Thursday, December 2, 2010

THƠ NGUYỄN KHÔI


Từ: Khoi Dinhbang
Chủ đề: tho : Tro lai Sai Gon
Đến: newvietart@yahoo.com
Ngày: Thứ Năm, 2 tháng 12, 2010, 20:09


SÀI GÒN

"Không đi không biết Sài Gòn
Đi rồi, nhẵn túi, không còn một xu
Về nhà, mới biết mình ngu
Thằng Mồm ăn một, thằng Cu ăn mười..."
- Ca dao Bắc Kỳ (mới)

Tặng : Từ Vũ & G.S Huyền Viêm

SÀI GÒN

Mười năm trở lại Sài Gòn
Phố đông, đường hẹp...mãi còn bâng khuâng
Nhà cao vút "68" tầng
Rìa kênh túp túp bần cùng...trớ trêu ?
Cánh giầu thả cửa ăn tiêu
Cu li, đĩ điếm phận nghèo lang thang...
Mưa ào trào nước triều dâng
Mới hay "Hòn ngọc Viễn đông" ngập chìm
Tạnh mưa, ráo mắt ta nhìn
Người đi như kiến, mình len chân vào
Ùn ùn tắc nghẽn "ớn" sao ?
Mong về xóm núi đồng cao quê mình
Ai lo "đê" đắp, khơi kênh ?
Chen nhau mà sống...thật kinh sự đời .
Không đi không biết, thảnh thơi
Qua rồi còn toát mồ hôi hoảng hồn
Không đi không biết Sài Gòn...
T,P Hồ Chí Minh 30-11-2010
Nguyễn Khôi - thân tặng...



ĐI CHỢ NỔI "CÁI RĂNG" (1)
"Cái Răng, Vàm Xáng. Xà No
Thương em, đóng một con đò đón em"
-Ca dao Nam Bộ
Tặng : Vũ Quang Tần
Trên sóng nước ghe thuyền về họp chợ
Ơi Cái Răng, xăng xái mái chèo khua
Cứ như thể cả xứ mình là biển
Để miệt vườn chìm trong nỗi âu lo ?
Anh đi chợ chả bán mua gì cả
Người Thăng Long tìm kiếm chất Nam kỳ
Ngồi giỡn sóng say đàn ca tài tử
Mà chị hai Quan họ đã từng mê
Thuyền Cái Răng bập bềnh chen họp chợ
Quả Sầu Riêng anh cắn ngập buồn riêng
Thật xởi lởi tấm lòng người Nam Bộ
Sớm mai ngày mang về Bến Long Biên.
-(1) tên gốc Khmer=k'ran,là nơi hội tụ nhiều ghe thuyền dân bản địa xưa
về họp chợ bán loại bếp lò "Cà Răng"...
Viết trên sông Cần Thơ, sáng 29-11-2010
Nguyễn Khôi - thân tặng...



HOÀNG HẠC LÂU

3 bản dịch độc đáo
tặng : Nguyễn Minh Thanh


Trong " Toàn Đường Thi" ( gồm42.863 bài thơ của 2520 Thi sĩ đời Đường)-Nếu chỉ lấy 1 bài thơ tiêu biểu thì chắc là ai cũng chọn đó là "Hoàng Hạc Lâu" cuả Thôi Hiệu ?
"Hoàng Hạc Lâu" thuộc hàng đệ nhất luật thi đời Đường.Tác giả của thiên kỳ thi tuyệt hảo này là Thôi Hiệu ( ?-754) người Bịện Châu ( Khai Phong-Hà nam) đỗ Tiến sĩ năm Khai nguyên 13 (725) làm Quan tới chức Tư huân viên ngoại lang,hàm tứ phẩm (cỡ Vụ phó ngày nay ). Ông tính lãng mạn,ham đánh bạc,rượu chè "của lạ" (thay vợ đến 4 lần).Hồi trẻ thơ ông diễm lệ bóng bẩy,đến cuối đờiphong thái cốt cách mạnh mẽ rắn rỏi,sáng tạo tân kỳ có thể theo kịp Giang Yêm , Bão Chiếu...Ông khổ vì ngâm vịnh đến trở bệnh xanh xao hốc hác cả người (hết mình vì thơ là vậy);Bạn ông nói đùa " không phải Bác bệnh đến như vậy,bởi khổ vì ngâm thơ nên gầy thôi" !

Lầu Hoàng Hạc xây dựng từ thời Tam Quốc,vốn là "tửu quán" -đó là 1 trong tam đại danh lâu của xứ " Giang Nam hảo "nơi hội tụ cuả các văn nhân tài tử đến đây uống rượu và làm thơ...Theo sách " Cổ đại thi tứ cố sự" thì Thôi Hiệu đề thơ ở Lầu Hac Vàng ở tư thế : thi sỹ nhìn Hán Dương ở bờ sông bên kia, "Tình Xuyên Các" bị che lấp trong ráng chiều ta, bãi Anh Vũ giữa sông phủ một lớp cỏ dày...

Thầy giáo của NK đã từng giảng giải: cái diệu của Thôi Hiệu ở chỗ chỉ một câu tả "Lầu", còn 3 câu kia đều tả "người xưa"... trong đó câu 1 là tả "người xưa", câu 3 là nghĩ "người xưa", câu 4 là ngóng "người xưa", cứ như phớt lờ không nhắc gì đến "lầu".Câu 5-8 tiền giải là tả "người xưa", hậu giải tả "người nay", tuyệt nhiên không tả đến "lầu"...

Thi sỹ chỉ nhất ý tựa cao trông xa, riêng thổ lộ hoài bão của mình.Rồi "hương quan hà xứ thị" (ở nơi này) với cây thì "lịch lịch" (in rõ), bãi thì "thê thê" (tươi tốt), riêng có mắt thì ngóng "hương quan" là không biết "hà xứ" (nơi nào).Rồi với hai chữ "nhật mộ" (chập tối lúc chim về tổ, gà vào chuồng) đặt ngang lên câu thơ làm cho 24 con chữ trong 4 câu tiền giải cùng nhảy múa tạo nên tuyệt tác để "đời sau đừng ai làm thơ về Hoàng Hạc Lâu nữa mà chuốc lấy hổ thẹn."

Vâng, đúng là thế: cái diệu của Thôi Hiệu là trong 8 câu, chỉ có một câu nói đến Lầu (câu 2).Câu 3 "Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản" là câu rất đặc biệt: dùng liên tiếp 6 chữ "trắc" trong câu thơ 7 chữ, bất chấp luật bằng trắc, với bút pháp ấy khiến câu thơ mang sức mạnh (nội lực) khác thường.Để làm gì? - để nhấn mạnh cái ý "tiền bất kiến cổ nhân"
- "nhất khứ" là một đi - "bất phục phản" là không trở lại... câu này nói lên cái lẽ vô thường của mọi người, mọi việc.

Câu 3 đối câu 4: ý là thôi, đừng hoài niệm mãi nữa.
Hoàng Hạc Lâu với cái ý tại ngôn ngoại đó là cái độc đáo của Đường thi mà nó là tiêu biểu số 1; và chính cũng vì lẽ đó mà xưa nay các nhà thơ ta đã bị Hoàng Hạc Lâu "thôi miên" ám ảnh, hết thế hệ này đến thế hệ khác lao tâm khổ tứ "dịch" nó, đến nay đã có ngót 100 bản dịch. Theo thiển ý của NK thì có 3 bản dịch đáng lưu ý là:
1.
Bản dịch của Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục
(Nam Phong tạp chí - năm 1923)

Người tiên xưa cưỡi Hạc vàng cút,
Ở đây chi những lầu hạc trơ.
Hạc Vàng đã cút chẳng về nữa,
Mây trắng nghìn năm còn phất phơ.
Sông bạc Hán Dương cây xát xát,
Cỏ lên Anh Vũ bãi xa xa.
Ngày chiều làng cũ đâu chăng tá?
Mây nước trên sông khách thẫn thờ.

Đây là bản dịch khá chối tai (rất trúc trắc) nhưng khá công phu, khá già tay (túc Nho) ; công phu ở chỗ : theo sát nhạc điệu của nguyên tác, sát cả ở những chỗ sai niêm, thất luật.

2. Bản dịch của Tản Đà
In ở tạp chí Ngày Nay số 80 , ngày 10-10-1937

Đay là một bản dịch tài hoa, bay bướm nhẹ nhàng, văn chương trầm bổng theo cung điệu lục bát (đượm hồn dân tộc). Ở nguyên tác đó là cái không khí mang mang day dứt nỗi bơ vơ hiu quạnh của thân phận con người, lạc lõng giữa trần gian trong một chiều nắng tắt.Mà thiên đường thì đã mù mịt lối về.Cái không khí Hàn Lâm ấy đã bị Tản Đà thuần hóa trở nên nhu mì, mềm mại, nhẹ nhàng, trôi chảy trong dòng ca dao (lục bát). Cái HAY của Tản Đà là ở chỗ ấy, nó vào hồn người Việt là vì lẽ ấy, nhưng đó cũng là cái hụt hẫng khi dịch như thế?

3. Bản dịch của Vũ Hoàng Chương

Xưa Hạc Vàng bay vút bóng người,
Nay lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi.
Vàng tung cánh hạc đi đi mãi,
Trắng một màu mây vạn vạn đời.
Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu,
Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi.
Gần xa, chiều xuống, đâu quê quán?
Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi!

Như ta đã biết : Thôi HIệu (con người phát ốm vì làm thơ đã vận dụng hết 10 phần công lực phá vỡ luật thơ thất ngôn, sử dụng 6 thanh "trắc" liên tiếp mới nói được:

Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch Vân thiên tải không du du

Để đến độ hùng tâm dũng khí như Đại thi hào Lý Bạch vẫn phải gác bút (đạo bất đắc) chịu thua, cúi đầu ra đi...
Còn thi sỹ Vũ Hoàng Chương sau 1000 năm thì ung dung rút kiếm, giữa trời thơ, phóng con mắt nhìn đời dõi theo cánh hạc đã mù khơi bay mất mà thong thả dụ dắt nó quay về trong cung bậc thất ngôn niêm luật (nói theo Tô Thẩm Huy). Đó là hai câu thực của Vũ bay bổng giữa trời ảo diệu:

Vàng tung cánh hạc đi đi mãi
Trắng một màu mây vạn vạn đời

Một màu vàng lóe lên giữa trời vụt tắt, một màu vàng tung lên rồi vĩnh viễn ra đi, không bao giờ trở lại, nhưng mãi mãi lấp lánh trong tâm tưởng và thâm phận con người (kiếp nhân sinh). Đọc đến câu cuối "đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi thì là cả một trời Đường thi bỗng lay động". Giá Thôi Hiệu phục sinh đọc bản dịch của Vũ thì chắc cũng bái phục: "Sóng ơi, sầu đã chín, xin người thôi giục,đó là sóng của bể dâu, hưng phế."
Ta thử đọc lại hai câu theo âm Hán/ Việt:
- Yên ba giang thượng sử nhân sầu
- Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi!

Thì sẽ thấy nội công thâm hậu của Vũ:
- Vàng tung cánh hạc đi đi mãi
Nếu đưa chữ "hạc" lên đầu câu:

- Hạc vàng tung cánh đi đi mãi

Thì cả một trời thơ lung linh tối sầm lại? Thi tài là thế - và có lẽ sau Vũ Hoàng Chương không ai nên dịch lại (Hoàng Hạc Lâu) nữa?

Góc thành nam Hà Nội ngày 27-3-2010
Nguyễn Khôi - Cẩn bút



No comments: