dân vào ngày 22 tháng 3 gần quần đảo Hoàng Sa.

Tập trận hải quân tầm xa

Trong khi đó, Trung Quốc đã bắt tay vào hoạt động đầu tiên điều được mô tả trên các phương tiện truyền thông chính thức là ‘các cuộc tập trận hải quân tầm xa’. Ngày 18 tháng 3, một đội tàu nhỏ gồm sáu tàu, từ Hạm đội Bắc Hải rời căn cứ ở Thanh Đảo, qua eo biển Miyako gần Okinawa, đi thành ba cặp, có thể trong sự cố gắng nhằm tránh sự chú ý.

Các tàu khu trục Amagiri của Nhật Bản báo cáo nhìn thấy một tàu khu trục loại Luzhou và một tàu khu trục Jiangwei II. Một tàu khu trục khác, tàu Asayuki, phát hiện cả tàu khu trục Jiangwei II và Jianghu III. Một tàu chở dầu của Trung Quốc và một tàu cứu hộ đi theo sau. Trước khi đoàn tàu đi qua, một chiếc máy bay KJ-200 của Trung Quốc, có hệ thống điều khiển và cảnh báo trên không, đã bị máy bay F-15 của Nhật theo dõi vì nó bay qua eo biển vào ngày 12 tháng 3.

Theo tin tức trên tờ PLA Daily giữa tháng tư, mô tả điều này như là một “cuộc tập trận đường dài”. Chương trình Tin tức Quân sự chính thức của CCTV-7 cũng đưa ra các manh mối như bản chất của việc triển khai: phó Hạm trưởng Hạm đội Bắc Hải nói rằng ‘Trung Quốc cần bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của mình thông qua việc chứng tỏ sức mạnh hải quân đường dài’. Bản báo cáo cũng cho thấy, các máy bay chiến đấu J-8 cung cấp lực lượng không quân hỗ trợ cho các cuộc hành quân tầm xa, và các cuộc tập trận chống tàu ngầm (ASW) đang được thực hiện.

Đội tàu nhỏ cho thấy sự hiện diện của nó khi đi qua eo biển Miyako và sau đó là kênh Bashi giữa Philippines và Đài Loan. Các tàu thực hiện nhiều bài tập như thật, cũng như các cuộc tập trận đối đầu với các thành phần của Hạm đội Nam Hải. Báo cáo của Hải quân Trung Quốc cho biết hạm đội đã đến thăm Đá Chữ Thập trong quần đảo Trường Sa, cũng như thực hiện các thêm bài tập gần eo biển Malacca giữa Malaysia và Indonesia. Việc triển khai và các cuộc tập trận là một thông điệp rõ ràng về sự sẵn sàng của Hải quân Trung Quốc để khẳng định quyền lực của Trung Quốc trong khu vực. Đội tàu nhỏ đã quay về căn cứ vào đầu tháng 4.

Hạm đội Đông Hải

Tàu ngầm Hải quân Trung Quốc và máy bay chiến đấu tập dợt tại vùng  biển tỉnh Sơn Đông ngày 23 tháng tư năm 2009. AFP PHOTO/POOL/Guang  Niu.
Tàu ngầm Hải quân Trung Quốc và máy bay chiến đấu tập dượt tại vùng biển tỉnh Sơn Đông ngày 23 tháng tư năm 2009. AFP PHOTO/POOL/Guang Niu.


Nhật đã ngạc nhiên thêm một lần nữa khi một nhóm công tác thứ hai - gồm mười tàu từ Hạm đội Đông Hải, gồm có các tàu khu trục lớn, tàu khu trục nhỏ và nhiều tàu phụ trợ (2) - đi qua eo biển Miyako vào ngày 10 tháng 4. Hai tàu ngầm loại Kilo đi cùng với đội tàu nhỏ, đi trên mặt biển khi đi qua eo biển theo quy định của luật pháp quốc tế. Lần này Tokyo quyết định đưa tin tức ra trước công luận.

Tàu khu trục Nhật Bản, tàu Suzunami và máy bay giám sát đã được phái đi để chụp ảnh đội tàu nhỏ của Trung Quốc, trong đó thay vì đi theo từng cặp, nó đi thành một nhóm lớn qua Okinawa. Tàu Suzunami bị báo động bởi một máy bay trực thăng chống tàu ngầm của Trung Quốc, Ka-28, đã đến quá gần tàu chiến của Nhật Bản trong khoảng 90 mét. Đến cuối tháng 4, đội tàu nhỏ cho thấy dừng chân tại phía Đông của Đài Loan, và tiến hành diễn tập chống tàu ngầm. Việc tạm dừng cuộc hành trình về hướng Nam dường như liên quan trực tiếp đến một sự thay đổi về hoàn cảnh khó khăn của các tàu đánh cá của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa.

Khi tàu tuần tra thủy sản của Trung Quốc, tàu 311 và 202, đến quần đảo Trường Sa, họ thấy các tàu đánh cá của Trung Quốc bị nhiều tàu Việt Nam bao quanh. Tình hình trở nên xấu đi sau khi đội tàu hải quân đầu tiên trở về nhà, khi ngày càng có nhiều tàu Việt Nam tập hợp quanh các tàu Trung Quốc. Một phóng viên báo chí trên tàu 311 nói rằng, ngày 8 tháng 4, có khoảng 20 chiếc tàu nhỏ bao vây quanh tàu [Trung Quốc], và ngày 10 tháng 4 con số này đã lên đến 60. Các tàu nhỏ này chỉ cách tàu 311 khoảng 200 mét, và đã chụp ảnh các tàu Trung Quốc.

Có lẽ Việt Nam đã không mong đợi phía Trung Quốc có thêm hành động hải quân nào, bởi vì đội tàu đầu tiên [của Trung Quốc] đã quá sức chịu đựng sau 19 ngày, đi hơn 6.000 hải lý. Tuy nhiên, theo báo cáo từ Nhật Bản rằng đội tàu thứ hai đã đi qua eo biển Miyako với ý định làm các tàu Việt Nam sửng sốt. Phóng viên trên 311 mô tả sự kinh ngạc của các thủy thủ Trung Quốc khi từng con tàu Việt Nam biến mất khỏi khu vực vào ngày 12 tháng 4.

Dường như tin tức về đội tàu thứ hai của Trung Quốc gây ngạc nhiên cho Việt Nam. Hơn nữa, quyết định đi qua eo biển Miyako mà không đưa ra bất kỳ cảnh báo nào trước có thể có ý định gây sự chú ý càng nhiều càng tốt, để gửi một cảnh báo đến các tàu nhỏ của Việt Nam vây quanh tàu mắc cạn 311. Một khi tàu thuyền Việt Nam rút lui, nhóm của Trung Quốc ngừng di chuyển về phía Nam và bắt đầu tiến hành các bài tập đối phó.

Chính sách phát triển

Các hoạt động đó là một minh chứng cho việc hiện đại hóa Hải quân Trung Quốc trong thập kỷ qua. Sẽ không thể có được, nếu không tiếp tục tập trung vào các cuộc tập trận tầm xa đã chiếm hết việc đào tạo của họ trong thập kỷ qua. Quyết định của Trung Quốc trong tháng 12 năm 2008 tham gia hoạt động chống cướp biển quốc tế ở Vịnh Aden đã đưa đến việc các tàu hải quân Trung Quốc sử dụng một số tuyến hàng hải chính trên thế giới thường xuyên hơn.

Đối với một số nước Đông Nam Á, các hoạt động gần đây cho thấy nỗ lực của Trung Quốc tạo một tiền lệ cho việc thiết lập sự hiện diện hải quân lâu dài trong khu vực. Chiến lược hải quân tiếp tục mở rộng, gồm một tàu sân bay – nâng cấp từ tàu sân bay Varyag của nước Ukraina cũ đang được thực hiện – và các tàu ngầm mới, cũng là mối quan ngại đối với các nước láng giềng của Trung Quốc. Trong năm 2009, Việt Nam phản ứng lại bằng cách đặt mua sáu chiếc tàu ngầm tấn công loại Kilo của Nga.

Rõ ràng là Hải quân Trung Quốc đang bắt đầu thực hiện vai trò nổi bật hơn trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Tại lễ kỷ niệm 60 năm hồi năm 2009, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào nói rằng tạo ra ‘một điểm lịch sử khởi đầu’ mới. Năm năm trước đó, Hồ [Cẩm Đào] đã đặt ra ‘sứ mệnh lịch sử’ cho tương lai Hải quân Trung Quốc: củng cố địa vị cầm quyền của Đảng Cộng sản; giúp bảo đảm chủ quyền của Trung Quốc, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh trong nước; để bảo vệ Trung Quốc mở rộng lợi ích quốc gia, và giúp duy trì hòa bình thế giới. Các chỉ dẫn rõ ràng rằng một chính sách mới chính thức thông qua khi các sĩ quan hải quân đưa "đề nghị" lên Quốc hội Trung Quốc trong năm 2009 và 2010.

Phạm vi linh hoạt

Nhấn mạnh kết quả của việc thay đổi chiến lược hải quân, không ít hơn 19 tàu chiến, gồm cả ba tàu trở về từ hoạt động chống cướp biển ngoài khơi Somali, đi qua các đảo tranh chấp ở Biển Đông trong tháng 3 và tháng 4. Ông Toshimi Kitazawa, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản mô tả hoạt động này là một ‘tình trạng chưa từng có’.

Quan trọng nhất là sự trình diễn của Hải quân Trung Quốc về khả năng tổ chức và tiến hành các hoạt động tầm xa với sự phối hợp nhiều thứ. Điều này cho thấy sự gia tăng khả năng chỉ huy và điều khiển, cũng như cải thiện sự phối hợp giữa các hạm đội khác nhau của hải quân. Mặc dù Hạm đội Đông Hải, được sự ủng hộ cựu Chủ tịch Giang Trạch Dân, là lực lượng tiên phong trong việc giải quyết vấn đề Đài Loan (chẳng hạn như khủng hoảng Eo biển Đài Loan năm 1996), cả hạm đội này cũng như Hạm đội Bắc Hải chưa từng tham gia vào việc triển khai ở Biển Đông . Trong nhiệm kỳ của Chủ tịch Hồ [Cẩm Đào], Hạm đội Nam Hải đã được hiện đại hóa triệt để và thường là lực lượng chính được Trung Quốc sử dụng để khẳng định chủ quyền trên biển.

Sự linh hoạt mới này báo hiệu một sự thay đổi đáng kể trong tư duy chiến lược của hải quân. Khả năng tương tác và hỗ trợ lẫn nhau giữa ba đội tàu, đánh dấu một sự chuyển dịch hướng tới một lệnh củng cố trung tâm và thoát khỏi hệ thống lỗi thời về ba hạm đội tàu hoạt động độc lập. Điều này cho thấy hải quân sẵn sàng và có thể vượt qua chuỗi đảo đầu tiên và đi vào Thái Bình Dương - một sự thay đổi đáng kể từ học thuyết trước đó. Trọng tâm mới hiện nay là ‘huấn luyện hàng hải tầm xa’ để ‘bảo vệ chủ quyền quốc gia hàng hải’. Các sĩ quan cao cấp của Hải quân Trung Quốc cũng kêu gọi ‘hình thành và [duy trì] khả năng chiến đấu tầm xa’.

Tiến bộ đáng kể đã được thực hiện để đạt được mục tiêu của Trung Quốc trong việc xây dựng một lực lượng hải quân viễn dương hoàn toàn vào năm 2050. Nguồn tài trợ mới đáng kể đã cho phép nó phát triển nhanh chóng từ một lực lượng quốc phòng ven biển với khả năng hải quân hạn chế trong việc chứng tỏ sức mạnh. Hoàn thành [tàu sân bay] Varyag vào năm 2012, sẽ mở rộng hơn khả năng chứng tỏ sức mạnh bằng cách cung cấp sự đào tạo có giá trị cho tương lai, sử dụng cho lực lượng tàu sân bay.

Đối với khu vực, tác động chiến lược sẽ phức tạp. Việt Nam và các nước Đông Nam Á khác sẽ phải đối mặt với một Trung Quốc quyết đoán hơn ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhật Bản và các nước khác sẽ phải làm quen với các đội tàu Trung Quốc di chuyển thường xuyên hơn vào Thái Bình Dương. Tuy nhiên, tập trung chủ yếu của nó sẽ là bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ hơn là sự bành trướng hung hăng.

Ghi chú:

(1) PLAN: Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân, tức Hải quân Trung Quốc

(2) Auxiliary vessel: là tàu phụ trợ, cũng là tàu hải quân nhưng được thiết kế để hoạt động trong các vai trò hỗ trợ các tàu chiến và các hoạt động hải quân khác. Mục đích chính của tàu phụ trợ không phải để chiến đấu, mặc dù nó có khả năng chiến đấu nhưng giới hạn.

Ngọc Thu dịch từ: http://www.iiss.org/publications/strategic-comments/past-issues/volume-16-2010/may/chinese-navys-new-strategy-in-action/

Theo dòng thời sự:




Tin, bài liên quan

Quyết bám biển bất kể lệnh cấm đánh cá của TQ

Tranh chấp Biển Đông ngày càng căng thẳng

Viễn ảnh tranh chấp Biển Đông

Hải quân Việt Nam mua máy bay của Canada

Chiến lược mới của hải quân Trung Quốc

Trung Quốc phô trương sức mạnh ở Biển Đông

Trung Quốc phô trương sức mạnh ở Biển Đông

Việt Nam mua hoả tiễn của Israel

Quảng Ngãi đề nghị bộ ngoại giao phản đối lệnh cấm đánh cá của TQ

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/The-International-Institute-For-Strategic-Studies-NgThu-05122010170116.html




TQ sẽ không nhượng bộ về Biển Đông



Thuyền cá của Việt Nam

Nhiều ngư dân Việt Nam đã bị Trung Quốc bắt

Cơ hội thương lượng giữa các bên tranh chấp ở Biển Đông dường như ngày càng ít dần khi Trung Quốc tỏ ra ngày càng cứng rắn trong vấn đề chủ quyền.

Báo Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng (South China Morning Post) xuất bản tại Hong Kong vừa có bài nhắc lại lập trường không khoan nhượng của Bắc Kinh trong cách tiếp cận các nguồn lợi biển.

Báo này nhận định: "Bắc Kinh cương quyết bảo vệ các vùng biển mà Trung Quốc coi là của mình".

Bằng chứng được dẫn là việc tàu tuần tiễu và cả tàu chiến của Trung Quốc tuần tra các khu vực kinh tế đặc quyền ngày càng nhiều so với trước.

Báo Hong Kong nói nhiều phần của các khu vực mà Bắc Kinh tự định chuẩn này lại chồng lấn với các nước láng giềng, gây nguy cơ đối đầu và tranh chấp.

Hôm thứ Sáu 07/05 Ngoại trưởng Nhật Bản Katsuya Okada đã cho mời Đại sứ Trung Quốc tại Tokyo đến để phản đối về việc tàu hải quân Trung Quốc theo sát tàu thăm dò Nhật tại một khu vực tranh chấp ở Đông Hải cách đảo Amami Oshima phía Nam Nhật Bản 320 km.

Cả Trung Quốc và Nhật đều tuyên bố chủ quyền đối với khu vực này.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Khương Du nhanh chóng phản ứng, rằng tàu Trung Quốc làm đúng phận sự.

Bà Khương nói: "Việc tàu Trung Quốc thực hiện hoạt động thi hành pháp luật tại các khu vực đó là hoàn toàn hợp pháp."

Không nhượng bộ nguồn lợi biển

Giới phân tích cho rằng lý do chính nhất để Trung Quốc ráo riết hoạt động tại các vùng biển tranh chấp, trong có Biển Đông, là vì nguồn tài nguyên biển.

Chuyển mình từ một quốc gia nông nghiệp sang vị thế cường quốc hàng hải, Bắc Kinh sẽ không bao giờ nhân nhượng trong tranh chấp chủ quyền biển.

Giáo sư Vương Hàn Linh, chuyên gia các vấn đề hàng hải tại Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, được dẫn lời nói Trung Quốc dần nổi lên như cường quốc biển, và tranh chấp lãnh thổ với các nước láng giềng cũng dần nóng lên.

Chúng tôi thấy rằng các nước láng giềng bản thân cũng còn tranh chấp với nhau, lại còn nhiều quyền lợi quốc gia cần bảo vệ nên khó có thể đoàn kết để chống Trung Quốc. Và ngay cả khi họ liên hiệp lại thì cũng không đủ mạnh để thắng Trung Quốc.

Giáo sư Vương Hàn Linh, Viện KHXH Trung Quốc

Giáo sư Vương nói: "Thực ra, tranh chấp giữa các bên đã nảy sinh từ những năm 1970, khi người ta tìm thấy dầu lửa và các nguồn tài nguyên khác tại các quần đảo Điếu Ngư, Trường Sa và Hoàng Sa."

"Từ hồi đó đã có ý tưởng là các nước Đông Nam Á nên liên kết lại để đối đầu với Trung Quốc và trong một thời gian, Bắc Kinh đã tỏ ra quan ngại về điều này."

Thế nhưng theo ông Vương, sau 30 năm không thấy động tĩnh gì (từ phía các nước Đông Nam Á), Trung Quốc nay cũng không còn lo lắng.

"Chúng tôi thấy rằng các nước láng giềng bản thân cũng còn tranh chấp với nhau, lại còn nhiều quyền lợi quốc gia cần bảo vệ nên khó có thể đoàn kết để chống Trung Quốc."

"Và ngay cả khi họ liên hiệp lại thì cũng không đủ mạnh để thắng Trung Quốc."

Ông Vương Hàn Linh nói Bắc Kinh cần duy trì quan điểm rằng Trung Quốc đã có văn bản khẳng định chủ quyền và quyền tài phán với các quần đảo ở Đông Hải và Nam Hải (Biển Đông) cả ngàn năm nay.

Ngư dân Việt Nam gặp khó

Trước lập trường ngày càng kiên quyết của Trung Quốc, có thể thấy rằng nỗ lực thương lượng của các quốc gia liên quan đang gặp trở ngạ̣i.

Mới đây, hôm 06/05, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã chính thức phản đối lệnh cấm đánh cá mà Trung Quốc ban hành từ 16/05-01/08 ở Biển Đông, trong có các khu vực Việt Nam tuyên bố chủ quyền.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao, bà Nguyễn Phương Nga, nói: "Việt Nam sẽ có giao thiệp ngoại giao để phản đối quyết định này của Trung Quốc."

Động thái 'giao thiệp ngoại giao' xem ra chưa làm người dân yên lòng vì lệnh cấm đánh bắt nói trên ảnh hưởng tới việc mưu sinh của nhiều ngàn ngư dân.

Sau khi bà Nguyễn Phương Nga lên tiếng một ngày, Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi Trương Ngọc Nhi đã ký văn bản gửi Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao, đề nghị phản đối việc Trung Quốc cấm đánh bắt cá trên biển Đông.

Tỉnh này cũng đã gửi văn bản kiến nghị Bộ Ngoại giao can thiệp đòi Trung Quốc thả vô điều kiện tàu đánh cá của ngư dân Quảng Ngãi vừa bị bắt hồi đầu tháng.

Trung Quốc vừa trả tự do cho 23 ngư dân Quảng Ngãi, nhiều người bị bắt từ hồi tháng Ba khi đánh cá gần quần đảo Hoàng Sa. Thế nhưng tuần ngư Trung Quốc hôm 04/05 lại bắt một tàu cá khác cũng của Quảng Ngãi với 11 thuyền viên.

Tàu đánh cá của ông Đặng Tằm ở thôn Châu Thuận, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, cũng bị bắt khi đang hoạt động gần Hoàng Sa. Toàn bộ số ngư dân trên tàu hiện đang bị giam trên đảo Phú Lâm, Hoàng Sa.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2010/05/100508_china_vietnam_sea.shtml

**

No comments: