Friday, November 19, 2010

SƠN TRUNG * HUẾ ĐAU THƯƠNG


Miền Trung đau thương. Miền Trung vai gầy đã gánh chịu cảnh đất cằn khô, sỏi đá và thiên tai. Ngoài ra, dân Miền Trung đã chịu tổn thất rất nhiều từ đầu thế kỷ 19 đến nay.
Ở đây, chúng tôi xin nói điểm chính là việc kinh đô thất thủ 1885.

Ngày 16 tháng 9 năm 1856, tàu Catinat của Pháp được cho phép cập bến Đà Nẵng để yến kiến Tự Đức. Phái viên Pháp lúc này lại không được gặp Tự Đức. Ngày 26 tháng 9 năm 1856, một số tàu chiến của Pháp ở Thái Bình Dương vào bờ biển Annam bắn phá, rồi bỏ đi. Ngày 24 tháng 10 năm 1856, tàu Capricieuse của Pháp tuy được cho phép vào cảng Đà Nẵng nhưng những yêu cầu của một số phái viên Pháp yêu cầu Tự Đức về việc thông thương và bãi bỏ cấm đạo đã không được Tự Đức thông qua.

Trong một số phái viên của Pháp lúc này là Montigny tức giận mắng chửi cả cung điện Huế. Với lời hứa sẽ có sự giúp đỡ của giáo dân Annam như Pellerin nói, Bộ trưởng Ngoại giao Pháp Walewski giao nhiệm vụ cho Phó Đô đốc Hải quân Pháp - Thái Bình Dương Genoully là sau khi chiếm được Quảng Châu phải tiến tới Đà Nẵng chiếm được vùng này, Nữ hoàng Isabella II của Tây Ban Nha cũng hứa sẽ đem tàu chiến đến giúp đỡ người Pháp cứu lấy các giáo dân.

Ngày 1-8-1883, Pháp nã đại bác vào Thuận An. Tối 20 tháng 8, Thuận An thất thủ; con đường thực dân Pháp tiến vào kinh đô đã sẵn sàng. Triều đình hoang mang lo sợ, một số muốn hàng, một số hoang mang, Tôn Thất Thuyết cương quyết đánh Pháp.

Ngày 21/5/1885, Bộ trưởng Ngoại giao Pháp chỉ thị cho Lemaire - Khâm sứ Pháp ở Huế: “... Không thể không trừng phạt hành vi của viên Thượng thư Bộ binh nước Nam... Ông cho triều đình nước ấy biết rằng chúng ta không chịu để cho ông Thuyết ở chức Phụ chính lâu hơn nữa. Ông phải đòi người ta bãi chức ông ấy và đưa đi xa”. Cuối tháng 5/1885, Chính phủ Pháp bổ nhiệm tướng Roussel De Courcy làm Toàn quyền chính trị và quân sự ở Việt Nam với nhiệm vụ cụ thể là ổn định tình hình ở Việt Nam.

Ngày 1/6/1885, De Courcy đến vịnh Hạ Long và từ đó đem quân vào Huế. Ngày 1/7/1885, y viết trong nhật ký: “... Muộn còn hơn không, ta sẽ bắt Tường và Thuyết hoặc ta sẽ làm cho chúng hết phương phá hoại ta”.

Ngày 3/7/1885, De Courcy tập hợp sỹ quan dưới quyền và mời đại diện Nam triều sang Tòa Khâm sứ ở bờ Nam sông Hương để bàn về nghi thức triều kiến vua Hàm Nghi và trình Quốc thư của Chính phủ Pháp. Tôn Thất Thuyết biết âm mưu bắt sống mình của De Courcy nên cáo bệnh không đến, chỉ cử Nguyễn Văn Tường và Phạm Thận Duật đi thay.

De Courcy tỏ thái độ ngạo mạn, đòi cho phái đoàn Pháp đi vào lối giữa Ngọ môn (là lối chỉ dành cho nhà vua); đòi vua Hàm Nghi phải bước khỏi ngai vàng xuống nhận quốc thư... Cuộc thương thảo bất thành.


Hàm Nghi - Ông vua yêu nước

Ngay lập tức, Tôn Thất Thuyết cùng phe chủ chiến ra lệnh tập trung binh lực, đào thêm hầm hố, dựng thêm chướng ngại vật, đưa thêm 300 khẩu thần công lên mặt thành, dựng các tấm thuẫn đan bằng mây tre và bọc hai lớp da trâu để cản bớt sức công phá của đại bác địch trên mặt thành... Cả các tù nhân trong các lao Thừa Thiên và Trấn Phủ cũng được huy động vào đội ngũ chuẩn bị đánh Pháp.


Phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết


Quá nửa đêm 5/7/1885, De Courcy còn đang say sưa trong buổi tiệc khoản đãi quân sỹ và bàn kế hoạch thị uy lực lượng trong buổi trình quốc thư thi tiếng súng đánh Pháp đột ngột nổ trên cả hai hướng. Tôn Thất Thuyết và Đề dốc Trần Xuân Soạn chỉ huy cánh quân tấn công khu nhượng địa Mang cá ở phía đông bắc kinh thành. Em ruột Tôn Thất Thuyết là Tôn Thất Lệ chỉ huy cánh quân đánh vào Tòa Khâm sứ ở bờ Nam sông Hương.

Quân Pháp cố thủ trong doanh trại đợi trời sáng để chờ dịp phản công. Sau 5 giờ chiến đấu, đạn dược của quân triều đình cạn dần. Quân Pháp tập trung hỏa lực phản kích rồi tràn vào trong thành. Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi ra cửa Chương Đức, rời bỏ kinh thành lên phía bắc để tiếp tục cuộc kháng chiến. Kinh thành Huế chìm trong lửa khói. Khắp nơi đổ nát hoang tàn, chết chóc thê lương. Những ngày sau, người ta nhặt được gần 1.800 xác người, rất nhiều trong số đó là dân thường, hơn 7000 người khác bị thương. Người chết được vùi lấp vội vã dọc các con đường trong thành nội.

Tòa Khâm sứ và Mang Cá cách xa 2500m và ngăn cách bằng dòng Sông Hương, vì thế chúng không thể cứu viện lẫn nhau. Quân Pháp đành thúc thủ, chờ đợi…
Tác giả Nguyễn Nhược Thị trong tác phẩm Hạnh Thục Ca đã viết như sau:

Ầm ầm tiếng súng khắp trời Khói um mù đất, lửa ngời lòa mây Canh tư thắng phụ chưa hay Canh năm nghe báo rất may mừng lòng. Bình Đài thu phục đã xong Lầu Tây Dương đốt, lửa chong bốn bề Phen này Tây ắt phải về Ngửa nhờ trời đất phù trì lắm thay .
( Hạnh Thục Ca, sđ , tr 41)

Về tình hình ở Tòa khâm sứ vào đêm hôm đó, A.Delvaux (ngoại vụ Pais) đã viết trên BAVH- 1916 như sau:

“Một trong những đạn đại bác bắn từ ổ pháo phía Đông đã làm thủng mái và nền nhà của nhà Phái bộ ( tức Tòa Khâm sứ-TTT)
Các trại lính của đại đội 27 và 30 của Tiểu doàn 4 Thủy quân lục chiến bị cháy cùng một lúc với chỗ để đồ đạc của Phái bộ và các nhà hậu cần. Lính đã tìm đến chỗ tường bằng cửa phía trước của tòa nhà đối diện với trại binh. Ông De Courcy chỉ huy 160 người, bố trí một cửa sổ hai người và tổ chức ngôi nhà thành một pháo đài. Một vài loạt súng trường bắn ra nhưng nhất là sáu cổ đại bác ở góc đông của Kinh thành đã cầm chân 1500 kẻ tấn công không có súng ống nhiều và ở cự ly xa. Cũng may mắn là chiếc nhà của điện thoại ở cách xa nhà phái bộ 300m không bị đạn, nhờ vậy mà ông tướng ( chỉ De Courcy) có thể liên lạc với đồn Thuận An. Ông tướng bị kẹt trong gian nhà chính giữa rất lo cho số phận của đồn Mang Cá. Đến sáng ngày thì có hai khẩu đâị bác được đặt bố trí thành ổ pháo hướng nòng về phía Tây của nhà phái bộ và đã bị một trung đội thủy quân lục chiến tiến đánh đằng sau và chiếm được…” ( BAVH 1916, sdd tr 76)

Rạng sáng ngày 23/5 , quân Pháp bắt đầu phản công.

Dưới sự chỉ huy của Pernot, Pháp chia quân làm 3 ngã để tiến vào kinh thành. Từng đợt xung phong, chiếm lĩnh các vị trí cửa chắn then chốt , để tràn vào các cửa Đông Ba, Thượng Tứ, Chánh Đông, Chánh Tây, An Hòa…Một toán từ Cửa Trài phá cầu Thanh Long, vượt sông Ngự Hà tiến vào Lục Bộ , cố tấn công cửa Hiển Nhơn để mở đường vào Đại Nội. Toán quân thứ hai vượt Cầu Kho , tấn công quân ta đang tử thủ ở vườn Thượng Uyển , đồng thời cũng để tiếp ứng cho toán quân địch đang tìm cách phá vỡ cửa Hiển Nhơn ( cửa phía Đông vào Đại Nội ).

Bị bất ngờ phản công , ban đầu, quân ta chống cự rất anh dũng, bắn lủng ruột viên thiếu úy Pellicot. Các vọng lâu được sử dụng làm pháo đài.Trên thành ,quân ta bắn xuống xối xã. Quân địch đánh vào một pháo đài có chứa thuốc súng của ta, một toán quân Phi và một tên chỉ huy bị nổ tung lên. Bọn chúng bị chết cháy ngay tại trận.


Về bên phía Tòa Sứ, đoàn quân của Cheroutre cũng tiến sang.. Chúng cố tràn lên, nhưng bị quân ta nổ súng chặn lại. Trung úy Lacroix bị thương; thiếu úy Heitschell khi sắp qua cầu thì một thùng thuốc súng phát nổ, y bị chết cháy.
Cuối cùng, địch cũng tiến được vào thành. Ngay lúc đó, quân của Bornes và Sajot cũng vừa tiến vào

Trước sự phản công của địch, quân ta không giữ được thành, phải tháo chạy về phía Lục Bộ và tràn ra cửa Đông Ba. Tại đây đã bị toán quân của Pháp từ phía Cửa Trài tiến lên bao vây. Cuộc giết chóc tàn bạo chưa từng có đã xãy ra. Quân Pháp tiến được vào thành, chúng hạ cờ của triều đình xuống, treo cờ tam tài lên. Sau đó, tiếp tục tiến vào Đại Nội, vua Hàm Nghi đã ra khỏi Kinh thành, tiến ra căn cứ Tân Sở. Pháp chiếm Đại Nội, chúng thu nhiều vàng bạc và số tiền hơn một triệu quan. Đó là số tiền mà triều đình không kịp mang đi…

Trước đó, trong khi tiến vào Thành Nội, địch ra sức đốt phá, hãm hiếp, giết chóc, cướp bóc không từ một ai. Một toán quân của địch đến đốt trụi trụ sở Bộ Lại, Bộ Binh và các kho thuốc súng. Chúng chia nhau chiếm giữ các kho tàng, cung điện. Trưa hôm đó, chúng chia nhau đi đốt hoặc vùi lấp những thi hài của quân và dân ta đã ngã xuống dưới gót giày xâm lực của bọn chúng.

Một cuộc chạy loạn hết sức đau thương. Hơn 1500 người dân và binh lính của ta đã ngã xuống trong đêm hôm đó.Họ chết vì bị trúng đạn của Pháp, một số do chen lấn ,giẫm đạp nhau khi cố vượt ra khỏi Kinh thành. Hầu như không có gia đình nào không có người bị tử nạn trong đêm binh biến này.
Sự bi thương đã được truyền khẩu thành một bài vè có tên là” Vè thất thủ Kinh đô” :

Súng Tây nó bắn đì đùng Đồn đài tan nát khổ trong nước nhà Người thì ra cửa An Hòa Kẻ thì ra cửa vậy mà Chánh Tây Người lên thành lại xuống giây Sa tay rớt xuống thôi rày thác oan Trách thay quan lớn không troàn Trong thành thiên hạ chết oan đã nhiều Súng mình thì bắn phiêu phiêu Súng tây bắn ít chết nhiều người ta… ( Vè “ Thất thủ kinh đô”, sdd , tr 83)

Sáng 5/7, De Courcy viết báo cáo gởi Toàn quyền Đông Dương :

“ Huế, ngày 5/7 vào lúc 3 giờ sáng. Phái bộ và Mang Cá bị bất ngờ tấn công bởi toàn bộ binh lực của Kinh thành Toàn thể khu vực của Thủy Quân lục chiến bằng nhà tranh xung quanh Phái bộ đều bị pháo cháy và người đốt. Tòa nhà phái bộ nguyên vẹn. Không có tổn thất gì đáng kể. Không có tin tức gì về Mang Cá là nơi đóng quân của tiểu đoàn 3 lính Phi. Kinh thành bị bốc cháy nhiều nơi; súng lớn và súng nhỏ nổ nhiều. Tôi nhìn theo hướng của hỏa lực, tôi chắc rằng địch đã bị đẩy lui. Tôi bảo vệ được nhà tranh điện thoại. Tôi đã ra lệnh cho Hải Phòng đưa quân đóng ở đó vào. Tôi chẳng lo ngại gì cả De Courcy
Huế, ngày 5 tháng 7 vào lúc 11 g sáng.

Kinh thành đã nằm trong tay chúng tôi với 1 100 cổ đại bác. Quân đội chiến đấu tuyệt vời, đầy tin tưởng. Các thiệt hại khá lớn. Sự tấn công về phía Annam lúc 1 giờ sáng cùng một lúc về phía khu vực trong Kinh Thành, nơi chúng tôi đóng, và về phía khu vực Phái bộ ( tức đồn Mang cá-TTT). Nhưng kẻ đánh phá với số lượng hơn 30 000 người, lúc đầu đã đốt cháy chỗ đóng quân bằng nhà tranh ở Mang Cá, và ở chỗ đóng quân Thủy quân lục chiến ở tại khu vực Phái bộ. Tất cả trang thiết bị đều bị cháy trụi, đạn dược và lương thực cứu được. Ngôi nhà phái bộ đều mang nhiều vết đạn pháo. Tôi đang tổ chức phòng thủ để đẩy lùi đợt đánh có thể xãy ra vào đêm mai, ít nhất cũng nhằm vào Phái bộ. Chẳng có gì phải lo ngại. Điều binh có trật tự để củng cố đồn. De Courcy “ ( trích BAVH 1916, sdd tr 75).


Dù đã chuẩn bị khá cẩn thận trong việc tấn công đồn giặc, nhưng vì thiếu thông tin liên lạc, nhất là khi phải đánh đột kích trong đêm tối. Hơn nữa,vũ khí của ta quá kém, không có sức công phá lớn và không thể bắn được tầm xa nên quân ta đã thua trận

Tuy nhiên, chúng ta cần thừa nhận ý chí chiến đấu của Tôn Thất Thuyết và binh sĩ của ta. Ông đã ngang nhiên chỉ huy quân ta tấn công vào đồn giặc, quyết đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi đất nước. Điều đó đã thể hiện sĩ khí của một nhà cầm quân “ uy vũ bất năng khuất”…

Kể từ đó về sau , ngày 23/5 AL đã biến thành ngày giỗ lớn hàng năm của người dân Huế. Họ cúng cho tất cả những người tử nạn: binh sĩ đã chiến đấu và gục ngã trước làn đạn quân thù; dân chúng, quan chức, thợ thuyền…đã chết do nhiều nguyên do: bị trúng đạn của giặc ; giày đạp chen lấn nhau mà chết, hoặc sẩy chân rơi xuống hồ ao dày đặc trong kinh thành; có người lại chết vì bị ngã xuống từ trên thành cao khi cố trèo ra khỏi thành…

Năm 1894, bộ Lễ đã cho xây về phía trước Hoàng thành một cái Đàn gọi là Đàn Âm Hồn , đàn có diện tích 1500m2; gần cửa Quảng Đức, là địa điểm mà Tôn Thất Thuyết đã trực tiếp chỉ huy quân ta đánh vào đồn Mang Cá.( Tiếc thay, do sự vô tâm của con người, hiện nay Đàn Âm Hồn- Đàn Chiến sĩ trận vong đầu tiên của nước ta đã không còn dấu tích ! ).
Trước đây, hàng năm , đến ngày 23/5 AL, tại Đàn Âm Hồn có một lễ cúng rất lớn để truy niệm những binh sĩ đã hy sinh và người dân đã tử nạn trong đêm binh biến lịch sử đó. Quan Đề đốc Hộ Thành được cử đến làm chủ tế.

Hiện nay, trong khu vực Thành Nội Huế ( tại ngã tư Mai Thúc Loan- Lê Thánh Tôn) vẫn còn miếu Âm Hồn. Đó là ngôi miếu do người dân tự lập nên từ rất lâu. Hàng năm đến ngày “ quẩy cơm chung” ( 23/5 ÂL) , hoặc ngày rằm tháng 7 ,mặc dù từng gia đình đã có cúng tại nhà, nhưng người dân trong khu vực vẫn cùng nhau đến đây, bày biện lễ vật, với tất cả lòng thành, họ cùng nhau thắp nhang, đốt đèn để truy niệm hàng ngàn chiến sĩ và đồng bào ta đã mất trong đêm kinh hoàng ; đêm kinh thành Huế thất thủ vào tay bọn thực dân xâm lược…


Miếu Âm Hồn tại ngả tư đường Lê Thánh Tông và Mai Thúc Loan, địa điểm chính tổ chức lễ cúng âm hồn hằng năm tại TP Huế.

Miếu Âm Hồn ở cống Chém (An Hoà), một trong các miếu còn sót lại tại TP Huế.

Một miếu Âm hồn khác ở làng Thế lại - Phú Hiệp - TP Huế

Dòng chữ ghi trên miếu: Nghĩa trủng đường đàn ( nơi tế lễ các nghĩa sĩ 23.5 Ất Dậu )

Lăng trong khu nghĩa trang mới, nơi cải táng 132 hài cốt tử sĩ VNCH thiệt mạng trong những ngày cuối cùng cuộc chiến, tháng 3, 1975, ở Thừa Thiên.


Bia thờ trong khu nghĩa trang nơi vừa cải táng 132 tử

... Từ ngày 23/5 âm lịch năm Ất dậu đau thương đó, người dân Huế có thêm một phong tục mới. Bắt đầu từ ngày 22/5 âm lịch và kéo dài đến cuối tháng, các gia đình ở Huế đều làm mâm cơm cúng những người đã chết trong ngày bi thương kinh đô thất thủ. Năm 1895, những người dân Huế dựng miếu Âm hồn ở ngã tư Đông Ba - Âm hồn (nay là ngã tư Mai Thúc Loan - Lê Thánh Tôn). Ngôi miếu đơn sơ trở thành nơi tập trung tưởng niệm. Hàng năm, những người dân sống quanh miếu Âm hồn lập Ban tổ chức lễ cúng cho các chiến sỹ trận vong và đồng bào nạn vong năm Ât dậu 1885 trong hai ngày 22, 23/5 âm lịch.







Các tư gia, các khuôn hội, chùa chiền, các tổ chức từ thiện đều tích cực cúng âm hồn do xuất phát từ lòng cảm thương những người bị chết trong biến cố một cách bi thương và oan uổng, hồn bơ vơ vất vưởng, không có ai cúng cấp cho nên cúng âm hồn có ý nghĩa cao đẹp là công cho "thập loại chúng sinh" chứ không hẳn cúng cho thân nhân trong gia đình mình. Tính nhân bản rộng lớn vả đẹp đẽ là ở chỗ đó.

Từ ngày 23 tháng 5, nếu là một đu khách mới đến Huế lần đầu, người ta sẽ ngạc nhiên khi thấy vô số rạp được dựng lên để cúng âm hồn trong thành phố. Nhạc cúng lễ vang động khắp nơi, hương trầm nghi ngút tỏa cả đêm lẫn ngày. Ban đêm các thời cúng của từng gia đình được đặt trước mặt nhà, hương đèn được đặt sẵn. Lễ vật cúng ít nhiều tùy gia cảnh nhưng tối thiểu phải có chè, cháo, gạo muối, bông ba hoa quả, hương, nhang trầm, hột nổ, áo binh, giấy ngũ sắc cau trầu rượu. Đặc biệt trong lễ cúng 23 tháng năm này, từ gia đình cho đến tập thể, phải nhớ có một bình lớn nước hoặc một thùng nước chè đầy và một đống lửa đốt bên cạnh bàn thờ cúng. Người cúng tin rằng các âm hồn sẽ đến uống nước và sưởi ấm bên đống lửa, vì nhiều người trong biến cố đã chết khát, và chết lạnh lẽo dưới ao, hồ, sông suối trong rạng ngày 23 tháng 5.


Ngày chính cử hành nghi lễ là ngày 23 tháng 5. Nhưng đối với các tư gia thì có thể tùy theo từng gia đình mà tổ chức từ 23 tháng 5 đến 30 tháng 5.
Tiến trình nghi lễ cúng tại miếu âm hồn hằng năm như sau:

- Ngày 22 tháng 5, dựng rạp ngoài trời, trang hoàng khu vực cúng tế ở miếu và bàn cúng lễ ở ngoài trời. Có năm lại thiết lập đài chiến sĩ trận vong trước miếu.
- Sáng 23 tháng 5, khoảng 7 giờ sáng làm lễ khai kinh, tụng kinh.
- Trưa 23 tháng 5, cúng ngọ theo nghi thức tôn giáo.
- Chiều 23 tháng 5, lúc 14 giờ làm lễ tế cúng âm hồn theo nghi thức tế lễ của Khổng giáo. Quan trọng nhất là ông chủ tế và ông xướng lễ. Tại đài chiến sĩ trận vong thì làm lễ truy điệu.

Các người đảm nhiệm việc cúng lễ y phục chỉnh tề theo quy định. Phường bát âm được mời đến để cử nhạc trong buổi lễ.
Buổi lễ kéo dài suốt cả buổi chiều. Phần chính trong buổi lễ là đọc văn tế. Có nhiều bài văn tế đã viết và đã đọc. Sau đây là một đoạn của bài văn tế do cụ Phan Bội Châu viết trong khi cụ bị giam lỏng ở Bến Ngự:

.

..Cúng cha, chú, bác, thím, mợ, dì, anh, chị, em ta cả thảy...
Đau đọan sau, còn đoạn trước
Tính nhất sinh nhất tử
Sơ khác gì thân
Này hương, hoa, vàng, giấy, xôi, rượu
Gọi chút rằng:
Xin nếm lấy hơi

Xin nếm lấy lòng

Nghĩa đồng chủng đồng bào

Thác xem như sống
Hỡi sinh linh các đấng
Phù trợ cho Tổ quốc trường tồn.
Ai tai, thượng hưởng!

Sau cuộc lễ là hình thức phóng sinh: chim, lươn, cá v.v…

Trong lễ “đăng đàn chẩn tế”, vị hòa thượng chủ lễ thỉnh thoảng lấy tay vốc từng nắm xôi và đồng tiền kẽm đặt sẵn trong một cái khay lớn vất ra sân. Đám trẻ con chen chúc nhau lượm các đồng tiền trên lấy đây đeo cổ để trừ yêu ma quỷ quái.



Sau kỳ lễ tế, vào ngày 12 tháng 6 âm lịch có tục đi chạp mộ tập thể những người tử nạn trong ngày thất thủ kinh đô (địa điểm gần lăng cụ Kinh Tế, trên đường vào chùa Trà Am, có hai đám mộ tập thể chôn người tử nạn trong biến cố 23/5) tại núi Ngự Bình (những người này được vùi sơ sải, đến khi dọn tử thi trong thành nội, người ta nhận thấy khu vực có nhiều tử thi nhất là vùng sát với miếu âm hồn hiện tại. Có lẽ con đường dẫn đến cửa Chính Đông là con đường dân chúng ào ào chạy loạn, quân Pháp vào thành cũng theo cửa Chính Đông nên sự sát hại thật thảm khốc. Khi đào mộ cải táng, người ta thấy có mũ mang, bài ngà quan lại lân xác ngựa).



Ngoài việc cúng tế ngày 23 tháng năm, dân Huế còn tổ chức thả đèn trên sông Hương để tưởng niệm đồng bào tử nạn và chiến sĩ trận vong.
Sau đó hơn nửa thế kỷ, năm 1945, cộng sản nổi lên, những công an gốc Quảng Nam, Quảng Ngãi đã ra Huế thực hiện cuộc tàn sát như họ đã giết Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi. Và năm 1968, cộng sản từ B8ác vào đã sát hại hàng chục ngàn dân Huế. Và trong cuộc tấn công Quảng Tri, Huế, Đà Nẵng cộng sản đã thẳng tay bắn vào thường dân.

Ngày nay, cộng sản cấm truy điệu nạn nhân mậu thân, nhưng trong lòng người dân Huế vẫn còn niền đau khôn nguôi vì cộng sản tàn bạo. Nước mắt và máu vẫn chảy, và trên sông Hương những ngọn nến vẫn được thả trôi để tưởng niệm những oan hồn trong chiến tranh do thực dân và cộng sản gây nên.

Tháng 12 năm 2010
Sơn Trung

No comments: