Monday, August 23, 2010

ĐẶNG PHÙNG QUÂN * TRUYỆN NGẮN






Thuở nàng còn là một thiếu nữ mới lớn, tuổi của con nàng bây giờ, nhhững chiều cuối tuần nàng thường đi lang thang trên hè phố có những quầy sách cũ dựng che kín khoảng tường thành một trụ sở chính quyền (mãi về sau này lục lọi ký ức, nàng vẫn không nghĩ ra tên cơ quan đó, dường như những hàng cây, những tên sách lộng lẫy nhiều màu sắc đã lôi cuốn trí nhớ vào một ốc đảo của kỷ niệm đầy thanh khiết, một giấc mơ, cơn mộng mị sương ảo, cũng đắm đuối, cũng vật vờ thơ dại mà (cuộc thăm thú thế giới của chữ nghĩa đã biến nàng thành một kẻ phiêu lưu đi tìm cuộc hẹn hò với người tình chưa gặp mặt).


Nhớ, mẹ nàng hay than thở với mấy bà bạn ““đẻ ra con nhỏ lộn giống, nó là con trai mới phải, chỉ ham sách vở, chẳng chịu học may vá thêu thùa, thật khổ”. Dường như những tạp chí đặt mua hàng năm gửi đến tận nhà, những bìa sách mới còn thơm mùi mực trông kiêu sa đã ám ảnh nàng ngay từ những ngày tháng tuổi nhỏ đã kéo nàng ra khỏi thời thơ ấu với búp bê và kim chỉ - lỗi ấy đâu phải tại nàng. Nỗi đam mê sách vở cũng khiến nàng quên cả thói làm dáng. Thuở, những chị bạn lớp trên tha thướt trong tà áo dài, cỡi Solex lượn trên đường phố, buông một tay cầm nón nghiêng nghiêng dưới nắng, cho vạt áo tung bay thì nàng vẫn bận chiếc váy xanh đồng phục đơn giản, áo trắng, cột tóc đuôi ngựa lếch thếch đạp xe với năm bảy quyển sách giằng buộc phía sau.


Nàng cũng chẳng thèm để ý đến bọn con trai tụ tập ngoài cổng trường xuýt xoa khi nàng chạy ngang (thỉnh thoảng, có kẻ côn đồ hơn, huýt gió, buông một câu trêu ghẹo); nàng cũng không để ý đến dung nhan kiều mị tự nhiên của mình. Sắc đẹp đã lôi cuốn những bạn gái cùng lớp kết thân với nàng, chia sẻ dấm dúi những trái cóc dầm, những chùm tầm ruột cay chát muối ớt trong giờ học, những mẩu tâm sự vụn vặt - nhưng sao nàng vẫn chẳng cảm thấy thân tình với một ai, nàng chưa gặp người nào chung một nỗi băn khoăn xao xuyến về một thế giới của nàng, cái khung cảnh thế giới mà nàng kết dệt bằng trí tưởng và những ý nghĩ đến từ những điều nàng đọc, dường như quá xa lạ với bạn bè.

Đôi khi, nàng nhủ thầm, mình đã trưởng thành rồi sao? Thật tình, nàng cũng không hiểu, nàng vẫn cảm thấy bé bỏng trong tình thương yêu của mẹ, nàng vẫn còn nhiều điều phải hỏi mẹ và mẹ như sông núi chập chùng bao phủ lấy tuổi thơ dại của nàng. Mẹ là câu chuyện cổ tích của nàng. Một gang tấc thời gian. Chỉ mới ba năm trước, khi chưa đam mê sách vở, nàng còn đắm chìm vào cái khí hậu mơ màng, thần tiên với những lâu đài thủy tinh lóng lánh, những ngả đường rừng hoa mộng, những não đường sương rực ánh trăng.



Nàng đã ru những bước chân theo bóng trăng đi mãi cho đến quên cả đường về, đã đứng khóc một mình tơi lúc người phu xe già chạy ngang thấy lạ dừng hỏi han và bảo ngồi lên xích lô chở lại nhà. Thế mà cô bé vẫn không tởn, vẫn mê mải theo bóng trăng lạc nhà như vậy. (Sau này, nàng kể có một lần nàng đã thề dưới ánh trăng rằng nàng chỉ yêu một người hiểu nàng và sẽ chết nếu người đo vô tình xa lánh nàng. Năm đó, nàng mới mười ba). Rồi một ngày, từ một bài tùy bút, một truyện ngắn hay một bài thơ nào đó bỗng dưng ám ảnh và quyến rũ nàng vào một cuộc hành trình dài đặc: đọc.


Nàng đọc và tập cho mình một thói quen (nhất định không bao giờ để ý tên tác giả trước khi chấm dứt dòng cuối cùng của bài viết) - và nàng lại ghét nhất giờ luận văn trong lớp, nàng không thích những bài giảng văn lê thê, buồn tẻ (một chớm nổi loạn trong tâm hồn, có phải?) đời sống đã khởi sự một màu sắc nóng và sinh động không phải cái khung cổ kính với một điệu máy hát rè. Một quãng cách giữa căn phần học và khung cửa mở ra bên ngoài thế giới.


Cái hình ảnh người thiếu phụ đi trong sương tuyết của một bài thơ cổ cũng gần gũi thân quen đối với nàng, cũng mênh mông những bang khuâng tìm kiếm như mấy bài thơ bốn mùa của Ngô Chi Lan của một thuở nào. Đọc, đưa nàng bay bổng lên với những chuyến phi hành trong đêm sa mạc giăng mắc trăng, sao cũng xa lạ như cõi thanh bình tiền chiến trên quê hương. Đọc, đi tìm những trang sách bỏ quên, những tạp chí đã cũ từ những năm tháng nàng chưa chào đời. Và nàng làm quen với những hè phố quầy sách. Như một chốn hẹn hò.

Thật tội ngiệp, nếu nàng biết cuộc gặp gỡ ấy chẳng phải tình cờ. Chàng cũng thường đi lang thang trên con đường quen thuộc của nàng. Sách vở khiến chàng nhức nhối, ý chí thôi thúc đốt một ngọn lửa cháy rụi những trang kinh kệ đã đọc, một đối thủ lởn vởn trước mắt, như đình dập đe dọa, như khiêu khích thách đố. Muốn ghét bỏ, quay lưng nhưng không sao đàn áp được cái ý nghĩ xuẩn động ấy. Thế nên, chàng vẫn trở lại lối cũ, rồi một ngày bỗng nhiên để ý đến cái bóng dáng nhỏ bé, xuất hiện lạ lùng giữa những hàng tường sách vở.


Nhất định không phải tại cái dung nhan hàm tiếu đó. Nhưng những quyển sách, những tạp chí cô thiếu nữ để mắt tới, cầm lên xem. Không dung dị với cái tuổi của nàng. (Chàng thầm nghĩ, trong đầu óc xinh xắn ấy chất chứa một cái gì khác thường. Cô bé học ở đâu vậy kìa? Tuy vậy, chàng không phải là người dễ bị sắc đẹp lung lạc.

Cái xã hội bất ổn vây quanh, chàng lãnh đạm. Sá gì cái hình ảnh của một vẻ đẹp còn e ấp. Nhưng sao từ lần quan tâm ấy, cuối tuần nào chàng cũng ghé con đường đó. Như một cuộc hẹn hò.) Bắt đầu cho cái bóng dáng thân quen từ xa, mái tóc óng mượt tự nhiên của tuổi mới lớn. Màu áo nhã, hợp thời trang (Mẹ chọn cho đấy, mẹ bắt con gái phải làm dáng). Cái tướng đi nhanh nhẹn biểu lộ sức sống, phơi phới tuổi dậy thì. Gặp, bất chợt, chàng dừng lại ở bên này đường nhìn cái bóng thoáng qua đó, rồi chàng quay đi vào ngõ rẽ khác, ngồi ở một quán cóc hè đường uống một ly cà phê đen nóng chát chờ thời gian chậm dần trên những tàng cây me, mới quay lại khu sách cũ. Khi nàng đã đi khuất.


Có một buổi chiều, mưa ủ dột kéo xuống thành phố không đủ lớn để ngập đường mà rả rich từ giờ này qua giờ khác, chàng ngồi trong tiệm nước nhìn qua khung cửa kính chờ đợi. Nàng không xuất hiện, có phải trận mưa giăng mắc đã làm bay đi những con chim sẻ thường sà xuống trên những mái cao ốc, cũng đã cầm chân nàng ở lại nhà, trong hướng nào của thành phố? Chợt, chàng nhận ra rằng một cảm xúc đã đọng lại sâu trong tiềm thức…Nhớ. Như nhớ một người bạn thật xa xăm. Chàng cười thầm tự chế diễu, hỏng thật tại sao lại để tình cảm vụn vặt chi phối mình như vậy, đồ ngốc. Hãy nhìn ra ngoài đường phố! Những lầm than đang che giấu dưới cái thanh bình của trận mưa hiền hòa đó. Cơn mưa cũng qua đi, và những rác rưởi của đời sống sẽ đầy ngập dưới ánh nắng gay gắt. Những xung đột tự nhiên ấy như chống chỏi nhau mà sao chàng vẫn cảm thấy không thể cưỡng lại được.


Có thật, mi đang tự đánh lừa. Đương đầu với thực tế đi. Thủ xem nàng thơ của mình (a, bỗng dưng chàng đã tô điểm cái hình ảnh ấy một tên gọi yêu dấu, và cuộc phiêu lưu kỳ thú của nàng. Khi những trận mưa giao mùa đã qua, nàng lại có thể ra khỏi nhà vào cuối tuần, không sợ mẹ la rầy, trở lại con đường của những quay sách cũ, buổi chiều nắng còn vương trên những tàng cây, hơi thở khô hanh như người vừa ốm dậy, trong lòng tự nhiên hớn hở. Những tuần lễ xa vắng, hẳn mấy người bán hàng tìm được về nhiều sách mới. Chim sẻ về mùa này trên những cành hoang trong vườn cây - nghe như một câu thơ của người nào đó. Lần đầu, chàng cố tình đi theo sát nàng qua những hàng sách.


Cộ bé dường như hôm nay vui (chàng nghĩ thế). Có thể họ đã nhìn thấy tập thơ ấy cùng lúc, khi bàn tay chàng vừa định với ra thì nàng đã cầm quyển sách lên, chăm chú đọc những trang đầu. Chàng đứng khựng lại, dùng dằng không biết nên bỏ đi ? (Cô bé, cô có biết tôi cũng đang tìm kiếm tập thơ đó). Để giữ vẻ bình thản, chàng lật một quyển sách gần tầm tay. Như một tình cờ sửng sốt, bởi vì nàng vừa ngẩng lên, ngó sâu vào mắt chàng, nói một lời thật tự nhiên. “Ông có thể dịch cho em đoạn thơ này được không? Em không hiểu.”

Giọng nói trong như ngọc, mà nhẹ như hơi thở trẻ thơ. Ngón tay nhỏ, xinh xắn chỉ trên trang sách: ...Portes ouvertes sur les sables, portes ouvertes sur l'exil Les clés aux gens du phare, et l'astre roué vif sur la pierre du seuil; Mon hôte, laissez-moi votre maison de verre dans les sables... L'Été de gypse aiguise ses fers de lance dans ses plaies J'élis un lieu flagrant et nul comme l'ossuaire des saisons, Et, sur toutes grèves de ce monde, l'esprit du dieu fumant déserte sa couche d'amiante. Les spasms de l'éclaire sont pour le ravissement des Princes en Tauride.



Bài thơ khó dịch thật - chàng thú nhận, nhưng Perse lại là thi sĩ chàng ưa thích. Những cánh cửa mở ra trên cát, những cánh cửa mở ra trên lưu đày. Như giao ngộ của biển và đất liền, thềm đá, vì tinh tú lấp lánh, những chiếc khóa của căn nhà kính với những người gác hải đăng, những chiếc khóa biểu trưng sự lưu đày, chọn lựa một thinh không như ngôi nhà quàn trọn đời, trên mỗi bãi biển của trần gian này, Exil phải chăng là tiếng vọng lưu đày của những người biệt xứ khi đất nước bị chiếm đóng ? (sau này,nhiều lần chàng trở lại bài thơ bất hủ đó, nhưng biết đâu chẳng phải một kỷ niệm khó quên của cuộc gặp gỡ ban đầu, tập thơ xuất bản lần thứ nhất ở Chicago vào năm sinh của chàng, bài thơ mang ý nghĩa cuộc sống thực tại, em có thấy chúng mình cũng đang đọa đày trên một đất nước bị đế quốc chiếm đóng.) Những ý nghĩ của chàng thật bất ngờ. Khiến nàng lo ngại từ những lần hẹn hò về sau.

Nàng cảm thấy bé bỏng trở lại trước cá tính bướng bỉnh, ương ngạnh của chàng. Cuộc sống - chàng như một con sói cô độc. Họ đã ngồi với nhau ở quán nước, nơi chàng đã nhìn qua khung cử kính chờ đợi nàng xuất hiện trong cơn mưa (và nhớ, đã tương tư nàng từ thuở đó), sau khi đi qua những gian hàng sách, để nàng chọn một vài quyển sách mới, vào những buổi hẹn hò cuối tuần. Chàng cũng lắng nghe nàng kể những điều mơ ước, những câu chuyện nhỏ xảy ra trong đời nàng, trong ngưỡng cửa lớp học, trong gia đình. Nàng để ý, dường như từ khi quen chàng, nàng bắt đầu biết làm dáng.


Nàng cười đùa với bạn bè trong lớp hơn lúc trước. Những cuộc gặp gỡ êm đềm ấy, nàng vẫn giữ kín một mình. Như một niềm bí mật, thăm thú một thế giới mới lạ. Thế giới của chàng. Không, nàng nghĩ, cái thế giới ấy phải của hai đứa, với một biên cương ngăn cách với xã hội bên ngoài. Từ cái lối đi qua một phố chợ, những bức tượng tôn giáo cao lớn hơn người thật bầy ngổn ngang bên lề đường của mấy tiệm tạc tượng, khi cơn mưa đầu mùa làm ngập lụt, nàng phải vén cao ống quần trắng, tay sách dép khi tới căn nhà của chàng.

Căn nhà lá phủ một lớp tôn trên mái, cửa nhìn ra những bụi chuối bên một con mương đầy lá xanh. Thế giới của chàng đó, những nét vẽ đầy khắp, trên vách, trên hai cánh cửa, trên giá gỗ ở ngoài trời. Những mẫu phác họa vội vã, còn nguyên sơ hình ảnh vừa bắt gặp, như những sợi tơ trời bay lượn trong không gian tinh khôi. Và bây giờ, thêm sự hiện diện của nàng. Con người chàng, sự nổi loạn vô trật tự. (Tại sao anh đang theo học Y Khoa, lại bỏ ngang sang bên Văn Khoa.


Rồi chưa đầy một năm, anh lại xin vào Mỹ Thuật. Tại sao anh lại bỏ học. Những thắc mắc tìm hiểu về sự hoang đàng phá phách đang diễn ra trong tâm hồn chàng). Không gian như chưa đủ kích thước cho chàng. Những kinh kệ - nói theo ngôn ngữ của chàng - như ám ảnh chàng thường trực, ru chàng vào một võng lưới hoài nghi khôn cùng. Kiến thức đời không giữ gìn chàng yên phận. Chàng không muốn giam mình trong bốn bức tường trắng bệnh viện, khi những vết đau da thịt không trầm trọng bằng cơn nội thương xã hội - con người cá thể có nghĩa lý gì trong hạnh phúc khi toàn bộ đại thể đang đắm chìm trong khổ nạn.

Mà xã hội, viên thầy thuốc không còn đủ thiên chức, khi mảnh bằng chuyên môn được đánh giá bằng tiền bạc. Sách vở từ chương cũng chẳng tạo thêm niềm tin cho thế giới trước mặt hiện tại. Học vẽ, không gian của thẩm mỹ như đưa nhãn quan vào một cảnh giới khác, những tạo hình đoạn lìa với thực tế trước mặt. Trốn lánh thực tại, có phải ? Không, chàng đang đi tìm một chân trời tự do chưa hiện nét. Nàng với trực giác linh khiếu nào đó, như thầm hiểu điều đó.

Như tình yêu vừa chớm nở. Kể cả, tính bướng bỉnh vô cùng của chàng. Trong cái guồng máy xã hội nhập nhằng, những quán lệ bàn giấy giăng mắc, cuộc chiến tàn bạo đến đâu, chàng đã từ khước tuân hành, kể cả một thủ tục đơn giản như khai báo bằng cấp. Điều này, nàng không biết và thật tình không bao giờ để ý. Bạn bè chàng - nàng cũng không gặp mặt. Họ đến và đi như những chiếc bóng vô hình, nhưng họ vẫn hiện diện trong căn nhà lá của chàng. Những bức phác thảo để lại. Những bài thơ viết trên mặt vỏ bao thuốc lá.

Những ý tưởng dữ tợn lạ lẫm đối với nàng (Thế giới của đàn ông, có phải?) Dường như có một thỏa hiệp ngầm của họ với chàng, không bao giờ xuất hiện trong những giờ giấc của nàng. Mà hình ảnh nàng đối với họ chắc là thân quen lắm. Trên khung giá vẽ còn dở dang. Trên cánh cửa, nét phấn tiên mơ hồ huyền ảo. Thấp thoáng trong câu thơ của một người bạn chàng, viết để hình dung bông hạnh nở giữa bầu trời bão tố (một lời khen ý nhị, có phải? - nhưng ý nghĩ thật kỳ dị).


Khi mùa mưa tới, nước dâng ngập đường mương, ngoài vườn cỏ cây sũng ướt, nàng không thể ngồi bên bờ mương đong đưa đôi chân lắng nghe chàng kể những giấc mơ thần tiên của một xã hội mới. Đời sống hiện tại, chưa là hạnh phúc sao. Chợt bừng tỉnh trong óc nàng, những khó khăn vấn nạn xao xuyến giữa mộng, thực tương lai chập chùng diệu vợi. Dù chàng hiện diện đó, nhưng sao nàng vẫn lo nghĩ. Liệu có ngày, chàng cũng đi biền biệt như những người bạn kia. Bỗng dưng nàng sợ hãi nếu mất bạn. Có phải, tình yêu là thế. Mưa, bầu trời mù hơi nước dăng dăng khắp không gian. Trận mưa đầu mùa kéo ập tới lúc nào không hay, khi nàng ngồi tựa hai khuỷu tay vào khung cửa sổ nhìn mông ra ngoài. Chắc hẳn khuôn mặt tư lự phải ủ dột lắm khi chàng tiến lại ôm vai nàng.

Cơn lạnh như biến đi trong vòng tay chàng, lần đầu, họ thân mật với nhau (Anh muốn ghi lại nét buồn phiền, nụ hôn đầu lạ lẫm, ngọn nến thắp nóng châu thân, hãy cởi bỏ những gì còn ràng buộc trên vết son ngà ngọc, thân thể em đó như thuở ban sơ, đôi mắt anh trở thành tấm gương để em nhìn thấy rõ bản thể, sao em không thấy ngượng ngùng đối với anh, không gợn một chút e dè như thể mình đã quen biết rõ nhau từ tiền kiếp, khi em dựa đầu vào ngực anh, vòng tay chàng quanh bờ hông, đôi mắt chàng rực một ánh lửa đam mê nồng thiếp em-con-gái-dậy-thì như bồng đảo nhũ hoa căng cứng, sự sống có phải dội lên trong con người anh, người đàn ông thứ nhất em thấy không phải trong những câu chuyện tình hoang đường, tiếng nói đang thầm thì trong trí tưởng nàng, em sẽ dâng hiến anh như một người đàn bà cho một người đàn ông, như nhụy hoa quyến luyến loài ong mật, hãy thăm thú thế giới em bằng đôi tay anh đó, có thể đôi má em đang ửng hồng vì hạnh phúc, vì tình yêu cháy sáng, vì mùa xuân đang tỏa rực nơi những đường gân huyết mạch, nàng cảm thấy như chắp thêm đôi cánh bay giữa thinh không vắng lặng, ý nghĩ tiếp theo ý nghĩ, hạnh phúc sắp đến đó sao, một cái gì tưởng chừng gọi tên là đôi lứa…) Bỗng chàng vươn dậy thoát khỏi hai thân thể đang áp chặt lấy nhau. Một âm động nhẹ như tiếng thở dài.

Chàng khoác vội chiếc áo choàng đầy những dấu sơn vào người chạy ra ngoài khung cửa ngỏ, giữa trời mưa. Mãi về sau, nàng còn nhớ hình ảnh lúc đó, nàng ngồi lặng như thể trong cơn hư vô tĩnh mịch, chợt thấy thân thể rùng mình như tự trời cao bay xuống thấp, trước khi mặc lại vào người tất cả nhung phục của một đời con gái. Tại sao chàng lại xa rời. Lạnh lùng như thể không phải là tình yêu. Nhưng anh ơi, nỗi sượng sùng này sẽ đeo đuổi suốt cuộc đời còn lại. Một kỷ niệm không cùng. Thời khắc như dừng sâu mãi tới khi chàng xuất hiện bên nàng. Mưa đã ngớt ngoài trời. Đầu tóc chàng ướt đẫm. Anh xin lỗi - chàng thì thầm.


Sau này, em sẽ hiểu. Em hiểu. Chúng mình vẫn là của nhau, sẽ không bao giờ xa cách. Như một lời thề nguyền. Em sẽ không bao giờ giận anh cả. Nhưng hình ảnh này, một nỗi khắc không rời. Nàng tự hứa, thân thể này sẽ là của anh mãi mãi. Thoáng hạnh phúc vừa tìm thấy, như một ẩn số mơ hồ. Nàng cảm thấy trưởng thành, chưa bao giờ lớn lao, chin chắn đến thế. Kể cả mai này, tương lai mù mịt.

Không, nàng sẽ không bao giờ quên, khoảnh khắc tương thân duy nhất ấy đã trói buộc tâm hồn nàng vào một định mệnh không ngờ. Như những đường nét còn bỏ dở trên khung vải. Khuôn mặt nàng còn phủ một lớp sương chưa tạo hình. Khi nàng quay trở lại, mở khóa cửa ngồi đợi chàng suốt một ngày hẹn cuối tuần. Vắng lặng. Không mẫu giấy viết dặn dò. Chàng có bao giờ đi lâu như vậy. Nhìn những lớp màng nhện giăng góc phòng, nhìn những tập sách để bừa bộn. Chiếc tẩu gác giá bút. Những mẫu thuốc trong lòng chiếc khay gỗ nhỏ. Sự hiện diện của chàng còn đầm ấm, nồng nàn trong căn phòng nhỏ, trong lòng nàng. Mãi cho tới khi bóng tối ập xuống ngoài trời, nàng phải về. Ngày hôm sau, nàng bỏ giờ học cuối để quay trở lại. Không thể chịu đựng hơn nữa. Nàng biết, có một ngày chàng sẽ bỏ đi, như người xưa đi tìm một vùng thiên thai hứa hẹn. Đi như thể chia lìa với thực tại.

Nhưng không thể vào lúc này, nàng nhủ thầm. Bỗng dưng, không gian như tỏa xuống nỗi trầm thân khổ sở, nghe như trong trái tim bé nhỏ của nàng. Hình ảnh chàng càng đầm ấm, nồng nhiệt. Thời khắc qua thật mau, nàng lắng trông bước chân nhẹ trên lối đi bên ngoài, nàng tưởng tượng một giọng nói thì thầm vây quanh. Một tâm cảm lắng sâu, lạ lùng. Nàng muốn nói lớn một mình, anh không thể xa em như vậy. Nàng viết ý nghĩ đó trên trang giấy tập vở và để lại trên bàn trước khi ra về. Những ngày sau không thể bỏ học được.


Nàng tưởng tượng thấy bóng dáng chàng đứng đợi trước cổng trường. Nỗi giận hờn tràn ngập trong thất vọng. Khi nàng trở lại chốn cũ, một bức thư lạ tin cho nàng rõ, chàng đã bị bắt đưa lên quân trường, người ta phát hiện ra chàng đã ngoan cố không khai báo bằng cấp nên bị tống ra một trung tâm huấn luyện ngoài miền Trung. Phải đợi một thời gian mới được liên lạc với bên ngoài. Người bạn chàng viết, tôi không tin anh ta chấp nhận tình trạng áp bức bất công này.


Nàng đứng lặng người, từ thuở lớn lên chưa bao giờ bàng hoàng não nùng kinh động như vậy. Tâm cảm thảng thốt, trước thực tế phũ phàng. Nỗi bất lực yếu đuối. Không biết ngỏ cùng ai. Nhìn quanh, những kỷ niệm nhạt nhòa mộng ảo. Làm sao giữ trọn những kỷ vật này, trong khi nàng còn quá nhỏ bé. Bỗng như một tia chớp lóe trong đầu, nàng ghi lại mấy dòng nhờ những bằng hữu chưa gặp mặt của chàng giữ gìn mọi vật trong nhà cho chàng. Khi phải trở lại nhà, gặp mặt mẹ, nàng muốn chạy lại ôm lấy mẹ để nói một câu tâm sự, mẹ ơi con khổ sở quá. Nhưng không thể, nàng chưa hề nói chuyện quen chàng cho mẹ. Nàng vẫn chỉ là con gái nhỏ của mẹ. Nhưng thuở xuân thì, đối với nàng, từ nay vĩnh viễn biền biệt.






Tuổi trưởng thành của nàng có thể bắt đầu từ mái tóc để dài óng mượt, những chiếc áo dài trắng ôm sát thân hình vừa nở trộ tự nhiên, ngày tháng không ngừng qua kéo dài niềm u uẩn không biết ngỏ cùng ai. Khi nàng trở lại chốn cũ, một lần đã lâu lắm, nhà đổi chủ, ngập ngừng đứng ngoài cửa nhìn vào, hình ảnh cũ chỉ còn trong trí tưởng, những bức tranh, kệ sách, giá vẽ đã biến mất - thay vào đó, một trang thờ thô sơ, giường chõng lỏng chỏng, những nét vẽ trên hai cánh cửa đã bị than đen bôi lem luốc nghịch ngợm. Lòng chùng xuống một nỗi buồn ơ thờ cho một dấu vết quá khứ chìm ngập. Nàng cũng e ấp không dám hỏi thăm tin tức về chàng. Nàng quay trở ra thật nhanh. Tâm tưởng băn khoăn, biết đâu một người bạn nào đó của chàng chẳng để lại mấy dòng thư cho nàng.

Thuở ấy mới mười bảy, trí khôn tưởng tượng mông lung (chàng hẳn đang nhọc nhằn ở một nơi đày ải, lo nghĩ khổ sở vì đã xa nàng, không một lời từ biệt với nàng, chàng thường nói, em vẫn còn nhỏ bé mãi trong một xã hội bất trắc, đôi lúc nàng ân hận đã không đòi hỏi chàng phải biết địa chỉ nhà ở của nàng, có bao giờ nàng nghĩ đến một lần chia cách khủng khiếp như vậy, để chờ đợi một tin thư không bao giờ đến, đôi lúc đi trên con đường quen thuộc của những quầy sách - đã lâu lắm nàng mới lại ghé, những cuối tuần mệt mỏi vì bận rộn bài vở nhà trường và buồn rầu vì thiếu vắng bạn, nàng lại mơ ước sẽ gặp chàng ngồi đợi ở quán nước như những lần hẹn hò thuở trước (cơn mộng mị qua đi như ảo ảnh), nàng lại giận hờn như người bị phụ tình, nỗi day dứt không rõ nên trách bạn hay oán giận đời).

Những trang sách đọc mất dần lý thú, vì không còn những ý nghĩ của chàng thật bất chợt và lạ lùng đã chia sẻ với nàng. Thế giới không mơ mộng như khung cảnh trăng của tuổi mười ba, thế giới đầy những luật lệ ác độc, xã hội đã cướp đi của nàng người yêu dấu. Người đàn ông thứ nhất trong đời nàng, tưởng là tình riêng mãi mãi. Nàng đã lớn, nỗi ám ảnh một trao duyên thân ái, một vòng tay đầm ấm.

Nàng không thể đuổi xua kỷ niệm ái ân tuyệt vời lần đầu ấy. Nàng như muốn khóc, những giọt nước mắt trong đêm mộng mị, người con gái tủi thân cho sự cô đơn bất chợt ập đến. Những niềm tâm sự ấy, nàng tự hứa phong kín trong lòng, không bao giờ ngỏ với những người bạn gái. Tuổi dậy thì, bằng hữu thủ thỉ cho nhau nghe những điều hiểu biết về một thế giới bên ngoài, những chuyện tình lý thú, những tưởng tượng về một đối tượng khác phái, thân xác đàn ông, những nụ hôn đầu vụng dại, những cảm xúc hiếu động, thăm thú trong khung cảnh hẹn hò hoang sơ của tuổi trẻ. Nàng cũng tò mò lắng nghe những câu chuyện gẫu của bạn bè. Hình ảnh người đàn ông qua hiện thân chàng lại tha thiết trong cõi riêng nàng.


Có lần một người bạn hỏi nàng đã biết yêu chưa, nàng chỉ mỉm cười không trả lời. Nói thế nào về người yêu, nàng tưởng chừng như đã vĩnh viễn trao thân gửi phận cho chàng. Điều bí mật ấy của riêng nàng. Ngày tháng qua, vết thương lòng như dao cắt không lành tưởng chừng như tuổi đời đã già cỗi, tưởng chừng như người yêu không còn trên thế gian này.


Nàng thấy mình thật lớn, nhưng dại khờ. Có lần người bạn gái mới quen ở năm cuối cùng bậc Trung Học nhất định đòi nàng nghe một chuyện thầm kín. Nàng yêu người thầy học cũ, cuộc tình ấp ủ đã hai năm. Làm thế nào để người mình yêu hiểu tâm sự, cô bạn hỏi. Nàng lại nhớ chàng, ý nghĩ thoáng đến trong tâm tưởng nghi hoặc về chuyện của mình. Liệu chàng có thật yêu nàng hay nàng chỉ là một người bạn nhỏ bé chưa bao giờ ghi khắc trong trái tim chàng. Nếu chàng yêu, dù khó khăn cách trở chàng cũng phải tìm về nàng. Nhớ phút giây thân mật, chàng lại vùng bỏ trốn. Nàng muốn ngỏ với bạn, nhưng nàng ngại những điều nói ra làm thương tổn hình ảnh chàng, khiến nàng ngờ vực cuộc tình của mình. Người bạn gái quả quyết, nhất định sẽ chiếm hữu hoài vọng của mình. Rồi một ngày mình phải được yêu, dầu có thế nào. Bỗng dưng nàng cảm thấy dại khờ trước bạn. Tình yêu chỉ đến một lần, nàng chẳng biết chủ động.


Và kỷ niệm như chìm sâu. Những giọt nước mắt sầu muộn dưng dưng khi nàng ngồi thơ thẩn một mình trước những tập sách vở trên bàn học. Nàng viết những ý nghĩ lần đầu trên một cuốn sổ nhỏ, tưởng chừng như để nói với chàng, để chinh phục chàng (những ý nghĩ đến từ một vùng trời thân ái nào, thật táo bạo, khi ngỏ cho chàng hiểu tâm hồn thơ dại đã dào dạt những say đắm đam mê ngày gặp gỡ, những ý nghĩ thám hiểm cõi yêu mông lung đầy ác mộng, những giận dữ nổi loạn đời, những thoáng kỷ niệm trong căn nhà cũ, những nét phác họa dở dang một không gian suối hoa mật ngọt nào của tương lai, song điều chân thật sâu kín nhất của nàng là niềm nhớ mãi khi hai thân xác gần kề vẫn ám ảnh không rời, nàng nhớ chàng, nỗi nhớ của một người tình chăn gối).

Những dòng chữ đã hiện ra trên giấy, tiếp nối nhau dàn trải một quá khứ đong đầy nhung nhớ hiện tại, như những lá thư không gửi. Nàng hứa, rồi một ngày phải đến tay chàng (hẳn chàng ngạc nhiên về những ý nghĩ khôn lớn của nàng - những năm tháng xa cách, thời gian đã bào mòn ước mộng ban đầu, chàng sẽ sững sờ trước dung nhan thiếu nữ của bạn). Cuốn nhật ký đầu tiên trong đời, có phải viết chỉ vì tình yêu chàng. Một nỗi u hoài nghẹn ngào. Cho một hình bóng tuyệt mù trong khung cảnh bình lặng của thành phố.


Nỗi nhỏ nhoi của riêng mình, giữa sự quay quần chung quanh của gia đình, mọi người như thờ ơ với nỗi đau khổ nàng mang theo từ thuở xa chàng. Không một ai hiểu rằng nàng đang chờ đợi, kể cả người bạn thân nhất của nàng. Đôi lúc nàng thấy có lỗi với bạn khi giữ kín tâm sự của mình. Người bạn đã thổ lộ cả sự dâng hiến toại nguyện cho người tình, chiếc khăn kỷ niệm những giọt máu hồng trinh nguyên.


Cuộc tình có phải bạo dạn như vậy. Niềm hạnh phúc của bạn khiến nàng bâng khuâng cho nỗi nhớ thiếu vắng chàng. Nàng cảm thấy yếu đuối, bất lực vì không thể ra đi tìm kiếm chàng. Đất nước này, những thành phố xa lạ, những vùng địa đầu muôn trùng cách trở đối với nàng vẫn sống bao vây trong khung hẹp của thành phố nàng ở. Nàng tự nguyện rồi một ngày, nếu vẫn không có tin tức chàng, khi đã ra khỏi trường học, nàng sẽ đi làm, sẽ khôn lớn để có thể tìm thấy chàng, dầu chàng ở bất kỳ phương trời nào. Sao bỗng dưng nàng tin tưởng chàng vẫn chờ đợi.

Có thể cuộc đời của một người con gái không hẳn là giấc mơ chờ đợi. Nàng vẫn biết ngày tháng không chỉ làm cho thân hình nẩy nở, mái tóc thiếu nữ thêm óng ả, thời gian khuôn đúc một nhan sắc quyến rũ những chàng trai trẻ đứng ngây ngất chiêm ngưỡng ngoài cổng trường, những lời tán tỉnh săn đón, những bó hoa kèm theo danh thiếp gửi tới nhà, những thiệp Giáng Sinh sưu tập từ nhiều nước. Tâm hồn nàng vẫn băng giá với những chuyện ngỏ ý kết bạn. Nàng cũng khước từ làm phù dâu những đám cưới của bạn bè.

Vẻ cô độc khép kín với bên ngoài khiến mẹ nàng để ý lo ngại, bà lại than thở “nó đã trổ mã con gái mà tâm tình vẫn như con trai” (bà nghĩ, vì thế mà nàng lạnh lùng với sự cầu cạnh theo đuổi của những chàng thanh niên.) Đôi lúc bà lo ngại con gái lỡ tuổi quá thì. Điều bất ngờ đến với nàng, bà mẹ thường trò chuyện với mấy người bạn về chuyện hôn nhân của con gái (như bất kỳ những bà mẹ nào khi con gái đến tuổi lấy chồng). Bà mẹ nhờ nàng ra rót nước mời khách, có những người đàn bà lần đầu tới nhà, những ánh mắt lạ của mấy chàng thanh niên trong đám khách khứa. Rồi mẹ nói với nàng về người này, người kia. Nàng mường tượng như mẹ nàng thăm dò con gái về một vài người ưng ý mẹ.


Bà không nói đến hôn nhân, nhưng bỗng dưng lòng nàng se thắt hoang mang về số phận mình. Làm sao mẹ hiểu được lòng con, nỗi khắc khoải chờ đợi một người, bất hạnh trong một xã hội đọa đày, nếp sống và nếp nghĩ không thể thích nghi với những người chung quanh. Mẹ cũng không thể tin rằng có chàng trên đời này, con người bướng bỉnh trước cuộc sống đã từ bỏ quán lệ dễ dãi của danh vọng để đi tìm một cái gì lý tưởng mịt mùng ở phía trước. Nói thế nào để mẹ biết, nàng đã yêu một người mất tích biền biệt khỏi cõi riêng tư của nàng. Nỗi khổ như chìm ngập vào niềm cô đơn từ bấy lâu - kể từ khi mẹ nói nhiều đến một người thường lui tới thăm gia đình, chàng thanh niên ấy được mời làm khách trong một bữa ăn chiều với gia đình và cha mẹ còn cho phép chàng mời nàng đi nghe nhạc buổi tối. Nàng không thể khước từ.

Lần đầu tiên trong đời, đi ra ngoài với một người thanh niên không phải là chàng. Nàng thờ ơ với cảnh vật, dường như còn mang vẻ lạnh lùng trước sự ân cần của bạn. Nàng cũng chẳng nhớ hết những điều bạn nói về hiện tại, về thân thế chàng, hỏi han về nàng. Nàng cũng không để ý nhân dáng hay vẻ lịch thiệp của bạn. Nhưng điều khiến nàng u sầu là bạn đã nói thẳng ra ý định kết hôn với nàng và cha mẹ nàng chỉ còn đợi ý kiến nàng. Cố dấu vẻ phiền muộn với bạn, nhưng lòng nàng tơi bời não nề trước thực tại bất ngờ.


Mẹ lúc này hay nói với nàng, con gái lớn rồi phải lấy chồng.
Những năm tháng trước đây, khi nghe tin chàng bị cưỡng bách nhập ngũ, nàng đã không thổ lộ niềm đau khổ với mẹ. Bây giờ, tình thế du nàng vào chỗ khó xử. Không biết than thở cùng ai, nàng chỉ còn viết cho chàng, trên trang nhật ký. Nàng nhất định không nói đến những người thanh niên khác, nàng chỉ nói đến nỗi xót xa gầy héo như đã có lỗi cùng chàng. Thiếu vắng chàng, nàng không biết phải xử trí thế nào, nhớ chàng thường nói giỡn, em hãy đi hia bay dặm đời trong xã hội này.

Thuở ấy, xã hội thu hẹp trong mắt nàng qua gia đình và trường học. Những xao xuyến về xã hội trong những điều nàng đọc chỉ như bài toán đố trí khôn và hình ảnh ngạo mạn nơi chàng. Giờ đây, quả thật xã hội hiện hình nanh vuốt độc ác cướp chàng đi mất và những phiền toái để lại vây quanh cõi nàng bé nhỏ. Mối khổ tâm thầm lặng day dứt trong lòng, sách vở trước mặt thật vô duyên. Cuối năm học, nàng thi rớt Toàn Phần. Trong những ngày tháng hè, nàng lấy cớ phải học luyện thi để từ chối đi chơi với hôn phu (người thanh niên ấy đã chính thức được cha mẹ nhận lời). Nàng lại đi lang thang trên con đường sách cũ, thơ thẩn trở lại khu vườn xưa, bờ mương xanh lá như hoài niệm một trời tương tư vô định.

Nàng buồn bã cho nỗi hư hỏng của mình, không giữ lời tự nguyện với chàng, không thật lòng với cha mẹ. Những ý nghĩ mông lung về ngày mai phiền muộn phải sống với một người xa lạ, bỗng nhiên tinh thần hốt hoảng mơ hồ. Cuộc đời đã thật sự bước sang một ngã rẽ khác, khi nàng thi hỏng và đám cưới tiến hành ngay vào mùa thu đó.

Thế giới của sách vở thuở nào ru nàng vào một vùng đam mê mường tượng đã không cứu vãn tâm hồn nàng tơi bời trước một thực tế của đời người con gái - hình ảnh chàng càng xa vời miên viễn, như một cơn giận dữ thịnh nộ (đôi lúc, nàng oán trách sự hiện diện của người tình ấy, lấy đi cõi yêu đương một thời) những dòng chữ trên những tờ rời lơi dần vì một cuộc sống mới, cuộc sống gia đình lạnh lùng (lỗi có phải ở nàng ? sự dửng dưng nơi tâm hồn cũng trầm trọng như một cơn bệnh lãnh cảm, ấn tượng buổi đầu của giao ngộ đôi lứa chẳng để lại xúc cảm rung động dầu là vết đau thân xác, có thể những giọt nước mắt vẫn âm ỉ nỗi hờn giận riêng, giấc ngủ triền miên nhọc mệt, những lời nói vô nghĩa và cơn khủng hoảng nội tâm kể từ ngày đó.

Nàng cũng mơ hồ xót xa, có thể bất lực trước nghịch cảnh, người đàn bà bắt đầu cuộc đời làm vợ đã không được sửa soạn sự an phận, sống chung với một người khác - người chồng sau tuần lễ đầu chăn gối nhận ra một điều tế nhị, đôi lúc nàng âm thầm như một chiếc bóng. Chàng hỏi nàng có cảm thấy hạnh phúc. Tiếng hạnh phúc như một âm vang mỉa mai. Có thể trong tuổi đôi mươi của nàng, thoáng hạnh phúc một lần như áng mây bay cùng với kỷ niệm, khu vườn cỏ có con mương ngập lá, đời sống như kỳ ảo với một người bạn thân thiết, hiểu nhau. Nếu có thể gọi là hạnh phúc. Bây giờ nàng không biết trả lời thế nào, những cử chỉ săn sóc của người nọ chỉ có niềm đáp ứng chịu đựng nơi người kia.

Trong lòng, nàng không ác cảm với người chồng. Những lần trọn vẹn tiếp giao xác thịt không làm thay đổi nỗi dửng dưng chia cách) và nàng cứ đắm chìm trong cơn mộng hụt hờ. Cuối tuần nàng thường lấy cớ về thăm nhà để lại lang thang một mình trên con đường quen thuộc, ghé quán xưa ngồi bâng khuâng trước ly nước ngọt, nhìn ra khung cửa kính (chờ đợi không một ai, nỗi tương tư héo hắt, niềm hoài vọng một người có phải, bỗng dưng lòng nàng chạnh đau như gánh thầm một tội lỗi; đời sống không mông quạnh như hoang đảo, người đàn bà ngồi một mình gặp những phiền lụy khó tránh, những người đàn ông thường quen ngồi quán nước đã tưởng tượng một miếng mồi ngon quyến rũ, lại bàn sỗ sàng hỏi chuyện), giờ này người chồng hẳn đang đánh bài với bạn hữu,


cũng có thể đang vùi đầu học chuẩn bị cho một kỳ thi quyết định, nàng chẳng để ý đến cuộc sống lứa đôi buồn bã như vậy, những canh bạc tại nhà, bạn bè tụ tập nói chuyện tương lai, công việc tiến thân (tuyệt mù không một mảy may ưu tư thời thế, như nhãn quan của chàng), đôi lúc nàng tự nhủ, có phải chàng đã ảnh hưởng đến nếp suy nghĩ của nàng, làm tâm hồn nàng biến thành cằn cỗi, nàng không thể chịu đựng những câu thăm hỏi thông tục của bạn chồng.

Vẻ lãnh đạm làm họ e dè, và người chồng đã phàn nàn điều đó. Nàng để mặc tình và chợt nhận ra khi mẹ hỏi tại sao vợ chồng mới cưới lại không đi chơi với nhau những cuối tuần, nàng chỉ mỉm cười lặng lẽ. Trong năm đó, người chồng nhận chức đi làm Phó quận ở một nơi xa. Bất ngờ vào dịp này, nàng mang thai.

Biến cố đầu tiên đến trong đời người đàn bà có chồng của nàng thật sững sờ như thuở mới lên xe hoa (không sửa soạn cuộc sống chung ràng buộc, những lễ nghi quan hệ với tha nhân, một quán lệ tự nhiên lệ thuộc vào một người đàn ông xa lạ, bây giờ xác thân mang nặng một hình hài không chờ, không đợi) khác hẳn với niềm hoan hỉ của chồng. Họ đã bỏ căn nhà đó, và nàng trở về ở với mẹ khi chàng lên đường.


Trở về mái nhà xưa, tâm hồn người đàn bà buồn tênh như gian phòng bỏ trống, sự xa cách đôi lứa khiến nàng hồi niệm thời đã yêu, và những dòng chữ chất đầy trên những trang giấy (Bạn có thể tưởng tượng, đọc cũng là một vận động của sáng tạo cho nên những điều nàng viết cho bản thân để đọc một mình, cũng tự nhiên như cuộc phiêu lưu vào thế giới của trí tưởng thuở nào, và một thời nàng từ bỏ)

Niềm bí mật ở trong tôi có thể nào giữ mãi mãi khi tôi muốn la hét lớn lên cùng thế giới là tôi có chàng, như một ân sủng tự nhiên đem đến trong thời con gái, tôi đã cùng chàng đứng ở bên này con sông đời khốn khó; nhìn qua vực thẳm thấy chập chùng những huyễn ảnh hạnh phúc, tôi vẫn tin tưởng một ngày hạnh phúc sẽ đến với hình tượng chàng cao vòi vọi, chàng như trang sách mở đầu khung cảnh mới những bất ngờ tuyệt hảo của sự sống, chàng dẫn tôi vào những lập thể tạo hình của tư tưởng, nghĩ cho động não những gian nan xã hội, sự hiện diện bất khả nơi chốn này, chàng mang những trái bộc phá sẵn sàng nổ giữa đám đông vây quanh, song có lúc chàng xa vời như chân mây, đầu sóng.

…Hãy mở cửa ngỏ cho chúng tôi sống với nhau căn nhà thơ ấu, khi ấy chúng tôi mới quen biết nhau, đã thấy trong nhau sự đọa đày của cuộc đời bên ngoài, như một câu thơ của Perse: L'exil n'est point d'hier! Chàng như giấc mơ xưa trở lại, vầng trăng kỳ diệu của thời hồng hoang, rọi chiếu trong tôi những ấp ủ trưởng thành cùng thời đại. Có thật tình yêu đã đến trong tôi, khi chàng đem lại cho tôi vẻ màu nhiệm của thân thể, những cảm giác đam mê nồng ấm với hơi thở bên nhau, lần thứ nhất chạm mặt, chàng thấy vẻ con gái của tôi.

Cuốn sổ nhỏ viết cho ngày tháng dài cô quạnh, chỉ hình ảnh một người, một đoạn đời, một cuộc tình hao gầy chung thủy. Có thể những ngày tháng dài được sống trở lại thời tự do xưa làm tâm hồn nàng sôi nổi, niềm cô đơn chen lẫn nỗi nhớ nhung dài đặc, nàng quên cả nỗi mệt nhọc mỗi ngày tăng lên của người đàn bà sắp sửa làm mẹ.


Dường như bao nhiêu ẩn ức từ thuở chàng biệt tích đã chất đầy những dòng tâm sự. Mỗi buổi sớm dậy ngồi chải đầu trước gương, nhìn nét mặt sầu muộn của mình, nàng như thấy dấu vết của người tình chờ đợi, thấy cả bóng dáng nặng nhọc của ngày mai tẻ nhạt (Dường như nếu không có những lá thư thăm hỏi của chồng, nàng đã quên hẳn cuộc sống ràng buộc với một người - những biến chuyển trong cơ thể khiến nàng khó chịu lại khiến nàng muốn giam mình trong nỗi cô độc.


Nàng cảm thấy bình an hơn). Cuộc đời làm mẹ bắt đầu khi sinh con gái đầu lòng, cuộc vượt cạn đầu đời đau xé toàn thân, tâm hồn nàng chùng võng mối hoài cảm bất tuyệt. Có thể một tình yêu thương đang manh nha trong lòng, với những bận rộn tự nhiên.

Người chồng cũng vừa trở về dự khóa tu nghiệp dài hạn. Nàng trở về nếp sống đôi lứa, sự hiện diện của người đàn ông và hài nhi - mối quan hệ bất chợt. Có thể họ trao đổi với nhau những lời thân tình hơn, nhưng nàng vẫn ương ngạnh không đồng ý mướn người vú trông nom con cho nàng. Cuối tuần, nàng lại bồng con về thăm mẹ. Nàng không còn cái thú đi lang thang một mình tới con đường quán sách. Nàng học ở mẹ những kinh nghiệm nuôi con, thăm dò những nét biến trưởng nơi một hình hài tự thân nàng sáng tạo.

Mẹ nói, con gái có những nét của nàng, thế mà dường như từ khuôn mặt ấy có một vẻ thân quen nào đó, nàng hình dung, như hình ảnh của chàng. Nàng không dại khờ để nghĩ con nàng là máu mủ của chàng. Nàng chỉ nghĩ, một ngày nào chàng trở lại tìm nàng, nhìn nàng bồng con, hẳn chàng thấy giờ đây nàng lớn thật rồi.

Giông bão đã thực sự đến trong vũng đời thầm thầm nhỏ bé. Quyển nhật ký để lẫn lộn trong một ngăn tủ quần áo, tã lót nào đó (từ lúc sinh con, bận bịu và nàng xao lãng những ý nghĩ để viết), cuối tuần vắng nhà, và người chồng đã đọc. Chàng bỏ dở buổi sáng chủ nhật ngồi uống cà phê tụ tập với bạn bè, đột ngột xuống nhà mẹ nàng, nói nàng gửi con cho bà ngoại để ra ngoài phố, nhưng thật sự chàng đưa nàng về nhà.

Tất cả những khôn ngoan của một người quen việc hành chánh, thẩm vấn, hỏi cung chàng đã dùng để nghiền nát tinh thần nàng trong ngôn ngữ trì chiết. Những điều nàng không ngờ. Chàng hỏi có phải nàng đã mất trinh tiết với người tình trong quyển nhật ký, có phải họ vẫn lén lút gặp nhau, thảng hoặc biết đâu đứa nhỏ chẳng phải là con chàng. Tiếng ngoại tình nghe lần đầu trong đời như tiếng vỡ thủy tinh.


Giọt nước mắt nào thầm rơi trong lòng - không, nàng không hề khóc. Nàng chỉ trả lời, không có gì xảy ra trong đời nàng (không cả chiếc khăn kỷ niệm những giọt máu hồng như bạn nàng. Không ai được xúc phạm đến chàng, dầu niềm bí mật của riêng nàng giờ đã bùng vỡ cơn địa chấn). Khi người chồng giận dữ đóng sập cử bỏ đi, để mặc nàng chìm đắm trong cơn xúc động thẩn thờ. Nàng gọi xích lô trở lại nhà mẹ, khi lòng đã thật lặng thinh buồn bã. Chỉ vì chàng, nàng lại dấu niềm tâm sự với mẹ. Phải ôm con quay lại căn nhà đôi lứa, như bất cứ người đàn bà nết na nào khác. Phải chịu đựng cái nhìn nghi hoặc hằn học của chồng, phải chịu trận khi bị lay tỉnh vào nửa khuya, lúc con đã yên giấc, để nghe những điệp khúc hỏi han về những ngày quá khứ, về một hình bóng vô tình, về một tội lỗi oan ức.

Nàng vẫn lặng thinh. Lòng trong sạch như băng tuyết, song đến giờ này nàng mới thấm thía mối quan hệ tha nhân, sự ràng buộc vô cớ của đời sống hôn nhân, mối liên hệ xã hội, lễ giáo phiền toái đã giăng tủa bó buộc nàng gánh chịu một cực hình không thể thố lộ cùng ai - ngoài chàng, nhưng chàng không ở chốn này. (Thảng hoặc nàng tự nghi ngờ chính mình, có thật nàng đã hiến dâng tất cả cho chàng, nàng không thể nhớ rõ cảm xúc đê mê khi hai thân xác kề bên nhau trong lần kỷ niệm một đời khó quên đó với đêm tân hôn của nàng).


Tuy chịu đựng như một kẻ khổ hạnh, nàng vẫn lặng lẽ giữ thói quen trở về thăm mẹ cuối tuần, cho đến ngày người chồng lên đường nhậm chức. Dường như người chồng đã nói riêng với mẹ, nên mẹ khuyên nàng đưa con theo chồng. Sự gần gũi thân xác trong những đêm tối bất chợt của đời sống vợ chồng chẳng hề thay đổi tâm tưởng nàng - vẫn ơ hờ trong giấc tương tư quan hoài một niềm nhớ lỡ. Tâm hồn nàng, tưởng chừng không mảy may mặc cảm phạm tội. Ở xa, không thể trở về thăm cha mẹ cuối tuần, nỗi niềm bâng khuâng con đường quán sách với những kỷ niệm xưa, nàng như giam mình trong cõi lưu đày khi ngó ra vùng biển cả mênh mông, hình ảnh bài thơ ngày nào chàng dịch cho nàng.

Người chồng ở khung cảnh mới, vẫy vùng thỏa thích với con đường tiến thân, vẫn day dứt ghen tương một hình bóng ám ảnh (người đàn ông tự ái vì địa vị, chìm ngập trong giận hờn khác hẳn với mối tình si ban đầu - dường như cảm thấy bị lừa dối, tước đoạt một hạnh phúc thiêng liêng trên đời), tự đắm mình trong một cuộc chơi mới, nơi tiền bạc có thể rủ rê được nhiều người đàn bà, thiếu nữ thiếu thốn nhẹ dạ. Có thể cái khung cảnh xã hội đã vẽ ra như vậy. Nàng hiểu, sự chia cách khởi đầu từ dửng dưng. Ngày tháng qua nhìn con lớn lên, tuổi đời nàng giá lạnh. Mối lãnh cảm gia đình trầm kha đến độ nàng phải mở cửa tiếp khách lạ, một vài người đàn bà đến thăm chồng bất chợt, nàng quên bẵng cả mối quan hệ thực sự với chàng. Khí hậu cao nguyên khiến nàng trở bệnh, khó thở.

Đứa nhỏ cũng bệnh theo. Khi nàng nói với chồng, nàng muốn ôm con trở về thành phố sống với mẹ, nàng không ngạc nhiên thấy chồng bằng lòng ngay. Chuyến bay trên không trung cao ngất nhìn xuống dải đất nước xanh xanh chập chùng, đứa con nằm thiêm thiếp ngủ trong lòng, nàng như mơ hồ nghĩ đến một người còn đang hiện diện quanh quất nơi nào dưới đó. Nhất định một lần trong đời, nàng phải trao quyển nhật ký mang theo định mệnh khắc nghiệt ấy tới tay chàng.

Về ở với mẹ, tâm hồn nàng êm đềm trở lại, sức khỏe khá hơn. Nhưng mẹ vẫn không bao giờ hiểu được lòng con gái. Sống riêng một đời thầm kín. Mẹ thật vui mừng được tự tay chăm sóc cháu ngoại, nhưng mẹ bảo đàn bà phải theo giữ chồng. Nàng chỉ cười. Ngày tháng ơ hờ, nàng nhận được một vài cánh thư ngắn ngủi của chồng mỗi khi đổi nhiệm sở, thăm hỏi con gái chứ không hề đả động tới việc nói nàng lên sống chung.

Thư lạnh lùng như từ một người bạn sơ giao. Nàng lại lười biếng hồi âm. Gặp lại một vài người bạn gái, nàng cũng chỉ cười khi nghe bạn hỏi về gia đình. Dường như một số ý niệm của xã hội thật xa lạ với tâm hồn nàng. Có một ngày, người bạn gái đã lâu không gặp hội ngộ ở ngoài đường đã nắm chặt tay nàng, xót xa cho hoàn cảnh của nàng. Khi nàng lộ vẻ ngạc nhiên, bạn nói cho nàng hay người chồng hiện thời sống chung với nhiều người đàn bà. Tiếng hạnh phúc được nhắc lên như âm vang mộ phần cô tịch.

Bạn hỏi tại sao nàng chịu đựng như vậy. Nàng không thể trả lời, nàng cảm thấy ngu ngơ trước một thực tại chưa bao giờ sống thật trong đời. Nàng vẫn đi một mình trên đường phố, vẫn khờ khạo tìm kiếm sự thất lạc vô tình. Đôi lúc soi bóng trong gương, ngắm dung nhan tròn trặn của người đàn bà ngoài hai mươi, nàng cũng không thấy động tâm kiêu hãnh về sắc đẹp kiều mị của mình, như hệt thuở còn đi học, nàng bỗng hiểu nàng không biết ghen. Một tình yêu thấp thoáng mất hút, chàng hiện đọa đày ở chốn nào và người đàn ông làm chồng thật không hiện diện quan trọng trong đời.

Nàng vẫn bâng khuâng chờ đợi. Điều bất ngờ. Trở lại con đường quán sách, nàng bắt gặp một tập thơ in từ một thị trấn cao nguyên heo hút. Tên tác giả lạ hoắc, song nhan đề tập thơ nghe như thân quen từ thuở nào. Cái bóng dáng ngôn ngữ của những người bạn chàng. Nàng mua tập thơ đem về và thật bồi hồi xúc động khi thấy tên chàng trên một lời đề tặng. Bỗng dưng nàng nghĩ có thể tìm lại được chàng. May mắn, địa chỉ của thi sĩ để ở trang cuối quyển sách. Nàng không ngần ngại viết hỏi người bạn tin tức về chàng. Thư hồi âm trở lại rất mau, hứa khi nào biết đích xác nơi ở của chàng, người bạn sẽ báo ngay. Thư cũng kể nỗi khốn đốn của chàng trong những ngày tháng qua, bị vây khổn trong một giới tuyến mịt mù tuyệt vọng. Niềm thân ái trên những dòng chữ, nói đến hình ảnh của nàng nơi căn nhà xưa, chỗ gặp mặt bạn bè.


Người bạn viết, tôi không rõ tại sao anh ta lại im lặng với chị như vậy (nàng muốn kêu lên, không phải, anh ấy chưa bao giờ biết địa chỉ của tôi, nhưng nàng cũng chẳng nói điều đó khi viết thư nhắn lại người thi sĩ xin cho nàng hay tin dầu chàng ở bất cứ nơi nào). Bẵng đi một dạo, tưởng như tin tức chàng mịt mờ sương khói, nàng nhận được thư hỏa tốc báo (hình như) chàng sắp sửa bị đưa ra tòa án mặt trận, ở căn cứ đơn vị của chàng. Bây giờ, bây giờ nàng đã thật sự là người đàn bà khôn lớn, nàng có thể ra đi tìm chàng. Thành phố nơi tìm ra tung tích chàng lại chính là nhiệm sở của chồng. Nàng chẳng ngần ngại ghé sở xin phép nghỉ để đáp chuyến bay vào xế trưa lên một thành phố xa lạ. Lần đầu trong đời ở quán trọ, lòng nàng xao xuyến khi nghĩ đến gặp chàng, quyển nhật ký đem theo gửi chàng (hội ngộ, tận cùng của một tâm sự đã được viết ra), đời sống trôi giạt như cuộc lữ không rời, giam mình trong bốn bức tường, một khí hậu xa lạ, những người thân bỗng dưng thật xa xôi tưởng chừng như lênh đênh từ kiếp nào khác, tự nhiên nỗi kinh hoàng ùa ngập vây tỏa tinh thần.

Nàng vẫn biết chỉ cần xuống đường, mướn xe tìm đến dinh thự chồng, một chỗ ở nào đó mà bao nhiêu ngày tháng qua nàng không để tâm. Chắc hẳn nơi ấy an toàn hơn căn phòng trọ trống trơn này. Nàng cũng chẳng hiểu sớm mai, đến một nơi xa lạ đó có thể tìm kiếm được chàng. Đêm xuống vây quanh bên ngoài, ngọn đèn điện tù mù soi bóng trên tường, người sương phụ não nề trong giấc ngủ chập chờn đợi sáng. Đến một nơi đồn trú quân sự rộng lớn, những vòng rào kẽm gai trùng trùng điệp điệp, nàng đánh bạo đến trình giấy ở cổng gác hỏi thăm người lính trực, tên tuổi và khu bưu chính của chàng (những dữ kiện duy nhất người bạn chàng biết được cho nàng). Đôi mắt người lính trực ái ngại nhìn nàng, anh ta đột nhiên hỏi nàng thân thích với người đàn ông kia ra sao. Trong khi nàng bối rối tìm câu trả lời, anh ta đã thẳng thắn nói ngay anh ta là một trong vài người bạn thiết duy nhất của chàng ở đơn vị này, và anh ta rất mến mộ chàng. Điều bất hạnh, nàng có biết, biến cố vừa xảy ra là ngoài những ngày trọng cấm vì bất tuân kỷ luật, chàng hành hung viên cố vấn Mỹ và hiện giờ chàng đang bị trừng phạt.
Anh ta hứa sau giờ trực sẽ dẫn nàng tới trại kỷ luật gặp chàng. Đúng lời hẹn, người lính đón nàng ở ngoài cổng trại nói cho nàng rõ, không thể trực tiếp thăm chàng, nàng hãy chuẩn bị tinh thần trước khi anh ta dẫn tới một nơi có thể nhìn thấy chàng. Lối đi vòng quanh trại gia binh, qua bãi tập với những mô đất cao cỏ xanh rì (thời chiến đó - hầm hố chông gai đe dọa bước chân nàng) và sau cùng nàng đã thấy qua những vòng rào kẽm gai ngăn cách diệu vợi, hình ảnh chàng bị căng trần ngoài nắng, cực hình dã chiến của một tội binh ba gai, chứa chất những tư tưởng đầy chất nổ. Đứng bên ngoài nhìn người yêu dấu đọa đày giữa không gian lồng lộng, ánh mặt trời rực nóng, tiếng động cơ ầm ỉ, âm thanh đại bác vọng lại, dội lên trong lòng niềm u uất bấy lâu đã hiện thể, nàng không thể băng qua những chướng ngại vật cụ thể để lại gần chàng, ôm chàng trong vòng tay mơ ước. Nàng vẫn chỉ là người đàn bà yếu đuối, bất lực trước cuộc sống. Ở chốn địa đầu này, nàng biết có thể cầu cứu người chồng can thiệp cho chàng, nhưng không thể. Không bao giờ nàng muốn (nàng không kịp nghĩ, như vậy có bất công với chàng), nàng chỉ năn nỉ người lính mới quen giúp nàng tìm cách trao cuốn nhật ký và số tiền nàng mang theo tới tay chàng.


Từ thuở tha thiết mong gặp lại chàng, tưởng từ bỏ tất cả để tìm kiếm ra điều hạnh phúc, đương đầu với nghịch cảnh khốn khó của xã hội, nàng lại thấy như rơi xuống vực sâu tuyệt vọng. Nàng chẳng thể gặp được chàng, nàng là ai, nàng vẫn chỉ là cái bóng nắng ở bên ngoài vòng rào cấm cố đứng nhìn chàng sa đọa. Nàng lại chạy trốn thực tại, giã từ quán trọ, thành phố đang giam giữ chàng để trở về nhà mẹ, như một lần trong đời. Mùa xuân năm ấy, cuộc chiến tàn bạo tràn ngập khắp nơi, trải qua cuộc khói lửa kinh hoàng kề cận bên mình, nàng nhận được tin thư cuối của người thi sĩ báo nàng biết chàng đã đào thoát sang bên kia phòng tuyến - như cắt đứt sợi liên lạc quá khứ sau cùng.




Biến động xẩy đến với chàng như một quyết định - chàng chẳng chờ đợi điều đó, nhưng cuộc sống nếu chỉ quanh quẩn trong lối mòn tìm kiếm, khung cảnh hẹp của thành phố, bạn bè ít khi gặp mặt, tương lai vô định còn hiện tại đầy thao thức khắc khoải, chàng cảm nhận nỗi dư thừa. Hoang vắng. Dầu nàng đã chiếm trọn một phần đời (có thể, hương vị tình yêu khiến lòng chàng chùng xuống những ý nghĩ nóng cháy sôi sục một cuộc đổi thay). Sự hiện diện của nàng quả thực làm đầm ấm không khí căn phòng.

Những người bạn ghé lại, ngoài những điều trao đổi với nhau về cuộc diện trước mắt, cũng ít nhất một lần hỏi thăm nàng. Hình ảnh nàng như một niềm thơ mộng cho những dằn vặt xã hội vây quanh. Cái bóng dáng nhỏ bé trước sân khấu đời phức lụy, ở chàng dội lên một thi vị lý tưởng, chàng nghĩ, phải thực hiện được mộng ước cho xứng đáng với nàng. Làm gì? Một vài người bạn đi xa, ở một nơi thật xa trở về nói với chàng, chờ đợi thời cơ. Giữa bằng hữu gặp nhau cũng có những khác biệt xung đột.


Người đi từ thực tế, người khởi từ lý luận. (Nhưng, họ cùng chung một định hướng - nhìn về phía trước, ấp ủ một hoài vọng xây dựng xã hội công bằng tốt đẹp hơn). Nhiệt tình tuổi trẻ thể hiện nơi mỗi cá tính cũng muôn sắc muôn vẻ. Từ những cuộc xuống đường, làm rối loạn thành phố, trường học, những đêm không ngủ khơi dậy nỗi căm hờn. Đâu đó cũng có mặt những bạn chàng. Những quyển sách mang về từ miền biên giới. Họ chuyền tay nhau đọc và thảo luận. Sách vở (có thể) mở ra một khung trời chưa tới, nhưng đầy hấp lực. Rọi tỏa những viễn tượng lấp lánh, ngay từ hoạt cảnh thường nhật ngoài phố, tới những luống cầy đồng ruộng đất nước bao la, những khoảng rừng hoang bát ngát, những bưng biền ngút ngàn. Như một tiếng gọi xa xăm. Thế nên cuộc sống trước mắt, ngột ngạt.


Ngày tháng qua, chàng mong một cuộc dấn thân lấp đầy sự tẻ nhạt trong khí hậu một thành phố đang rạo rực, rạn vỡ những nền tảng cơ bản của nó. Đi trên những con đường quen thuộc từ thuở còn là một người thiếu niên nhỏ tuổi ngày ngày tới trường, vui đùa cùng chúng bạn, chứng kiến những lầm than, khốn khó của lớp người cùng khổ - tiếng chặc lưỡi của người đánh xe, vó ngựa thổ mộ lọc cọc gõ trên đường đá những sớm tinh mơ, tiếng roi vút trong không trung vắng lặng nghe như nỗi nhọc nhằn của hình phạt, khung cảnh già héo đã lôi kéo chàng ra khỏi mái gia đình thượng lưu để tìm kiếm ở ngôi nhà lá nghèo nàn, sống tự lập, muốn vùng thoát khỏi những ước lệ thông thường của một cuộc sống ngăn nắp. Chàng ý thức một điều, không chấp nhận tư tưởng vô chính phủ, hành động thường trực nổi loạn nơi chàng chẳng phải để phung phí tuổi trẻ, nhưng hiện thể một chân trời tự do chưa rõ nét.


Làm gì? Bỗng dưng, ràng buộc xã hội đã câu thúc chàng vào một tình thế đọa đầy, đối đầu với thực tại. Khi bị đưa ra quân trường ngoài Trung, sống từng giờ từng phút với quy định kỷ luật trong một tập thể máy móc, tưởng như qua một kinh nghiệm bất ngờ của đời. Trong những khoảnh khắc tàn tệ nhọc nhằn, hình ảnh nàng tự nhiên vây quanh trí nhớ chàng thật trìu mến. Chàng nghĩ, phải nỗi cô độc đã đánh thức một tình thương yêu tự sâu tiềm thức.


Tưởng tượng nàng đến, vắng bặt bóng chàng, hẳn nàng phải buồn phiền (cuộc tình hồn nhiên không mảy may dự tính bất trắc mai sau, gặp mặt nhau trong những giây phút tương thân thiêng liêng - chàng chẳng hề nghĩ với nàng một ước hẹn thông thường nào, chàng không hỏi nàng ở đâu, mà nàng cũng không thắc mắc về gia đình chàng, họ sống một giấc mơ tương lai tuyệt hảo, chờ đợi) tình huống thay đổi tâm trạng, chàng không liên lạc được với bạn hữu trong ngày tháng đầu để nói với nàng một ý nghĩ, nhập cuộc từ đây. Sa đọa từ một hoàn cảnh tự do xuống tình thế bất đắc dĩ của một tân binh quân dịch, sống giữa những người đồng cảnh ngộ thúc phọc, chàng không cảm thấy khốn khổ riêng bản thân, mối ưu tư liên lỉ cùng tha nhân như một cái siết tay đoàn kết với vô vàn những nghịch cảnh khiên cưỡng của người khác - những con người bị lên án là thành phần bất hảo trong xã hội.


Đổ mồ hôi, nghiến răng chịu đựng những đối xử tàn tệ, sắt máu (Ngục tù có thể là một trường học tốt, nơi đây lò luyện người đào tạo những tay súng chiến đấu trên một trận tuyến không lý tưởng đã biến con người thành những kiêu binh hung hăng như những con lợn lòi hoang đàng, đã kéo cuộc sống vào những trận rượu sát phạt long trời lở đất - chàng hiểu, cuộc trầm thân tự sát này đang diễn ra, ý nghĩ đời sống đâu phải ở vấn đề tự tử, ý nghĩa đời sống ở chỗ vươn lên trên cuộc tự sát - có thể chàng đã bắt đầu nao núng trước một cuộc lưu đày gần cận, tâm trạng người lính thú đối đầu với một bằng hữu chưa quen biết bên kia vòng đai thù nghịch). Ngày xách ba lô lên đường ra đơn vị, viết lá thư đầu tiên liên lạc với một vài người bạn, chàng bầy tỏ nỗi bồn chồn thao thức hành động.

Trong vùng hỏa tuyến sôi sục, đi trên những con đường chông gai dọa nạt (thầm nghĩ, nếu ngã xuống vì một viên đạn thù tức tưởi - lòng đầy xao xuyến) nỗi chết phi lý, một niềm hoài nhớ ám ảnh giữa một hình bóng tinh khiết ở một vùng trời êm ả với khoảng không gian lồng lộng vây quanh, chàng hiểu sự xa vời miên viễn này đưa mình ra khỏi tình yêu ban đầu, không có một ngày trở lại chốn xưa trước bờ vực tuyệt lộ. Trong nỗi khơi động tuyệt vọng, hồi âm đến bất ngờ. Bạn viết, chúng ta đang dự một cuộc đấu tranh không giới tuyến cực kỳ phức tạp, bạn hãy ở lại trong hoàn cảnh hiện tại, sẽ có người liên hệ trực tiếp với bạn. Bắt đầu cho thái độ nhập cuộc, chàng vẫn khoác áo trận, đội mũ sắt, mang súng đi trên những nẻo hành quân gian khổ, vẫn hiểu nếu có một ngày bắt buộc phải nổ viên đạn tự vệ giữa ngút ngàn phức tạp vây quanh, ý nghĩa không bắt nguồn từ thù nghịch nhưng khởi từ bạo lực.


Sống cuộc sống tập thể, vạch một hướng đi rõ rệt. Chàng hòa mình với đồng đội, ăn ngũ hành động như một người lính bình dị, cũng say những trận rượu nhọc nhằn nơi quán bên đường, trong lều vải, bìa rừng, bất kỳ nơi nào dừng chân sau một trận giặc thoát hiểm kinh hoàng, nhưng lòng đầy tỉnh táo. Nói với những người đồng đội, bên những vỏ chai lăn lóc, hơi rượu hùng hực, thứ ngôn ngữ bất cần đời, thô lậu, nói thế nào để ý nghĩa không rơi hoẵng vào khoảng không lạc lõng.

Nói cho thân phận, thực tại. Nói sao đồng điệu, nói cho tan rã hàng ngũ. Sống lứa tuổi đam mê nhục dục. Chàng cũng theo bạn bè tới những căn nhà chứa, sàn gỗ mái lá, tiếng nước dội từ chậu chẩy lõm bõm qua kẽ hở xuống hồ, làm quen với những câu nói tục tằn, những cô gái làm tiền phấn son nhợt nhạt, ngồi xệp đánh bài chờ khách (có thể lần thứ nhất trong đời đến nơi trụy lạc, bước vào một khoang phòng ngăn cách với bên ngoài bằng tấm màn cửa nhầu nát, mùi hôi nồng nặc, nằm bên cạnh người đàn bà đã sẵn sàng bán thân, chàng bối rối không biết nói thế nào để nàng hiểu chàng không đến tìm lạc thú, nhưng phải sống và cư xử như bất kỳ một người binh nhì đồn trú nơi xa nhà, lòng không mảy may ham muốn, chàng ngại ngùng cho ngôn ngữ làm tổn


thương lòng tự ái của nàng, khi người đàn bà hỏi “anh làm sao vậy?” - ở khoảnh khắc đó, hình ảnh nàng thoáng vút lên trong tâm tưởng, hình ảnh một nỗi nhớ, một kỷ niệm, một tin yêu, chàng lại cảm thấy rất gần thời hạnh phúc xa xăm của tuổi trẻ, cái gang tấc sa đọa không phải ở chốn này, những thân phận lạc loài chiến đấu trong một vây tỏa ràng buộc vô vọng đã tiêu hoang khoảng dừng chân ngừng nghỉ bằng giải quyết sinh lý, không phải nỗi thú rong chơi của những tên thanh niên tư sản dạt dài qua những vũ trường, động đĩ nơi thành thị).


Cuộc sống nơi đây khác hẳn, đất cằn cỗi hoang phế, vết bom cầy những hố sâu, trận phục kích muôn ngả, cái chết kề cận, ý sáng tạo lại dội lên trong óc (chàng muốn ghi những ấn tượng sinh động ấy với những dấu vết tàn tích cụ thể, máu và xương thịt, râu tóc kẻ bất hạnh, mảnh lựu đạn ghim trên thân thể, nắp vỏ xe tăng cháy xám) - nhưng không thể, cuộc lưu động dã chiến cuốn hút những ý tưởng mơ hồ tan biến vào sương khói hành quân, lay động những biến chuyển.


Kể từ tháng Ba, hai sư đoàn thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ lên cửa Đà Nẵng. Áp lực của lực lượng viễn chinh tỏa ngộp đất nước, đảo lộn cơ sở xã hội, thay đổi bộ mặt đồn trú. Đồng lương trong tay người binh nhì nghèo nàn thật nhỏ nhoi trước sức bạo phát kinh tế, hung dữ như cơn sấm sét vũ bão của hỏa lực khắp nơi, tình hình thật căng (người bạn chuyển chỉ thị đến), hãy giữ vững tinh thần như giữ gìn con ngươi của mắt, bước xung kích tuyên truyền tiến nhẹ nhàng vào sự mâu thuẫn chênh lệch giữa những thân phận người, khởi đầu cho mối liên lỉ nổi loạn.



Bản chất con sói cô độc trong chàng dội lên phản kháng, những chuyến lưu đày thuyên chuyển từ đơn vị này qua đơn vị khác, gian nguy cùng cực hơn (nếu mỗi người thanh niên trong thời chiến có một lý lịch quân bạ như thứ sổ bộ đời luân lạc, những con dấu đóng trên trang giấy chẳng khác nào những chiếc va li lữ thứ viễn trình, cũng mang những truân chuyên nhọc nhằn, những cam go thử thách, hồ sơ quân dịch của chàng đầy những điểm xấu song chàng không quan tâm đến những ý niệm quan hệ về thượng cấp, kỷ luật; chàng không oán trách những hình phạt nghiệt ngã, chẳng mảy may đếm xỉa đến thái độ kiêu căng, hách dịch của những viên sĩ quan chỉ huy cùng lứa tuổi


(có thể, trong một dịp nào đó, nhìn dáng điệu lăng xăng của một sĩ quan đơn vị, chàng lại nhớ đến ý nghĩ của một nhà triết học Pháp ghi lại trong Thế Chiến thứ Hai, hối tiếc đã đăng ký vào lính trong khi người bạn cùng trường theo lớp Sĩ quan, thời chiến đó mức độ hành động tự do cũng phân biệt, ý nghĩ thật kỳ dị).


Sự hiện diện của ngoại nhân mới là mối xung đột chủ yếu trong cuộc sống lưu đày. Trong lòng chàng không mang tinh thần bài ngoại, song những vấn nạn đấu tranh đã thôi thúc hành động. (Lịch sử không phải chỉ gồm những biến động lớn - lịch sử như một hoàng hôn tăm tối của thời thống trị, bóng dáng ngoại xâm dập đình khắp nơi từ lúc chàng chưa chào đời, hiện hình trên những dinh thự, đền đài, trên những tên đường thành phố).


Nơi bãi trận rộng lớn, chàng tận mắt thấy những lính Mỹ biểu hiện tinh thần Yankee đối với dân bản xứ, đùa rỡn, diễu cợt trên xác chết, những đồng tiền đổ xuống trên những bàn tay nghèo đói, khốn khó, bước chân những đứa trẻ chạy ngoài vòng dây kẽm gai lượm những phẩm vật dư thừa, phế thải, những quán rượu mọc lên với những cô gái quê chạy loạn, lạc loài vào nơi hương phấn. Những sớm tinh mơ nằm trong hố cá nhân, nghe tiếng bom dội rung chuyển lồng ngực, chàng đau thấm niềm phi lý tàn bạo dưới ánh mặt trời chói chang trần trụi.


Chân trời sáng tỏa, đồng cỏ xanh mênh mông, nỗi người nhỏ nhoi. Làm gì, trong những vây bủa quyền lực? Có thể, chàng đã đánh thức những hoài nghi nơi người đồng đội, tâm trạng bải hoải chiến bại của ngày mai. Có thể những trừng phạt quân kỷ làm chàng mạnh mẽ phấn chấn hơn lên với hoài bão theo đuổi, và hành động hết sức ngoạn mục những ngày tháng bất mãn là cơn thịnh nộ tấn công vào viên Trung tá cố vấn (một người Mỹ xấu xí, xuất thân từ nơi đào tạo quân sự chuyên nghiệp, cử chỉ hống hách, ngôn ngữ mệnh lệnh như kiểu viên Đại sứ triệu tập đám tiểu Thổ lại hỏi: “Do all of you understand English?”


Hãy tưởng tượng những cú đấm sấm sét từ nơi một người lính trẻ tầm thước tung ra bất ngờ vào mặt vị sĩ quan thái thú kiêu căng hách dịch, cũng chẳng thể hạ gục đối thủ nhưng thật chính xác và mau lẹ trước khi mấy người quân cảnh xông vào can thiệp, còng tay chàng lại) và dư ba cuộc phản kháng âm ỉ ngọn lửa chìm trong đống tro than. Những ngày tháng xa cách, tương lai vô định, theo đuổi một hướng đi nhất định, chàng chẳng bao giờ muốn trở lại thành phố, chàng tự hứa để kỷ niệm chìm vào thời gian. Bất ngờ, cuốn nhật ký của nàng đến tay chàng trên đường vào quân lao.


Những ý nghĩ phiền muộn thấm vào tâm tư một thời mộng tưởng, một hình bóng kiều mỵ mong manh, một cõi sống đã mịt mù thất lạc chẳng thể khôi phục - chàng mường tượng nàng đã lớn, những biến đổi vây khổn tâm hồn bé nhỏ, những điều không nói ra trong niềm hoài cảm ấm ức, và hình ảnh nàng đứng bên kia vòng tù ngục một lần nhìn cảnh chàng bị đọa đày (hẳn nàng phải kinh động trước thực tế ngăn trở sừng sững) đời không cho ta cơ hội gặp gỡ, chàng chẳng thể trở về khi cuộc thế chưa ngã ngũ. Rồi một ngày, nàng sẽ hiểu hành trạng quyết định nơi chàng. Cuốn nhật ký ấy đã mang theo cơn bão lốc trỗi dậy chọc thủng phòng tuyến cuối cùng trên con đường đào thoát vào mùa Xuân khói lửa.

Đi qua những chặng giao liên với người dẫn đường theo cánh quân rút ngược trở lại căn cứ, chàng đã cởi bỏ bộ quân phục cũ để khoác lên người bộ bà ba đen bạc phếch, mang đôi dép râu còn ngượng cóng giẫm lên mùa sương đọng cỏ úa, đi trong đêm không gian tỏa ngát mùi lá, tim đập rộn ràng, lần thứ nhất trong đời tâm hồn thơ thới như vừa giải thoát. Đã quen với chiến trận, mặc dầu vào một nơi xa lạ chàng cũng không bỡ ngỡ bám sát bạn đồng hành, tinh thần thật cảnh giác bởi chuyến đi này dứt điểm một thời quá khứ.

Chàng hiểu, dấn thân đầy chông gai hiểm trở, bỏ lại đằng sau cuộc nổi dậy vừa thất bại, mặc dầu bạn đồng hành vẫn giữ bộ mặt thản nhiên lầm lì song hành tung thật khan trương, ghé những trạm nghỉ ẩn nấp ngụy trang dưới những hầm sâu, hố kín, những trao đổi liên lạc ngắn gọn, khó khăn, trong tay chàng không vũ khí bên cạnh người dẫn đường mang khẩu tiểu liên Tiệp và lương khô, chàng vẫn không cảm thấy lo ngại khi càng rút vào sâu, tiếng bom đạn xa dần, ánh sáng có thể trở lại vùng giông bão đen tối, những tàn tích thảm hại rực lửa. Quả thật, giấc mơ một thời đã phục sinh theo bước đi vào vùng giải phóng.

Ở láng, những ngày đầu lập thủ tục tự khai (một lý lịch mới trong đời), đợi xác nhận giới thiệu, sống theo tập thể chàng không chút mặc cảm của người trở về trong chính sách binh vận của cách mạng (đã lâu, chàng vẫn khước từ chấp nhận những khái niệm khuynh tả, khuynh hữu như những phạm trù khả thể, vận động của lịch sử ở trong lý nhất nguyên toàn diện, thế giới phân ranh chính tà rõ rệt, nên cuộc trở về trọn vẹn) dầu ở nơi bụi cỏ, bìa rừng, nhìn ra đồng ruộng bao la bát ngát, không gian xanh ngát màu lá, sừng sững oai hùng chính nghĩa thắng lợi trong những bài học đầu tiên, những hồi niệm kinh kệ xưa không chỉ còn trong những trang lý luận màu xám, mà hiện thể qua chiến khu, hơi thở cách mạng, nhập cuộc vì một lý tưởng tuyệt vời.

Chàng hiểu, cái đơn độc cá nhân không có ý nghĩa gì trong đại thể, thế nên những ràng buộc khắc nghiệt đời sống mới không làm chàng phiền lòng, những chuyến di động liên tục vì tấn áp của bom đạn không làm chàng nao núng, chia sẻ với đồng đội mới cái khó khăn, nhọc nhằn lương thực thiếu thốn, cái ti tiện nhỏ nhen của lòng người, song chàng cảm thấy ngày mai thật lớn lao trong sự nghiệp của cuộc chiến đấu.

Đời sống không phải chỉ vây bủa theo những quy luật, kiểm soát của tha nhân, chàng có những giây phút nằm một mình trên chiếc võng nylon cá nhân, đọc lại những trang nhật ký bạn viết nghe như tiếng nhủ thầm của tình yêu xưa xa vắng, nỗi hạn hẹp của hiện tại không ngăn trở những dặm đường tương lai khi chàng trở về. Chàng hình dung bạn ở trong khung cửa đời chật hẹp, niềm hoài vọng tuổi nhỏ chìm dần vào sự nhốn nháo sa đọa của thành phố (những thanh niên lớn lên đuổi theo địa vị, bên những canh bạc rong chơi miệt mài, những thế hệ tiếp nối đang lao dần vào triệt hủy duy hư) rồi ngày tháng qua nàng sẽ có một nếp gia đình (nàng không hề nói nhưng chàng hiểu, không ai chờ đợi trong cuộc hò hẹn vô vọng), song chàng sẽ trở về, có thể vì nàng.

Chàng sẽ kể những quãng đời dài, cuộc tìm kiếm đang thành tựu, nàng có thể ngờ những bằng hữu chàng bay giờ chỉ có một nỗi ước mơ tầm thường (tìm lại quê hương trở về đồng ruộng với chòi tranh, đìa cá), bên cạnh cái chết chụp xuống miên man của hàng trăm trận bom pháo, không phải hình ảnh đe dọa của người đặc công vô hình phá hoại những cao ốc, rạp hát, những cuộc thủ tiêu thanh toán quyết liệt, nhưng một cuộc sống thật bình dị, khởi đầu ý nghĩ thoát ly hoàn cảnh áp bức.

Chàng sẽ vẽ lên cho bạn thấy cảnh nước non hùng vĩ bao la, với những cánh rừng lá đan che phủ khuất bầu trời, những trũng sâu thăm thẳm, đầm lầy xa vời tạo thành những chướng ngại che khuất bước xâm lăng của đối phương, cũng giang sơn ấy một khung cảnh xã hội khác hẳn với những con người chân đất đang đi làm lịch sử (có phải lịch sử là những đổi thay làm cho đời sống sinh động và thời gian có ý nghĩa, nhưng trước hết, cái tiêu diệt bản thể ngưng đọng để nẩy mầm hạt nhân hợp lý - con người mới.


Chàng hiểu, con người mới không là hình tượng của những kẻ cô độc gào thét trong phòng kín, những ảo vọng cuồng điên, con người mới khởi từ hủy hoại những tàn dư thối nát, tác động trong thực tiễn, sức mạnh lớn lên từng giây phút không ngừng nghỉ) và nàng sẽ hiểu những ngày tháng chia phai, sự xa cách không phải là bội bạc, im lặng nhưng từ chọn lựa dứt khoát, con đường đi tới.


Chàng muốn nói với bạn (bay giờ đã thật xa vời, bạn chỉ còn là một hình bóng nhỏ bé với những kỷ niệm chất ngất trên những trang thư viết cho riêng mình, liệu bạn có trách cứ nỗi vô tình của những ngày tháng qua, khi chàng còn lao đao trong cảnh đọa đày) chỉ một tình thương yêu gìn vàng giữ ngọc đó cũng đủ làm điểm tựa cho ý nghĩa cuộc viễn trình tìm kiếm, khi những đồng đội của chàng còn nhiều mơ ước, từ một mái nhà xưa yêu dấu, từ những dẻo đất, luống cầy bị tước đoạt (quả thật, nơi chàng không có một ý niệm gia đình, cả những địa danh quê nội, quê ngoại cũng thành hư ảo).


Quê hương, những nơi chàng đi qua, trong tâm thức nặng trĩu. Nỗi băn khoăn một thời vì câu hỏi: làm gì? Đã hòa tan trong giây phút cấp kỳ của cuộc chiến đấu muôn dạng, từ công tác văn hóa cho mặt trận (chàng đã trở lại với những ngón hoa tay để vẽ trong sinh hoạt), từ lời thề nguyền dưới cờ khi được kết nạp (tôi xin thề nghiêm chỉnh chấp hành nghị quyết và phục tùng kỷ luật của đoàn, nâng cao cảnh giác, giữ gìn củng cố sự đoàn kết thống nhất trong Đoàn), hẳn nàng sẽ thấy chàng vẫn nguyên vẹn hình ảnh người thanh niên của thuở nào - dầu khoảng chia cách hiện tại muôn trùng diệu vợi.


Trong tâm tưởng, chàng không mong mỏi bạn quên mình, nhưng chàng hiểu trên con đường gian nan hiện tại, chẳng thể tự đặt cho bạn một hứa hẹn (như một người tình) khi cái chết gần kề. Chết, quả thật không phải một phạm trù trừu tượng trong tư duy lý luận, chàng cũng như những đồng đội chung quanh chấp nhận nỗi chết có thể xẩy đến bất kỳ lúc nào ở nơi tiền phương chịu đựng sức ép của những trận mưa bom, đạn pháo vây bủa, cái chết đến từ những đe dọa thiên nhiên và bệnh tật (nhưng chắc hẳn, nỗi can trường của con người cũng dũng mãnh như địa danh thành đồng, đất thép).

Nếu có nằm xuống như cỏ cây, chàng nghĩ, chung cuộc của đời sống cũng trọn vẹn như quyết định khởi đầu (đôi lúc, chàng tự trách nỗi băn khoăn về cái chết còn vương vấn trong đầu óc phát xuất từ nền giáo dục cũ rơi rớt - hay, có phải hình ảnh nàng đã gợi lên nỗi mơ hồ hạnh phúc nào đó trong đời này khiến chàng không khỏi thôi thúc tư lự về sự mất còn của cuộc sống) trong khi những người bạn nông dân kia chẳng hề quan tâm, đoạn đường trước mặt là chiến đấu, giáo dục, học tập, nhận công tác từ thử thách bồi dưỡng quyết tâm, những giây phút nghỉ ngơi thật hồn nhiên, trong sáng. Sống và chiến đấu với kinh, rạch, ruộng, rừng, những thanh niên cùng trang lứa với chàng ở nơi chốn này, dầu từ bộ đội địa phương hay chủ lực cũng đồng tâm, quyết chí, tất cả đã gia nhập theo đoàn lấy lý tưởng cách mạng nhân dân làm chỉ đạo cho hành động hiện tại.

Ngày tháng cuốn hút theo những chuyến di chuyển không ngừng về cứ. Điều lạ lẫm đối với chàng là với kinh nghiệm dày dạn lao khổ chàng được huấn luyện ở quân trường khi chàng bị cưỡng bách nhập ngũ cùng với kiến thức quân sự thâu thập về địch mà chàng mong mỏi có dịp sử dụng, chàng tham dự những trận chiến đấu (có những chuyến đi đầy hứng khởi cho tuổi thanh niên, những viên đạn đồng AK gửi kèm theo những bản án khủng bố, những cuộc phá hoại long trời lở đất, tất cả trong giai đoạn tấn áp của đối phương vẫn đầy kinh hoàng, như một niềm phấn khích tin tưởng vào trận chiến cuối cùng) ở tình thế đó chàng không nhận ra lòng cuồng tín cực đoan của đồng đội, chàng chẳng mảy may ganh tị với những lần tuyên dương thành tích của các bạn, dường như

tự sâu tiềm thức, chàng còn cảm thấy tâm hồn bình yên với công tác chàng được giao phó hiện tại, bởi nếu như cầm súng nã thẳng vào đối phương (trong đó, có những người lính trận đã từng rơi vào hoàn cảnh như chàng) hình ảnh người nằm xuống dội trong tâm thức chàng một khắc khoải đau khổ (chàng không thể từ bỏ ý nghĩ đó).


Chàng chỉ hân hoan tìm được đất hứa (thế giới, nơi con người sinh ra không được lựa chọn, sống không phải để trói thân trong hoàn cảnh giới hạn, sống để lao động) theo đuổi định mệnh và quyết định tự thân với tất cả tự do của riêng mình. Nguồn cảm hứng nghệ thuật sống dậy với công tác hợp khả năng. Chàng thật sự thích thú - cùng với những chuyến đi, những xê dịch theo chân đơn vị, ngày tháng hào hứng trong gian khổ.



Và cuộc đời cũng đầy những tình cờ, với những cuộc chạm mặt tha nhân (dầu đứng ở cùng một phía, cũng tạo những tác động bất ngờ). Không hẳn là tình yêu khi chàng gặp người thiếu nữ ấy từ ngoài miền Bắc tự nguyện gia nhập thanh niên xung phong vào B, sinh hoạt đoàn thể thường xuyên khiến họ gặp mặt hàng ngày, nàng muốn chàng kể cho nghe những thành phố ở phía bên kia núi, những hàng ánh sáng lấp lánh cuối chân trời, nàng tò mò về con người, nếp sống, về những tiện nghi vật chất đang diễn ra ở đó. Ý nghĩ của nàng thật đơn giản (khiến chàng nghĩ đến bạn, nỗi nhớ bâng khuâng, như thuộc hẳn về một cuộc đời khác.


Ngày xưa với những mơ ước cho một xã hội tương lai đẹp tựa gấm hoa), chàng tự nhủ, có phải những hình ảnh không tưởng đến từ một cơ bản thực tiễn, nhìn sự vật hồn nhiên và mực thước. Có thể những giờ phút hiểm nghèo trước sức cản đe dọa của B-52, cuộc chiến mỗi lúc thêm tàn bạo đã khiến họ gần nhau hơn, chia sẻ nhọc nhằn, những thân tư riêng biệt lạ mặt với hoàn cảnh khốn khó trước mắt. Câu chuyện nói cho nhau nghe không gợn những hận thù ý thức hệ trao đổi hàng ngày trong học tập, tuổi thanh xuân hào hứng những lúc tìm đến nhau, cần đến nhau.

Và nàng đề nghị Đoàn xây dựng cho họ sống chung (thâm tâm chàng thẳng thắn nhìn nhận, nàng đã chủ động trong cuộc đôi lứa, nhưng chàng không hề nghĩ có một người vợ là phản bội bạn. Quả thật. Chàng không hề nghĩ người bạn gái xưa, hình ảnh yêu dấu duy nhất trong đời ấy phải là người trăm năm) quan hệ luyến ái kề bên cái chết, chiến đấu trong cuộc khói lửa thật tự nhiên đến nỗi chàng chẳng quan tâm về thân thế nàng, có một ý niệm gia đình, có thể niềm tin mới với ánh sáng của đoàn đã tạo cho con người chỉ có một lý lịch (cùng nhìn về phía trước - sống với nhau chia sẻ tình bằng hữu), trao đổi xác thịt không hẳn là một nhu cầu, nhưng chẳng ngại ngùng khi hoạt động cùng tổ sát cánh bên nhau trong ham hố địa đạo tránh bom đạn địch trong những đêm hôm vắng lặng.


Cuộc sống đôi lứa chẳng bình thường như thời hòa bình, mỗi người một phần vụ công tác, có những lúc nàng ở hẳn bên đơn vị khác, họ cũng chẳng có thời giờ để nghĩ đến nhau, nỗi nhớ của người tình chăn gối. Và tình thế gấp rút theo những biến động chung trên toàn đất nước - từ cuộc chiến lan rộng những mật khu ven giới, tin tức về những trận không chiến ác hiểm, những lực lượng chính quy từ miền Bắc tăng viện với những đoàn cơ giới ngày đêm di động trên khắp nẻo đường mòn, sinh hoạt bỗng trở nên nhộn nhịp, những đợt học tập miên man. Một bầu không khí khẩn trương dàn trải - ý nghĩa cuộc chiến toàn diện thay đổi hẳn.


Vị thế của lực lượng địa phương thu hẹp (từ thất bại của cuộc nổi dậy mùa Xuân, hàng ngũ tan tác, song các cấp ủy vẫn gia sức tuyên huấn về sách lược trường kỳ tất thắng, đề cao những hy sinh cho đại cuộc). Chàng như bơi theo dòng lũ (đã hẳn biến dịch là nguyên tắc của hành động, không thể ngừng nghỉ, chàng đứng ở một phía, đã dứt khoát chọn lựa con đường lịch sử), chàng lại nhận ra tâm tư cô độc vẫn thôi thúc ý nghĩ khiên cưỡng trước những đảo hoán cường lực, lý tưởng không phù hợp với bạo động.

Sức mạnh tự do vẫn dào dạt trong tim, nếu trước đây chàng không phân biệt ý niệm khuynh tả, khuynh hữu, bây giờ chàng vẫn không nhắm mắt tin tưởng vào cái duy nhất mệnh danh lãnh đạo, bỗng như ập xuống tự thinh không. Đầu óc chàng âm vang tiếng tất yếu biện giải cho một thực tế thay trắng, đổi đen (có phải chàng lại rơi vào vũng sâu của hoài nghi, về sự tấn áp của chính trị vào cách mạng), nhân sự thay đổi với hàng ngũ cán bộ quân sự nắm quyền hành, những chính ủy chuyên nghiệp của tổ chức máy móc. Chung quanh chàng dần dần mất hút những bằng hữu bám trụ, sống yêu thương từng hàng kinh, rạch, ruộng, đồng, sống cho một lý tưởng đơn sơ giành lại quê hương khỏi áp bức bất công.



Những đồng đội mới đến từ một xã hội đã thiết lập ổn định, biểu lộ một thái độ bàn giấy lạ lùng. Đời sống không phải nằm trong ý nghĩa chiến đấu, mà nằm trong sách lược nhất định của Đảng (bất ngờ chàng bỡ ngỡ trước thực tế, những nghi vấn về kinh kệ dội lên trong tâm tư - có phải cái bản chất trong người ngàn đời chẳng đổi thay? Những con người kia cũng vẫn mưu tìm địa vị, hãnh tiến về quá trình đào tạo từ nước ngoài, cũng phân biệt những chênh lệch kiến thức, sùng bái quyền lực), tựa hồ như chàng đang đứng ở mỏm vực, cảm thấy mạch đất rạn vỡ dưới chân. Con người có thể nào cuồng tín?

Chàng tự hỏi, ngờ vực cả cái quyết định nhập đoàn ban đầu (đứng trước cờ và lãnh tụ, nghe tuyên bố kết nạp, chàng còn nhớ rõ cảm giác bồi hồi tin tưởng ấy không phải ở một niềm tin huyền hoặc nào đó, không phải các nghi thức uy nghiêm, nhưng từ một sôi nổi về khí thế cách mạng, những người anh em chưa một lần gặp mặt đã đặt tình yêu thương tin cẩn khi đứng ra giới thiệu với Liên chi Đoàn - những bạn hữu chẳng bao giờ vọng về thế lực quốc tế xa vời, chỉ biết đi trên đoạn đường hiện tại) cũng như chàng, tin tưởng vào tổ chức, vào chính nghĩa nhưng không nhắm mắt tôn thờ lãnh đạo như thần thánh, những con người chân đất chấp nhận cuộc sống dung dị.


Khác hẳn những con người xa lạ mang mệnh lệnh trung ương như những cẩm nang mầu nhiệm (chàng phải làm quen với những từ mới, âm vọng ý nghĩa chỉ huy độc đoán - những con người cộng sản đó sao?). Lần thứ hai trong đời, chàng lại nhói lên trong tâm khảm cái bất ổn rã rời như khi lìa bỏ gia đình ra đi. Cảm giác hụt hẫng một điểm tựa.


Người bạn đời cũng vừa trở lại cứ sau gần hai tháng công tác ở hậu trạm cứu thương, trong những câu chuyện ríu rít suốt thời gian xa cách, nàng kể về trường hợp một thượng tá nằm dưỡng bệnh đã cưỡng hiếp người nữ y sĩ săn sóc và chờ lệnh trung ương (bất ngờ viên sĩ quan ấy được thăng cấp và nhận trách nhiệm một công tác mật quan trọng, dường như cầm đầu phái đoàn tham dự một hội nghị - tình trạng khá khẩn trương, nhưng cũng như mọi biến chuyển Trung ương không phổ biến trong các cuộc học tập) nàng cũng như những người khác thản nhiên trước những hỗn tạp xảy ra chung quanh.

Cái bóng lớn Trung Ương Đảng như một định mệnh an bài mọi việc, con người chỉ nhắm mắt thi hành. Nàng mang về một tin mới, hai người sẽ được điều ra Bắc. Chuyến xê dịch xa xôi này không gây trong lòng chàng niềm hào hứng như nàng nghĩ, chàng chẳng chờ đợi đi đến ải đầu đất nước, nơi đang xây dựng chủ nghĩa xã hội sẽ đem lại dòng sinh khí mới (cho con người đã mệt mỏi về những hiện trạng chung quanh; chàng vẫn ao ước có một ngày trong đời đi khắp các vùng quê hương, tìm lại những dấu tích thăng trầm của thời thế để vẽ lên khung cảnh hiện thực xã hội, song không phải lúc này - niềm mơ ước thanh bình nơi chàng cũng dung dị như người nông dân ở chòi xóm xa tận miệt Đầm Dơi, Cái Nước) khi đồng đội còn đang cầm cự chiến đấu trong cái thế chênh vênh dầu sôi lửa bỏng.

Nhưng, đã gắn bó trong guồng máy, con người tự nguyện đặt mình trong tổ chúc, lên đường nhận nhiệm vụ nơi đâu cũng không từ nan. Vả lại, nàng tỏ ra vui mừng khi nhận lệnh trở về, thành phố nơi nàng đã sống và trưởng thành ở đó. Chuyến xe đi ngày, đêm qua nhiều chặng nghỉ tránh tầm bom đạn phát hiện của địch, cảnh hoang tàn nghèo nàn quen thuộc trên khắp nẻo đường dưới mắt chàng như cảm thấm trong lòng nỗi nhọc nhằn chung giải tỏa mọi ưu tư, dằn vặt bấy lâu, nhưng khung cảnh thành phố (như lời ca ngợi, trái tim của đất nước) chẳng khiến chàng xúc động, sự khác biệt giữa những công trình đồ sộ tương phản với những dẫy nhà chật hẹp, những hàng hiên lụp xụp loang lổ dấu thời gian.

Chàng được chỉ định ở khu nhà dành cho những người miền Nam tập kết, trong khi nàng trở về thăm gia đình. Khoảng thời gian rảnh rỗi, chàng đi lang thang trên những con đường nhỏ, nhớ lại những con đường xưa ở một nơi chàng đã từ bỏ ra đi, một vài người tuy mới quen nhưng đã có thời ở cứ dẫn chàng tới những quán hàng chui nhủi để biết sinh hoạt thàm kín của thành phố (thời chiến - chàng lại thấy tâm hồn người ở nơi đâu cũng rã rời, những câu mỉa mai, cay đắng, những thân phận sống không mảy may tin tưởng vào ngày mai, những lý tưởng lớn chẳng thể che đậy sự lầm than của đa số quần chúng, những dị nghị về áp bức, bất công của giới lãnh đạo, những ngõ ngách đi ngang về tắt của xã hội, chàng lại hình dung thuở trưởng thành đầy dấu vết nghi hoặc, phản kháng).

Có thật chàng đang ở bên này giới tuyến? Cuộc lữ không ngừng trôi giạt vào cõi mịt mùng buồn tênh, khi tâm tưởng đã chán ngán những quyển sách đồng bộ, trong khung ngôn ngữ tẻ nhạt những lời huyễn dụ, bất giác chàng cảm thấy nỗi trầm thân tha hóa đến từ muôn chữ, giăng mắc võng lưới trói buộc cá nhân vào một đại thể huyễn hoặc, những mạng tuyến luận lý khởi từ tiền đề không tưởng, vùng hỏa mù làm nhạt nhòa cái ý chân-như thô lậu trong suốt (bất giác, chàng nhờ đến người du kích trạm đầu giao liên, hình ảnh chiếc mã tấu buổi đầu đồng khởi, nếu có nằm xuống bên vũng lầy lau sậy cũng không thể hiểu cái chết ấy chẳng làm thay đổi ý chí tấn công của quyền lực vào lịch sử, hình ảnh cũng nghèo hèn như người thợ in bận chiếc quần đùi bạc xám trên căn gác xép chàng đã ghé thăm, một thời làm thơ hùng tráng, tưởng chừng như trăm nghìn bước


chân dũng sĩ trên đường chiến thắng - những con người đang bị xô đẩy vào bên lề xã hội, sống quẩn quanh lo nghĩ cơm áo, gạo tiền trong một hệ thống định rõ rệt khẩu phần và số phận; chàng nhớ đến những người bạn thi sĩ, tuy trói buộc trong khung cảnh eo hẹp nhưng tâm hồn vẫn bay bổng theo cánh bằng ngàn nội tự do, ý niệm tự do như nguồn mạch từ đỉnh cao tỏa ngộp cõi đời, còn chàng nơi chốn này, hoài niệm một giá trị đang chìm vào vực sâu tất yếu).


Người bạn đời đã trở về. Nét mặt hân hoan khi nàng báo tin thủ tục lên đường qua Đông Âu (có thể nào đi? Giữa thành phố đêm ngày kinh hoàng vì chuyện phòng thủ. Dường như nàng không quan tâm điều đó. Nàng khoe cha nàng đã nói với cấp trên giành được ưu tiên cho hai người vì quá trình chiến đấu của họ.

Chỉ đi học nước ngoài mới đảm bảo một cuộc sống tương lai ổn định. Quan niệm cuộc sống trong xã hội nơi đâu cũng vậy, chàng không ngạc nhiên trước ý nghĩ của bạn, thành phố làm thay đổi cái nhìn tươi sáng khi con người còn gần gũi thiên nhiên, lá cỏ. Điều quan trọng là chọn lựa quyết định).

Nàng nói, không có gì cản trở được giấc mơ ấp ủ nhiều năm thuở còn đi học của nàng. Ánh sáng của những thủ đô các nước ở phía bên kia chân trời thanh bình hấp dẫn như một tiếng gọi. Còn chàng, điều gì sẽ xảy đến nếu chàng ở lại. Tiễn đưa bạn lên đường theo chuyến xe lửa xuyên suốt châu đại lục, lòng chàng lại được nhẹ tênh như chưa bao giờ có mối quan hệ thực sự ràng buộc trong đời.


Sống qua hai vùng giới tuyến, chịu đựng những nhọc nhằn, chàng xin trở lại cứ. Đi, cũng lại một chuyến đi, xa rời một thành phố như chạy trốn một cơn mộng ảo đã tan rã hơi sương mù mê hoặc. Tâm hồn thì nặng trĩu nỗi đau ê chề của kẻ thua bạc sau trận sát phạt lọc lừa. Không một nơi nào, giải tỏa những lầm than của đám đông quen chịu thống trị, guồng máy bạo lực vẫn rần rộ vòng bánh xe quay cuồng khống chế.


Có phải quy luật xã hội diễn ra tàn bạo như vậy? Thảng hoặc, trên đường công tác ngủ lại một thôn xa hẻo lánh, vô tình nghe tiếng vọng chiêu hồi trên đài bá âm ở nhà một đồng bào lân cận, chàng lại chạnh lòng nghĩ đến nỗi chia cách. Có phải con đường, thành phố, mái nhà xưa mang những dấu vết êm đềm, thuở tâm hồn còn đầy hoài bão. Bây giờ, tầm mắt nhìn đã mỏi cái tận cùng bế tắc lộ trình. Nhưng cuộc sống, không phải ngồi bình yên tư lự, những diễn động ồ ạt trong tiếng gầm thét của bom đạn, những chuyển dịch trận địa cùng khắp rừng núi, đồng bằng, chàng vẫn cảm thấy mình như con thú cô độc ngày cũ, vùng vẫy không lối thoát trong bẫy rập thời đại.

Nhìn những lực lượng tăng viện cho chiến dịch sắp sửa diễn ra thay đổi cuộc diện, nét mặt khẩn trương của những cán bộ đảng viên, chàng không cảm nhận niềm phấn khởi thuở nào nhập cuộc.

Hào khí đã thật sự tiêu triệt, đã chết, từ thuở ra Bắc nhìn tận mắt cái xô lệch của một xã hội (kỷ niệm bên ngọn đèn dầu hiu hắt với mươi người đồng trang lứa, say niềm đau rã rời cuộc rượu nhạt nghèo nàn với năm ba tiếng thở uất nghẹn, nói với nhau bằng ánh mắt im lặng. Hình ảnh người đảng viên già tập kết khao khát muốn trở về bên đầm tràm quê nhà, sau hai mươi năm lầm lạc. Nỗi chết trong tâm hồn khởi từ đó, cho hành trang xuôi Nam của chàng).


Quyển nhật ký của nàng cũng thất lạc trên con đường lưu đày, trải qua bao nhiêu chuyến đi của chàng, từ Nam ra Bắc, từ thành phố về bưng biền, rừng núi, sương cỏ đã làm nhạt nhòa những dòng mực trên trang giấy trắng phai màu. Những dòng chữ, không hẳn kể lại một đời, chỉ những ý nghĩ xây thành giấc mơ của tuổi trẻ. Thấm thoắt đã mười mấy năm, tuổi của con nàng bây giờ. Viết, không hẳn là kỷ niệm khi những ý nghĩ đã được trang trải, nguồn sinh lực con người tạo thành hành trạng, dầu cho để viết cho một người.



Về một người. Nàng khởi viết trong cơn xung động thiếu vắng người tình, khoảng trống ngăn trở phi lý của cuộc sống, cũng không gian ấy, thời gian ấy, mất hút dấu vết hình bóng yêu dấu (tưởng như những lần gặp mặt nhau, nói cười với nhau, trao nhau những tương thân say đắm trong dòng sinh mệnh đã nhạt nhòa tựa hồ chưa hề hiện hữu nơi thế gian này), chia cách quả thật khủng khiếp, nhưng ký ức còn manh động bén hơn, trí nhớ vẫn đuổi theo những ngày tháng nàng đã có mái gia đình, nàng vẫn đứng bên cạnh biến động xã hội, song những dòng chữ được viết ra vẫn thẩm thấu sự quay cuồng trong cơn lốc lịch sử. Những trang nhật ký mê man ấy hẳn chỉ còn là di vật của một người đã chết, nếu chàng (hay nàng) nằm xuống.


Chàng vẫn tồn tại, như thân phận của những người may mắn sống sót sau cuộc chiến kéo dài tàn bạo. Trở về thành phố theo đoàn người tiếp thu, chàng không thể chia sẻ cuộc náo động của kẻ chiến thắng, không phải vì màu cờ đã hoàn toàn ngả đỏ, chấp nhận bước đi tất yếu của sách lược thống nhất toàn diện dưới quyền lãnh đạo của đảng, những con chốt trong guồng máy rầm rộ chiếm cứ khắp nơi, những con thiêu thân say bóng lửa chinh phục. Bộ mặt thành phố biến đổi. Như rập khuôn mẫu một di tích hoang phế. Nơi chàng đã sống những ngày tháng rồi chia lìa đôi lứa luyến ái bên vòm láng khói lửa (người bạn đời ở thật xa, có thể đã tốt nghiệp trở về nhưng không liên lạc.

Người bạn gái xưa, cũng tuyệt mù tin tức. Chàng trở lại con đường cũ vào những ngày đầu, hàng quán sách còn la liệt, như níu kéo sự trùng trễ của tàn tích xưa), bóng lầm than vẫn in dấu ấn trên những khuôn mặt người dân, âm thầm chịu đựng sự chuyển dịch lùi dần vào lạc hậu. Đã lâu lắm, chàng không thể đọc nổi một quyển sách. Những chữ lởn vởn bóng phù thủy dậy âm binh giảo trá. Hình dung nơi dinh thự ấy, những bộ mặt Ủy viên chập chờn vẻ sắt máu thống trị. Câu hỏi thuở nào lại dội lên trong trí, làm gì?


Con người nơi chàng thêm một lần nhận chịu nỗi đau thoát xác - khai tử một lý lịch. Có thể nào chịu đựng khoác lớp áo cán bộ mãi khi lý trí kêu gào phản kháng. Cũng lại biến động đưa đẩy chàng lên đường ra biên giới. Đi như thôi thúc phiêu lưu vào cuối đường hầm tuyệt vọng. Con sói cô độc vẫn cường ngạnh xông vào cuộc đào thoát sang phía bên kia phòng tuyến - như tái diễn cuộc chơi trong vòng sinh tử của đời người. Chàng bị giam giữ ở cao ốc số 7 cùng với những cán binh, những thanh niên đi nghĩa vụ quân sự bỏ hàng ngũ chạy qua biên giới. Sau nhiều lần bị thẩm vấn về quân sự, lý lịch.

Quả thật, con người không thể chối bỏ được lý lịch. Dấu ấn quá khứ thân phận ở đời. Đứng trong hàng rào kẽm gai nhìn ra quang cảnh đám đông tị nạn lô nhô ở trại bên cạnh, lòng chàng nhẹ tênh như thuở nào trong quân lao, chịu nghịch cảnh trói buộc. Đã hành động, đã chấp nhận hậu quả. Chàng hiểu ý niệm tự do là một khoảng không thừa thải. Chỉ cởi bỏ những ràng buộc, lao vào trận địa mê hồn mới. Không giải thoát. Cuộc sống không thể chờ đợi những tình cờ, nhưng cơ hội bất ngờ vẫn đến. Một người bạn cũ làm an ninh cho tòa Đại sứ đã nhận ra chàng và bảo lãnh chàng qua trại khác, nơi chờ đợi thủ tục định cư ở nước thứ ba.



Về đâu? Những ngày tháng đã không chờ, không đợi. Tinh thần bình an, như chưa bao giờ trong đời được yên ổn như thế. Chàng lại nhớ đến nàng. Hình ảnh mười mấy năm qua vẫn rõ nét trong trí nhớ, thôi thúc chàng ghi lại thành những bức phác họa. Dường như kiểm điểm trong tâm thức, chàng nhận ra nhiều lần phóng xô vào chỗ hiểm nguy để tìm thoát hiểm, cái nhân tố thúc đẩy thực sự từ mối quan hệ với nàng. Bóng dáng của tình yêu, có phải? Hẳn nàng đang hiện diện ở một nơi nào, chân trời bình yên hạnh phúc dành riêng nàng. Bây giờ, chàng mới cảm thấu nỗi mệt mỏi của con người trong bước tận cùng. Nhìn thời gian qua lặng lờ, không còn cái sôi nổi của buổi đầu hành động.

Cho đến ngày được nhận lên đường qua Âu châu. Bắt đầu từ hoàn cảnh xa lạ thế lực đã lì lợm với lao động, chàng thu xếp mau lẹ một cuộc sống đơn giản với khoảng thời giờ nhàn rảnh để trở lại ý định cơ hồ mới tìm ra, dựng khung vẽ lên những suy tưởng đầy ắp trong đầu, và hình ảnh nàng.

Khí hậu của thành phố người lôi cuốn chàng mê man trong dòng sáng tạo, đi lang thang vào khu rừng nhỏ, dừng bước trên bờ sông, phong cảnh thanh bình phản chiếu ngược lại những nét rực lữ, quằn quại trong một thời kinh hoàng vẫn còn loang lổ trên đất nước, chứng tích cuộc nội chiến tương tàn, nơi chàng đã cầm vũ khí chịu đựng nhọc nhằn trên hai giới tuyến, tiêu hoang sinh lực thanh niên vào cõi vô bằng, để tận cùng không nhận diện được mặt mũi thực những chặng quá khứ của đời.

Chàng không nuối tiếc những mất mát. Nếu có chọn lựa sống trở lại chàng cũng chẳng thể nghĩ bắt đầu phải hành động như thế nào. Những băn khoăn thể hiện bằng đưồng nét - hơi thở tự do sinh động qua tình bạn mới, những người họa sĩ cùng chịu cảnh lưu đày như chàng, đến từ Nam Phi hận thù, Trung Đông Âu mù ám. Sáng tạo, ngôn ngữ của màu sắc chia sẻ niềm thông cảm giữa những con người lận đận bên trời, cùng với những chuyến đi bất ngờ.

Thiếu nữ bước vào phòng triển lãm của Đại học, bị lôi cuốn ngay trước bức họa bán thân một người con gái, mái tóc xõa nghiêng bờ vai bên nền trời hồ thủy. Bức họa thật hiền hòa, đơn giản giữa những khung cảnh rực chói màu sắc của lửa, đất và trời nước, dưới ánh sáng bão hòa chiếu xiên dãy hành lang nghệ thuật. Như một hiện diện khiêm cung im lặng. Nàng tò mò tìm số trên danh mục mang tên tác phẩm: ““un grand pòeme né de rien ».

Thật lạ lùng. Người bạn gái trong ban tổ chức vừa chợt đến, thấy vẻ chiêm ngưỡng của nàng đã lên tiếng hỏi nàng có muốn gặp tác giả bức tranh đang ở phòng tiếp tân bên cạnh. Người họa sĩ xuất hiện, thoáng sững sờ trước nét hao quen của thiếu nữ đối diện với khuôn mặt trong tranh. Mái tóc nàng cắt ngắn, vẻ trẻ trung tinh nhanh có khác.



Thiếu nữ không để chàng mở lời, đã nói ngay, họa phẩm của chàng lấy cảm hứng từ một câu thơ của Perse, “cháu biết tên bác rồi, và người trong tranh là mẹ cháu.” Có thể chưa tình cờ nào trong đời khiến chàng xúc động như vậy, ngay giây phút thoát hiểm. Chàng chỉ biết gật đầu, tâm cảm dưng dưng nỗi hạnh ngộ có phải. Chưa kịp hỏi về nàng, một người trong ban tổ chức đã tới mời chàng trở lại phòng bên cho một cuộc nói chuyện ngắn. Người thiếu nữ đi theo sang phòng hội, tưởng như đã thân quen từ lâu lắm.

Những vòng ánh sáng êm dịu tỏa trong không gian bao quanh, những khuôn mặt nhấp nhô trên hàng ghế cử tọa đọng lại niềm hội hữu tri kỷ. Chàng nói đến kỷ niệm đời, mối lư u đày dài đặc của con người trong kích thước hạn hẹp của thế giới, và sáng tạo như một dây oan khiên trói buộc quá khứ vào hiện tại, bản chứng từ đánh dấu tội ác mọi giai đoạn phát xít.


Ra khỏi vùng ánh sáng mờ ảo của căn phòng nhỏ, người thiếu nữ tuổi nhỏ, như thuở chàng quen biết nàng, dẫn chàng tới bãi đậu xe. Cô gái lái xe vòng qua những thông lộ của khuôn viên đại học hướng vào xa lộ, bỏ lại đằng sau những dặng cây hoa tím xum xuê dưới ánh nắng, dáng điệu nhanh nhẹn song nét mặt trầm mặc sau gọng kính mát.


Cháu sẽ đưa bác tới một nơi bác sẽ thích như cháu, khoảng nửa giờ xe, bao nhiêu câu hỏi chất chứa trong đầu, nhưng chàng yên lặng tôn trọng tư lự của bạn. Chàng nhắm mắt tưởng nhờ đến quãng thời gian cách biệt, thoáng hư không hạnh động, thoáng cô tịch của ngừng nghỉ. Xe dừng lại bên triền dốc mỏm đồi nhỏ, những tàng cây tỏa bóng mát, nhìn xuống phía dưới thoai thoải bờ đá tiếp giáp bãi biển, từng đợt sóng trắng xóa xô vào bờ.


Một thiếu nữ Mỹ đang ngồi trên mô đất, vây quanh lá cỏ, lấy phác họa trên tập giấy vẽ khổ lớn, dáng điệu mải miết. Người bạn đồng hành của chàng đã tháo cặp kính mát. Bây giờ chàng mới nhận ra đôi mắt cô bé buồn rượi, dưng lệ. Những khi cô đơn, cháu thường đến nơi này nhìn ra biển để nhớ mẹ, quê hương ở phía bên kia chân trời. Nàng đã mất, thực sự đã ra khỏi tâm tưởng hoài ngộ của chàng. Cuộc biến động như cơn họa lớn giáng xuống đất nước, cuốn theo những mất mát triền miên cũng đã lấy đi của chàng hình bóng thân yêu cuối cùng trong đời.


Trước giờ phút lâm chung, nàng xin cha mẹ lo cho con gái đi thoát, như xa vùng ác mộng tỏa kín đời nàng. Những trang nhật ký mới, viết cho người mất tích (có thể) vĩnh viễn. Thư gửi người thi sĩ cũng bặt hồi âm. Thành phố xáo trộn miên man, cuộc sống mỗi lúc khó khăn, tưởng chừng gánh nặng ở đời như xiềng xích địa ngục.

Nàng không thắc mắc con đường chàng chọn lựa đúng hay sai, nàng chỉ thầm tự trách, nàng vẫn đứng bên lề xã hội mãi mãi, trong khi chuyển động cần đôi hia bẩy dặm (hẳn chàng đã quên nàng, dấn thân vào chốn xông pha đầy thử thách hấp dẫn cho thỏa chí bình sinh, có thể chàng đã đắm đuối trong cơn bão tố dựng thành lịch sử, và nàng chỉ như chiếc bóng hiu hắt nơi con hẻm nhỏ ở thành phố này), những trận đánh lớn, những cuộc trải bom như giải thảm bừng đỏ trên màn ảnh truyền hình làm tâm thần nàng kinh hãi nghĩ đến hình ảnh chàng ngã gục như con thú nhỏ sập bẫy.


Tập thơ của Perse chàng tặng như một lưu niệm nơi chốn lưu đày. Khi đất nước đẫm mình trong cơn đại họa, nàng vẫn mong mỏi chàng trở về, - có thể, giữa đám người thống trị mới, ngôn ngữ kiêu căng hận thù, những xáo trộn nền tảng xã hội trầm kha và nàng buồn bã nghĩ đến niềm mơ ước ngày xưa của hai người (liệu chàng có biến dạng, cũng sắt máu lạnh lùng như kẻ thay tim đổi óc? Nàng rùng mình hoảng hốt). Trong những ngày sau cùng, cô bé nói, mẹ cháu yếu đuối đến độ suy nhược. Mẹ chỉ muốn đi thật xa, thoát khỏi cái thế giới đổ nát với những mảnh vụn của khung kính vạn hoa đã vỡ.

Mẹ muốn trốn chạy một đời sống giả trá. Một quá khứ chập chùng. Một người đợi chờ trong tuyệt vọng. Lắng nghe con gái nàng tâm sự, những hình ảnh dĩ vãng hiện về dấu tích mê lầm để lại nơi kẻ mộng du không trọn vẹn. Chiều xa dần khoảng trùng dương bao la, cõi đất người thu hẹp lại tầm mắt. Chàng như tìm lại bản thân, một hình thể khác đọa đày. Cô đơn thống thiết, khi người thiếu nữ chia tay trở về campus. Lại một cuộc trốn chạy những gì thân yêu nhất, chàng để lại bức họa chân dung ấy cho con gái nàng, gửi lại tâm hồn mình lạc lõng trong chuyến lên đường.



No comments: