Saturday, June 18, 2011

NGƯỜI TRUNG QUỐC XẤU XÍ



Vạch Áo Cho NGƯỜI
Xem Lưng ?
PHAN THANH TÂM


Ông Phan Thanh Tâm, tác giả bài này, là cháu năm đời của cụ Phan Thanh Giản. Trước 1975, ông làm ở Việt Tấn Xã, Sài Gòn. Sau 75, ông vượt biển trên một chiếc thuyền nhỏ 13 người từ năm 1976. Lưu lạc một tháng trời giáp một vòng bờ biển các nước Đông Nam Á, đâu đâu ông cũng bị người ta đẩy trở lui ra biển cả. Chặng cuối cùng là đảo Palawan, Phi Luật Tân, thuyền được nhận trở lại vào bờ, nhờ sự can thiệp của một ông cố đạo người Ý đang coi một họ đạo tại đảo này. Ông là một trong nhũng «thuyền nhân» đầu tiên được đặt chân lên đảo nói trên. Bài này viết cách đây 6 năm rồi, với một phong thái thẳng thắn, nhưng ôn hoà, về một vấn đề tự-bản khá gay gắt. Tác giả sẵn lòng cho phép đăng lại để độc giả có dịp chia sẻ những suy nghĩ với ông.



Tốt khoe ra, xấu xa đậy lại và nhất định không có chuyện vạch aó cho mọi người cùng xem. Đó là phương châm của phe ta. Tại sao vậy? Tự cho là thuộc dòng giống con rồng cháu tiên, và có quá khứ hơn bốn ngàn năm văn hiến nên người mình lúc nào cũng tốt, cũng bảnh, cũng anh hùng, xuất chúng. Hễ nói tới người ngoại quốc thì xách mé, trịch thượng; gọi họ bắng thằng, bắng con. Còn nước VN phải là minh châu trời đông, là bó đuốc soi đường. Tuy nhiên gần đây, có dư luận lên tiếng là phải xét lại cái ý tưởng tự tôn, tự đại, ngông cuồng đó. Họ cho rằng cứ hót ca, nâng bi dân tộc mình một cách lộ liễu như vậy hoài thì ta sẽ mãi mãi ngất ngư như con gà mắc dây thun. Chắc hằn phải có vấn đề, có trục trặc đâu đó vì tài khôn như vậy mà chưa ra cái con gì cả trong khi các nước lân bang ở Đông Nam Á nay đã là con cọp, con beo, con sư tử rồi.


Cái hay ở chỗ, người tạo ra dư luận là một nhà thơ hồi nhỏ ở Sài Gòn, du học ở Nhật; năm 1966, định cư ở Pháp; năm 1996, trong khi sang Tàu, vớ đựơc một cuốn sách khiến ông “thích thú quá cơ” và ông nghĩ rằng “bất cứ người VN nào khác đọc được, bảo đảm cũng sẽ thích thú”' như ông. Ông tin rằng quyển sách sẽ “giúp nhìn lại mà đánh giá bản thân, dân tộc và văn hoá của mình trong giai đoạn hiện nay”. Vì thiện ý, ông bỏ công ra dịch và mong có nhiều người đọc. Nhà xuất bản Chân Mây Cuối Trời phát hành bản dịch lần đầu tiên tại Paris năm 1998. Cuốn sách được đón tiếp nồng hậu. Giới báo chí đua nhau nói về nó. Nhà xuất bản Văn Nghệ ở quận Cam, thủ đô người tị nạn, hưởng ứng in lại; quyển sách được coi là bán chạy trong năm 1999.



Nhà báo Lê Đình Điểu, trước khi qua đời, trong lúc nằm trên giường bệnh, viết bài điểm sách đăng trên Thế Kỷ 21 số tháng 04/1999: “Đọc Người Trung Hoa Xấu Xí của Bá Dương", người VN nào cũng liên tưởng đến việc đây là chuyện của mình. Có lẽ chỉ thay cái tựa là Người Việt Nam Xấu Xí cuốn sách cũng vẫn có ý nghĩa. Phải chăng đó là lý do nhà thơ Nguyễn Hồi Thủ bỏ thì giờ, công sức ra dịch cuốn sách sang Việt Ngữ? Trả lời câu hỏi của nhà phê bình văn học Đặng Tiến, đăng trong Việt Mercury, dịch giả, tên thật là Nguyễn Khôi Minh, sinh năm 1945 tại Hà Bắc nói sự đời là thuốc đắng đả tật; có chướng tai cũng phải lên tiếng. Ông tâm sự: «không đọc quyển sách này có khi đở phải nghĩ ngơị lôi thôi; còn chẳng may đọc cò thể sẽ bị đau khổ nhiều hơn là thích thú».


Trong bàì phỏng vấn hồi tháng 10/1999, khi đề cập về những cuốn sách như Người Việt Đáng Yêu, Người Việt Cao Quý , dịch giả, đã có bảy tập thơ xuất bàn ờ ngoại quốc từ năm 1968, cho biết: «Đó là chuyện ngược đời. Ở những nước tiên tiến giàu mạnh, chưa có nước nào bốc thơm dân tộc mình một cách lố bịch như thế cả. Người Mỹ, người Nhật, người Pháp, người Đại Hàn đều chỉ có những sách nói lên khuyết điểm, những cái tồi dở của dân tộc, đất nước mình. Bây giờ đến lượt người Trung Hoa. Cuốn Người Trung Hoa Xấu Xí xuất bản ban đầu ở Đài Loan; sau đó được tái bản ở lục địa. Họ đã biết nghĩ, tuy là môt nước lớn, văn hoá lâu đời, nhưng nếu cứ mãi ra rả về những cái vĩ đại thì theo nhá báo Bá Dương, tác giả cuốn sách, Trung Hoa sẽ đi đến chỗ diệt vong mà thôi».



Nhà thơ Nguyễn Hồi Thủ, trong phần lời người dịch viết, ngay sau khi từ Trung Hoa về đến VN, ông đã đưa bản sao cho một ngươi bạn ở Hà Nội và cổ võ người này dịch ra tiếng Việt. Nước Trung Hoa Cọng Sản đã chấp nhận cuốn sách. Người Âu Mỹ cũng thế, thì không có lý do gì người VN lại không thề được đọc nó, cho dù không phải đề học hỏi, mà có thể vì hiếu kỳ, tin tức về một nước láng giềng. Ông đã hy vọng cuốn sách sẽ xuất hiện tại VN; nhưng cho đến nay, người trong nước vẫn chưa được đọc. Theo dịch giả, cuốn sách sẽ rất có ích cho tất cả các cộng đồng có liên quan it nhiều đến văn hoá Trung Hoa. Chủ đích của tác giả Bá Dương là nếu muốn phục hưng dân tộc, phải bắt đầu bằng việc thừa nhận các khuyết điểm, sai trái của mình.



Đọc người rồi ngẫm đến ta

Tác giả Bá Dương, là nhà báo, nhà văn, nhà thơ và là sử gia, sinh năm 1920, chạy sang Đài Loan năm 1949, ở tù 10 năm vì các bài viết bị xem là phạm thượng. Ra tù ông đi diễn thuyết về hiện tượng Người Trung Hoa Xấu Xí. Cuốn sách gồm những bài nói chuyện của ông và của những người tranh luận với ông. Có người cho rằng nếu không đọc được sách của Bá Dương là một sự thiệt thòi lớn. Sách hấp dẫn hơn chuyện chưởng của Kim Dung vì nó khiến thiên hạ phải đọc người rồi ngẫm đến ta. Thấy sao nó giống dữ vậy. Giống dễ sợ. Theo ông, văn hoá Trung Hoa đã biến thành một đầm nước chết, càng lâu càng thối, thành một vại tương rồi. Đăc tính rõ nhất của người Trung Hoa là dơ bẩn, hỗn loạn, ồn ào. Có nhiều nơi, nếu người Trung Hoa đến ở là những người khác dọn đi.



Bất kỳ ở chân trời góc biển nào hễ có người Trung Hoa là có cắn xé nhau. Mỗi người Trung Hoa đều là một con rồng, nói năng vanh vách, cứ như là ở bên trên chỉ cần thổi một cái là tắt được mặt trời, ở dưới thì tài trị quốc bình thiên hạ có dư. Nhưng nếu ba người Trung Hoa họp lại với nhau, ba con rồng này lại biến thành một con heo, một con giòi. Người Trung Hoa vĩnh viễn không đoàn kết được. Mỗi người lại còn có đầy đủ lý do để có thể viết một quyển sách nói tai sao họ lại không đoàn kết. Bất cứ xã hội người Hoa nào it nhất cũng phải có 365 phe phái tìm cách tiêu diệt lẫn nhau. Họ chưa biết tầm quan trọng của sự hợp tác; nhưng họ có thể viết ngay cho anh xem một quyển sách nói tại sao cần phải đoàn kết, hay ho đến Thượng Đế cũng có thể khóc được. Những thói xấu đó đã thâm căn cố đế. Cái loại triết học xâu xé nhau đó lại đẻ ra nơi chúng ta một hành vi đặc thù khác: chết cũng không chịu nhận lỗi. Họ thích nói khoác, nói suông, nói dối, nói láo, nói những lời độc địa. Hễ cứ có dính đến lập trường chính trị hay tranh quyền đoạt lợi là những lời nói độc địa sẽ được tuôn ra vô hạn định.


Người Trung Hoa sống tại Mỹ cũng vậy, nào cánh tả, cánh hưũ, trung lập, độc lập, thiên tả, trung, trung thiên hưũ, hưũ thiên trung vân vân và vân vân, chẳng biết đường nào mà mò. Người này đối với kẻ nọ đều mang mối cựu thù như nó giết bố mình. Thật không hiểu là thứ dân tộc gì? Đối xử với người Trung Hoa tệ hại nhất không phải là người nước ngoài, mà chính là ngươi Trung Hoa với nhau. Bán rẻ, hăm doạ người Trung Hoa lại không phải là người Mỹ mà là người Hoa. Người Tây Phương có thể đánh nhau vỡ đầu rồi vẫn lại bắt tay nhau, nhưng người Trung Hoa đã đánh nhau rồi thì cưù hận một đời, thậm chí có khi báo thù đến ba đơi cũng chưa hết. Sống trường kỳ trong cái hũ tương lâu ngày quá tự nhiên sinh ra thói cẩu thả. Một mặt tự đại khoe khoang, còn mặt khác tự ti, ích kỷ; không có can đảm dám khen người khác, chỉ có dũng khí dùng để đả kích kẻ khác; chửi bới sau lưng; yêu thì sợ chúng cười, ghét thì sợ chúng thù. Họ vĩnh viễn không thể nào so sánh được với người Do Thái, chỉ cần so sánh với người Nhật, ngươi Đại Hàn là cũng thấy bị thua tới cả trăm nghìn năm ánh sáng rồi.



Người Hoa sợ sệt đủ mọi thứ trên đờì. Cái não trạng hãi sợ này đã nuôi dưỡng bao nhiêu bạo chúa, làm tổ ấm cho bao nhiêu bạo quan. Vì vậy bạo chúa, bạo quan không bao giờ bị tiêu diệt, và đã biến dân tộc Trung Hoa thành một dân tộc hèn mọn. Sức tưởng tượng, óc suy xét, tư tưởng của giới trí thức bị bóp chết, xơ cứng. Trong 4000 năm, từ Khổng Tử trở đi, không còn có một nhà tư tưởng nào lớn nữa. Cái hũ tương văn hoá, cái hũ tương thối làm cho người Trung Hoa xấu xí, không thể dùng tư tưởng của mình giải quyết, phải bắt chước, phải dùng cái tư tưởng của kẻ khác; lớn lên trong tham ô, hỗn loạn, chiến tranh, giết chóc, bần cùng, cho nên chẳng bao giờ có cảm giác an toàn, lúc nào cũng hoảng hốt, lo âu. Trung Hoa diện tích rộng thế, lâu đời thế mà người Hoa lại có một tâm địa thật hẹp hòi, không muốn ai hơn mình. Phải chăng Thượng Đế đã phú cho chúng ta có một nội tâm xấu xa?



Trên đây là những đoạn trích các ý tưởng trong sách của nhà báo Bá Dương. Ai cũng biết, gần mực thì đen, gần đèn thì sáng. Hơn một ngàn năm bị đô hộ, lại sống sát nách một kẻ như thế, chẳng lẽ ta gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn? Họ sao ta vậy hay ta tệ hơn thì chẳng có gì lạ cả. Hơn nữa, mỗi dân tộc có mỗi bệnh trạng xã hội. Bệnh trạng của ta cọng thêm bệnh trạng của anh bạn láng giềng thì chắc phải hết thuốc chữa; hèn gì nước ta lúc nào cũng loay hoay như gà mắc đẻ, lệt bệt đi sau hửi đít thiên hạ. Nếu văn hoá Trung Hoa đã biến thành một cái hũ tương thối thì văn hoá ta là cái hũ gì? Hũ vàng hay là hũ mắm thối? Còn Người VN ra sao? Thử nhìn thoáng vào gương xem.


Mẫu người Việt Nam


Trong cuốn Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim có đoạn tả tính tình người VN trước năm 1930 như sau: Về đàng trí tuệ và tính tình, thì người VN có cả các tính tốt và các tính xấu. Đại khái thì trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều người sáng dạ, nhớ lâu, lấy sự nhân nghĩa, lễ, trí, tín làm năm đạo thường cho sự ăn ở. Tuy vậy cũng có hay tính tinh vặt, cũng có khi quỷ quyệt, và hay bài bác chế nhạo. Thường thì nhút nhát, hay khiếp sợ và muốn sự hoà bình nhưng mà đi trận mạc thì cũng có can đảm, biết giữ kỹ luật. Tâm điạ thì nông nổi, hay làm liều, không kiên nhẫn, hay khoe khoang, và ưa trang hoàng bề ngoài, hiếu danh vọng, thích chơi bời, mê cờ bạc. Hay tin ma, tin quỷ, sùng sự lễ bái nhưng mà vẫn không nhiệt tin tôn giáo nào cả. Kiêu ngạo và hay nói khoác, nhưng có lòng nhân, biết thương người và hay nhớ ơn. Đàn bà thì hay làm lụng và hay đảm đang, khéo chân, khéo tay, làm được đủ moi việc mà lại biết lấy việc gia đạo làm trọng, hết lòng chiều chồng, nuôi con,thường giữ được các đức tính rất quý là tiết, nghĩa, cần, kiệm.



Với mẫu người nói trên và nếu cho rằng, văn hoá là sinh hoạt, ta không hiểu văn hoá ta là văn hoá gì, lại có thể sinh ra một tay gian hùng nhưng rất thành công như Trần Thủ Độ. Việt Nam Sử Lược của học gỉả Trần Trọng Kim cho biết, vì cốt gây dựng cơ nghiệp cho nhà Trần, dù tàn bạo đến đâu Trần Thủ Độ cũng làm cho được. Ông đã chôn sống cả giòng họ Lý. Trước đó, Trần Thủ Độ nói với vua Lý Huệ Tông, tuy đã bỏ ngôi vua, xuất gia đi tu, môt câu để đời “nhổ cỏ thì phải nhổ cả rể cái”. Trong khi đó, Nguyễn Trãi, đại công thần của vua Lê Lợi, thảo ra Bình Ngô Đại Cáo, môt bản văn chương giá trị, và là tác gỉả câu đầy tình người 'Thương người như thể thương thân', trong tập Gia Huấn Ca, thì lại bị giết cả họ vì bị kết tội là dùng người thiếp đẹp và giỏi thơ, Nguyễn Thị Lộ, để mưu hại nhà vua.



Trong cuốn Từ Thực Dân Đến Cộng Sản, tác giả Hoàng văn Chí cho biết, vào những năm 1954 và 1956, khi Cộng Sản Việt Nam đem chiến thuật «Cải Cách Ruộng Đất» của Mao Trạch Đông, áp dụng tại Bắc Việt, mới thấy người mình sao lại có đầu óc nô lệ dữ vậy. Đúng như cụ Trần Trọng Kim phê bình: «Từ tư tưởng cho chí công việc làm, điều gì mình cũng lấy Tàu làm gương. Hễ ai bắt chước được Tàu là giỏi, không bắt chước được là dở». Mà theo Bá Dương, Trung Hoa hiện tại còn là một nước dã man nguyên thuỷ, thì việc Cộng Sản Việt Nam đưa ra phương châm: “thà sai hơn là bỏ sót” trong khi phát động chiến dịch long trời lở đất nói trên cũng là điều hiển nhiên thôi. Ở các nước văn minh thì khác. Nguyên tắc luật pháp của CSVN là: thà bắt lầm hơn tha lầm.



Mặt khác, trên sân khấu chình trị nước ta có một “diễn viên kỳ tài”, chữ của nhà văn Vũ Thư Hiên khi nói về Hồ Chí Minh, một người làm cách mạng chuyên nghiệp, được huấn luyện tại Nga, tên thật là Nguyễn Sinh Cung. Ông tiến, ông thoái, khi hai bước, khi ba bước, khi khóc, khi cười, khi ôm hôn thắm thiết, biến ảo khôn lường. Cả thế giới đều nghe danh ông. Cho đến nay chưa ai biết rõ «con đường bác đi». Theo giáo sư Nga Anatoli Sokolov, chuyên viên Liên Sô về Việt Nam Học, tại Trung Tâm Nghiên Cứu Đông Phương ở Mạc Tư Khoa, trong cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh, ông có trên 150 bí danh. Để cho «chủ nghĩa xã hội hoàn toàn thắng lợi trên đất nước ta và trên toàn thế giới» ông sẵn sàng mua chiến thắng đó «dẫu phải đốt sạch cả dãy Trường Sơn» hay phải «đánh Mỹ đến người VN cuối cùng». Không hiểu khí thiêng sông núi VN thế nào mà lại có thể sinh ra một con ngươi kỳ dị như vậy? Chính ông đã gây ra bao cuộc bể dâu, chết chóc.



Hồi thập niên 60, có bài Tâm Ca Số Năm của Phạm Duy mang tên Để Lại Cho Em nói lên thực tế của đất nước: «Bây giờ chỉ còn là một mảnh đất bị chia cắt, cày xới lên bởi bom đạn. Hận thù nhân danh chủ nghĩa, bạo lực vênh vang bề thế»; và «Đường về tương lai nghẽn lối». Thế hệ đàn anh chỉ đề lại «những giả dối, đê hèn, và vụng dại». Bài hát lưu hành ở miền Nam rồi rơi vào quên lãng, bị át bởi tiếng xe tăng, máy bay, hoả tiển, AK, M16. Vũ khí này được cung cấp bởi các nước đồng minh của hai miền Nam Bắc. Đó là hệ quả của việc tìm đường cứu nước của bậc tiền bối. Kẻ đi Tàu, đi Nga, ngưòi đi Tây, đi Nhật, đi Mỹ. Ai cũng cho là thuốc mình mang về là thuốc tiên; nhưng vì muốn độc quyền trị nước nên VN thành nơi thử lửa cuộc chiến tranh lạnh. Nước ta hết nạn hủ nho, thì đến nạn hủ Marx, hủ Mao. «Tôi không có tư tưởng ngoài tư tưởng chủ nghĩa Mác Lê Nin ». Hồ Chí Minh đã khẳng định như thế (1).



Trong ba mươi năm nội chiến từng ngày, nửa nước từ con sông Bến Hải trở ra Bắc theo Nga, theo Tàu; nửa nước phía Nam chống lại bằng dựa vào Tây, vào Mỹ. Cuối cùng miền Nam sụm vì đỡ hoài thì ắt có ngày bị đánh gục. Lại nữa, Hoa K ỳ rút lời cam kết, ngưng viện trợ. Chỉ nội hai tháng 03 và 04 năm 1975, cả một chế độ tan tành. Khôn sống, mống chết. Tướng tá cao chạy xa bay, tìm đường thoát thân. Trong lúc trời đất nổi cơn gió bụi mới thấy nhân tài, khôn lanh thì nhiều như lá mùa Thu, còn tuấn kiệt thì như sao mai buổi sớm. Có bao nhiêu người đứng lại chịu chết, chịu tù, chịu nhục, chịu chia sẻ với thuộc cấp? Anh hùng tất phải hiếm. Điều đó dễ hiểu. Nhưng đâu rồi câu hát “Dân ta hằng anh dũng, dân ta vẫn oai hùng, dân ta dù nguy biến không nao”?



Ngày 30/04/1975 là ngày phơi bày rõ ràng bộ mặt của cấp lãnh đạo hai miền: Miền Nam hèn kém, miền Bắc xảo trá, đê tiện, đầu óc nô lệ. Sau khi chiếm Sài Gòn, nhà cầm quyền Cộng Sản tìm cách tiêu diệt các thành phần tinh nhuệ bằng học tập cải tạo và vơ vét, cướp bóc tài sản của miền Nam một cách có hệ thống bằng hai chữ quản lý. Họ lại đốt sách báo và cấm lưu trữ các sản phẩm văn hoá cũ như thời Tần Thuỷ Hoàng. Họ cố xoá bỏ căn cước của dân miền Nam. Dân miền này không thấy được giải phóng mà thấy mình là dân bị trị, bị người anh em làm nhục, trả thù vì thế mới có chuyện người Việt dù chết vẫn tìm cách lao đầu ra biển, làm mồi cho hải tặc, cho sóng dữ. Đến ngay «cả cái cột đèn nếu biết đi cũng còn muốn bỏ nước ra đi». Dân tộc VN, có quá khứ dài lâu; anh em như thể chân tay, sao lại không thể sống chung với nhau, mà lại đi ra xứ người sống với thiên hạ?



Con Rồng Cháu Tiên?

Sau thế chiến thứ hai, chỉ trong vòng 20 năm, hai nước chiến bại, Đức và Nhật đã phục hưng nhanh chóng, trở thành cường quốc kinh tế. Ông Bá Dương đã ví họ, “chẳng khác nào, một anh khổng lồ ba đầu sáu tay, đùng một cái bị đánh gục xuống đất, một lúc sau từ từ hồi tỉnh, đứng dậy phủi quần aó bước đi, vẫn đường đường là một hảo hán”. Còn nước ta, Việt Nam là một nước nghèo. Đời sống nói chung so với các nước ở Đông Nam Á hãy còn thấp. Theo tin báo, nhà nước lại tăng cường tốc độ các bức tường lửa để kiểm soát các ngươì vào Internet. Người dân chưa được tự do sử dụng máy in, một phát minh từ thế kỷ 15 của ông Johann Gutenberg. Mọi ấn phẩm đều phải có giấy phép của nhà cầm quyền. Ở thời đại tin học mà còn phải làm báo chui, báo lậu như tờ Thao Thức của một số sinh viên thì phải kể là chuyện lạ bốn phương.



Tháng 05/1999, nhà văn Dương Thu Hương , từ trong nước đã gửi lén ra Hải Ngoại một đoản văn. Theo bà: “sau chiến tranh ngót một phần tư thế kỷ, trên dải đất này vẫn chỉ nghe rõ tiếng vỗ cánh của bầy quạ đen trên các nghĩa địa nối dài từ bắc vào Nam, từ nam ra Bắc” và «Chiến tranh không làm cho các công dân chín chắn hơn, khôn ngoan hơn, sử dụng quyền công dân mạnh bạo hơn mà ngược lại nó khiến đám đông hèn nhát hơn, dễ thoả hiệp hơn vơi sự nhục nhã, dễ cúi đầu hơn trước tội ác». Tại sao vậy? Ông Nguyễn Gia Kiểng, thuộc nhóm Thông Luận trong bài Vết Thương 30/04/1999 cho rằng: "Đó là vì dân tộc ta đã rã hàng, mỗi người tự thấy mình cô đơn, có muốn cũng chẳng làm được gì. Đó cũng là vì đã quá chán đất nước, đã mệt mỏi, đã mất ý chí và lòng tự hào. Đảng Cọng Sản VN không phải chỉ đánh gục phe quốc gia hay miền Nam. Họ đã đánh gục được cả dân tộc VN. Chúng ta đã bị đả thương quá đau nên không thể đứng dậy».



Còn Hải Ngoại, được coi như là một VNCH nối dài thì thế nào? Tờ báo Hợp Lưu số 49 viết: «có nước nào trên thế giới chỉ bé tí bằng lỗ chân lông như Bolsa tiểu quốc, thế mà cái gì cũng thặng dư lạm phát. Báo chí thì rợp trời kín đất như lá mùa Thu. Văn bút thì chúng tôi có đến nhị vị chủ tịch (dù bây giờ chả còn ai trên thế giới công nhận, nhưng mặc xác thế giới, chúng tôi cứ là văn bút, cứ là chủ tịch, làm gì nhau?), cộng đồng cũng đương kim hai ngài Tổng Thống (dù thật thà mà nói, trông mặt các ngài, con nít sẽ khóc thét như gặp ma, người lớn sẽ nôn nao ruột gan muốn ói), và chính phủ lưu vong cùng đảng phái yêu nước, nói không phải khoe, trung bình mỗi tháng mọc thêm chừng mươi cái, nhanh, nhiều như nấm dại mùa Đông». Sang đây, mất tất cả, thiên hạ mơ có quyền lực, mong có cái danh. Ông nào cũng tự cho mình có sứ mệnh, như «ai bao năm từng lê gót nơi quê người» của thuở nào. Vàng thau lẫn lộn, không biết đâu là thật, đâu là giả.



Năm 1958 hai tác giả William J Lederer và Eugene Burdick cho phát hành cuốn The Ugly American (Người Mỹ Xấu Xí), nói về thói hư, vụng về, ngu dốt, tham nhũng, dốc tướng, của các chính khách Mỹ. Cuốn sách gây xôn xao trong chính trường Hoa Kỳ, bán rất chạy. Hơn sáu triệu ấn bản được bán ra. Tổng Thống Mỹ Eisenhower phải cho thành lập một uỷ ban gồm chín nhân vật có uy tín để duyệt xét lại các chương trình viện trợ quân sự. Thượng Viện Hoa Kỳ cùng lập một nhóm nghiên cưú cuốn sách và gửi cho mỗi Nghị sĩ mỗi người một cuốn. Ông Bá Dương viết, họ có năng lực sửa sai, tự điều chỉnh mình. Thay vì lấy tay che đít, họ nói toáng lên cho mọi người biết “'tôi có bệnh trĩ đây”. Họ có được cái trí tuệ và dũng cảm, tìm cách sửa đổi và giải quyết một cách thoả đáng những lỗi lầm.



Nước Việt Nam cứ lẩn quẩn trong vòng chậm tiến, cũng «hoang mang lúng túng chẳng kém các cụ nhà Nho cách đây một thế kỷ» là vì ta không biết mình biết ta. Ta cần có một cuốn Người Việt Xấu Xí để «nôn ra được tất cả những thứ dơ bẩn trong ruột», rồi tìm ăn những thứ có chất dinh dưỡng tốt, giúp ta có thể tự phản tỉnh. Bỏ chuyện tự kiêu hão, giấy rách giữ lấy lề hay đói cho sạch rách cho thơm, thẳng thắn nói lên những tệ hại của dân tộc mình, để cùng nhau cải tiến. Trong thế kỷ và thiên niên kỷ mới, nhân loại đang tiến nhanh tiến mạnh trong cuộc cách mạng truyền thông, chúng ta phải lẹ lẹ lên. Chậm thì chết. Chúng ta hãy hè nhau vạch áo cho mọi người cùng xem, nếu không, thay vì Con Rồng Cháu Tiên lại trở thành con khùng cháu điên mất. Phải không quý vị?
Phan Thanh Tâm


XIN ĐỌC :

Người Trung Quốc xấu xí, Lời Người Dịch - VN thu quan

đọc "người trung quốc xấu xí"
phan thị trọng tuyến



Người Trung Quốc xấu xí ra mắt bạn đọc đầu hè 98 tại Paris.

Thi sĩ Nguyễn Hồi Thủ (NHT) (khổ) dịch từ một bản in ở Trung Quốc (TQ) của tác giả Bá Dương (Bo Yang) sau một chuyến đi TQ cách đây năm năm.

Người Trung Quốc xấu xí (Chõu lòu de Zhong Guó rén) tập họp những bài viết và nói chuyện từ năm 1977.

Bá Dương sinh năm 1920 ở Trung Hoa lục địa, chạy sang Đài Loan từ 1949 : Tôi sống ở Đài Loan hơn 30 năm, mười năm viết tiểu thuyết, mười năm viết tạp văn, mười năm ngồi tù, còn mười năm tới sẽ viết lịch sử (tr. 23) theo bài tựa "Người Trung Quốc xấu xí " đọc tại đại học Iowa năm 1984. Và ông cho biết lý do ngồi tù : vì tôi đã nói lên vài sự thật .

Cách đây hai tuần, khi vừa đọc xong, tôi tìm cách gặp dịch giả Nguyễn Hồi Thủ, mong được phép chất vấn ông. Bởi tôi đinh ninh ông dùng tựa sách này để nói về người mình, như mấy ông Mỹ, Nhật và cả Việt nữa trong quá khứ : Người Mỹ ưu tư, người Mỹ trầm lặng, người Nhật xấu xí, người Việt cao quí, chính Nguyễn Hồi Thủ nói đến quyển sau này trong "lời người dịch" Quá nhiều bóng dáng (người) mình trong đó. Tôi nghi rằng NHT sợ đi chợ khu 13 bị "anh em" chận đường...hỏi tội, nếu ông dám giữ tựa đề Người Việt xấu xí.

Nhưng nghĩ đi nghĩ lại, tôi biết đã nghi oan cho người ta. Thêm nữa, cách đây vài tháng (lúc đó tôi chỉ mới đọc lời giới thiệu NTQXX ở báo Thông Luận, chỉ nhớ tên Nguyễn Hồi Thủ, vì đã có dịp đọc thơ ông) nhân trò chuyện với một sinh viên người Tàu của đại học Phục Đán, Thượng Hải, tôi có hỏi về quyển này -tôi đã dịch bừa là the ugly chinese- May sao tôi gặp được một chú bé, học khoa học nhưng ưa đọc sách văn chương đông tây kim cổ, cả trong và ngoài nước Tàu lục địa, đúng là học trò giỏi của đại học nổi tiếng nhất nhì ở TQ, chú ấy bảo có đọc và biết tác giả là người Tàu Đài Loan.

Vậy thì còn nghi ngờ chi nữa. Nhưng tôi vẫn thấy cứ như ông Bá Dương nói về người Việt chứ không phải về người Tàu. Nhìn ra mình trong bức họa người, chắc là chuyện giống nhau lông cánh gì đó chăng?

Theo cổ sử Trung Hoa, phía bắc sông Dương tử, khi dân Trung Hoa đã văn minh, có đất nước và thiên tử, phía nam chỉ là những bộ lạc, người Hoa gọi chung là Bách Việt (BV) . Chúng ta ngày nay là hậu duệ của một trong các nhóm người nam man ấy. Coi bộ dân tộc " văn minh" này (người TQ) nói rõ chúng ta chả có họ hàng chi với họ, nhưng xưa nay bên ta vẵn có người cứ muốn bắt quàng làm "con cháu" người sang :

Theo sử Việt Nam, Đế Minh cháu ba đời Thần Nông (thần của người Tàu) đi tuần thú phương nam, lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra Lộc Tục.

Lộc Tục được Đế Minh cho làm vua phương Nam tức Kinh Dương Vương, Đế Nghi làm vua phương Bắc (con bà cả, gốc ở phương bắc, giỏi nặn bánh bao?)
Kinh Dương Vương lấy con gái của Thần Long Động Đình Quân.

Thí dụ rằng bà tổ này là con gái Bách Việt, phần lai Tàu của chúng ta từ đây giảm bớt (?!) Con trai của Kinh Dương Vương, Sùng Lãm Lạc Long Quân lấy con Đế Lai là bà (tiên) Ấu Cơ (biết hò giả gạo và nấu cơm?)

Xin nhắc Đế Lai là con Đế Nghi, vua phương bắc. Vậy bà tiên Ấu cơ của chúng ta có lai Tàu không?

Nếu xem Lạc Long Quân với Ấu Cơ chỉ là biểu tượng hay người cầm đầu, đám dân Bách Việt còn lại, cho đến nay, đã lai Tàu đến mức nào ? Sử sách Tàu không lẽ lại quên vết tích một (vài) hoàng thân lưu lạc phương nam? Hay ta chỉ nên biết đến mức vua Hùng để khỏi nhắc đến mối dây nhợ lòng thòng khi thì máu huyết anh em, tay chân môi răng, khi thì bè lũ bá quyền, bành trướng?

Người Tàu xưa nay (sinh đẻ/sinh cơ/ sinh sống) ở đâu, vẫn luôn quay về Tàu và sẵn sàng nhìn anh em với bất cứ người Tàu nào gặp gỡ ở bất cứ nơi nào trên thế giới . Người Việt xưa nay (Mường / Kinh....) thà trốn biệt trên núi hoặc chịu khổ nhục trong một thời gian (lệ thuộc, mất bớt lãnh thổ, xin lệ cống v..v..) rồi vẫn "ngoan cố" không chịu làm dân Trung Hoa.

Tiếng Việt, nghe rằng vay mượn đến sáu mươi phần trăm tiếng Tàu, nhưng đố ai chỉ học trường Việt, tiếng Việt, lúc đi chơi Cấm Thành mua hàng (trả giá) mà không dùng tay chân.


Nếu xưa là anh em (chú bác?), nếu xưa là một (?), tại sao đa số chúng ta vẫn dài lâu cương quyết chối từ sự ..tái hợp một nhà này ?

Rồi đến nay, với những khai quật ở Đông Sơn, Sa Huỳnh ...những công trình khảo cổ ở Việt Nam, tôi càng tin tưởng ở sự khác biệt đôi bên, từ những chỉ số sọ, màu da, nước tóc, đường nét môi răng, chiều cao lẫn bề dầy các thức trên người hay đồ vật... (nhân chủng), cho đến ngôn ngữ, phong tục, tập quán, truyền thống.. (văn hoá) . Tin tưởng hầu tiếp tục cưững chống ý muốn châu (như Tây Tạng) về hiệp phố (Bắc Kinh) này, mong còn mãi cái biên giới rạch ròi hiện tại (cho dù rằng nó đã lùi khá nhiều từ thời Bắc thuộc, cả từ thời Pháp thuộc, nói chi đến thời hai Bà Trưng ?!) Nhưng đọc sách NTQXX xong lại đâm sợ : con cháu

...Thần Nông không giống lông cũng giống cánh !

Xin giới thiệu cùng các bạn. Đọc xong, mong rằng bạn vẫn đủ lý lẽ khuyên tôi rằng "tôi ơi, đừng tuyệt vọng".



Quyển NTQXX gồm 3 phần : Thứ nhất Những bài nói chuyện. Thứ hai : Những bài viết và phần thứ ba là Những bài phê bình (của người khác) về hai phần đầu.

Trong bài đầu tiên (Iowa 1984) khi nói đến "nỗi khổ nhục và gian nan làm người Hoa " bắt đầu từ những người Hoa ở trại tị nạn Khao Y Đăng, bị Việt Nam đuổi đi (bằng ghe thuyền sau khi trả tiền cho nhà cầm quyền - địa phương-và trung ương ?-) Ông đặt câu hỏi Người TQ đã làm điều gì ác. ..(tr 18)

Ác với nhau :

Ngay cả đối với những người Hoa sống tại Mỹ cũng vậy, nào cánh tả,cánh hữu, trung lập, độc lập, thiên tả trung, trung thiên hữu, hữu thiên trung, vân vân và vân vân, chẳng biết đường nào mà mò. Người này đối với kẻ nọ đều mang mối cừu thù như nó giết bố mình. Thật không hiểu là thứ dân tộc gì ?

Trên thế giới không có nước nào có lịch sử lâu đời như TQ, không có nước nào có một nền văn hoá không đứt đoạn như TQ, mà cái văn hoá đó lại đã từng đạt đến một nền văn minh cao độ. Người Hy Lạp, thời nay với người Hy Lạp ngay xưa chẳng liên quan gì với nhau. Người Ai Cập cũng vậy. Nhưng người TQ hôm nay thì đúng là hậu duệ của người TQ cổ đại. Tại sao một nước khổng lồ như vậy, một dân tộc to lớn như vậy, ngày nay lại ra nông nỗi xấu xa ấy ? Chẳng những bị người nước ngoài ức hiếp mà còn bị ngay dân mình ức hiếp. Nào vua bạo ngược, quan bạo ngược, mà cả dân (quần chúng) cũng bạo ngược.(tr. 22)


(...) người TQ sở dĩ trở thành xấu xí như ngày nay bởi chính vì họ không hề biết mình xấu xí (tr25)

Cái văn hoá truyền thống kiểu nào mới sinh ra cái hiện tượng này, nó đã khiến (...) chúng ta mang sẵn trong mình những đặc tính rất đáng sợ ! Một trong những đặc tính rõ nhất là dơ bẩn, hỗn loạn , ồn ào. Đài Loan đã từng có một dạo phải chống bẩn và chống hỗn loạn , nhưng chỉ được mấy ngày. Cái bếp của chúng ta vừa bẩn vừa lộn xộn,. Nhà cửa chúng ta cũng vậy. (tr. 28)

(...) Cho nên có thể nói , mỗi người Trung Hoa đều là một con rồng, nói năng vanh vách, cứ như là ở bên trên thì chỉ cần thổi một cái là tắt được mặt trời, ở bên dưới thì tài trị quốc bình thiên hạ có dư . Người Trung Hoa ở một vị trí đơn độc như trong phòng nghiên cứu, trong trường thi- nơi không cần quan hệ với người khác- thì có thể phát triển tốt. Nhưng nếu ba người TH hợp lại với nhau, ba con rồng này lại biến thành một con heo, một con giòi, hoặc thậm chí không bằng một con giòi nữa. Bởi vì người TH có biệt tài đấu đá lẫn nhau. Chỗ nào có người TH là có đấu đá, người TH vĩnh viễn không đoàn kết được....(tr.30)

Nghe ghê chưa ? Đã hết đâu :

...đường đường là một nước lớn. Thế mà thay vì có một tấm lòng bao la, người TQ lại có một tâm địa thật hẹp hòi (tr. 40)... đưa đến Một đằng tuyệt đối tự ty, một đằng tuyệt đối tự kiêu. Lúc tự ty thì thành ra tôi tớ, nghĩ mình không bằng đống phân chó. Lúc tự kiêu thì thành ông chủ, xem mọi người đều là cứt chó hết (...)

Viết được dăm ba bài văn là đã thành văn hào. Đóng được hai bộ phim đã là ngôi sao sáng của nền điện ảnh. Hai năm có được ít chức quyền nghiễm nhiên có thể cho mình là cứu tinh của nhân dân. Qua Mỹ học được hai năm đã trở thành một học giả chuyên gia.(tr. 41)


Theo tác giả, ấy do tội lỗi của đám nhà Nho đã bóp chết khả năng suy xét, tưởng tượng chẳng khác nào lấy cái túi nhựa bịt kín bộ não lại. Ông gọi là hũ tương văn hoá Trung Quốc (dẫu có vứt mứt đào vào rồi cũng sẽ biến thành cứt khô).(tr.48)

Nếu người dân không tự nuôi dưỡng đươc cho mình cái trình độ phán đoán đánh giá những lãnh đạo của mình thì chẳng có lý do gì để trách ai cả. Đi tôn thờ một kẻ không tôn thờ được thì còn trách ai một khi kẻ đó cưỡi lên đầu lên cổ mình ?(...) Dân chủ là một cái gì phải tự mình giành giật được, chẳng ai ban phát cho cả. (tr 49)

Kết luận của bài nói : Nếu mỗi người đều trở thành kẻ biết thưởng thức, chúng ta sẽ có thể đánh giá chúng ta, hiểu rõ giá trị bạn bè, thấy rõ được mặt thật của những nhân vật lãnh đạo nước nhà. Đó là con đường trước mặt chúng ta phải đi, mà cũng chẳng còn con đường nào khác nữa.

Trong bài Người TQ và cái vại tương, Bá Dương chê người TQ ưa làm quan, phong kiến, khi phán xét, suy luận, không dùng lý trí mà nặng về cảm tính; xã hội dựa trên tiêu chuẩn chính trị đạo đức thời phong kiến hủ Nho, đặt lợi ích của người làm quan lên trên. Lâu ngày, những thói tục xấu xa ăn sâu vào "nhiễm thể", kết quả là " quả báo nhãn tiền". Cuộc chiến tranh nha phiến là một thí dụ.

Dân vi quí, quân vi khinh (dân là quí, vua là thường) Đấy chỉ là một thứ lý tưởng mà TQ chưa bao giờ thực hiện (tr. 62) Người TQ xưa nay có bao giờ biết dân chủ, tự do, pháp trị là gì. Tuy có người bảo chúng ta cũng có tự do, có thể chửi cả hoàng đế, song thật ra quyền tự do của chúng ta rất có hạn, bị kẻ thống trị khống chế trong phạm vi cho phép (....) Phạm vi của tự do rất hẹp hòi. Đương nhiên có thể có cái tự do suy nghĩ vớ vẩn chứ các khái niệm dân chủ, pháp trị thì hoàn toàn chẳng có. (tr.65)

Trong bài Đời sống, văn học và lịch sử , diễn văn đọc ở trường đại học Stanford (S. Francisco) năm 1981, đây là một trong những bài đầu tiên, chúng ta gặp trong đó các ý đã được khai thác ở những bài sau năm này.

Bá Dương liệt kê năm khuyết điểm :

Thứ nhất : vì nhân quyền, nhân tính, phẩm giá con người bị chế độ và xã hội phong kiến chà đạp trong suốt 5000 năm, khiến dân không còn lòng tự trọng ( ?) cái tự trọng còn lại chẳng qua cũng chỉ là cái tinh thần tự dối mình như A Q trong truyện của Lỗ Tấn (...). Ví dụ tôi đến thăm anh, thấy anh nhà cao cửa rộng (....) lúc ra khỏi nhà anh lại bảo " Ở nhà đẹp thế ! Không biết ăn cằp hay ăn cướp ở đâu ra lắm tiền ! Cầu trời cho ngày mai có đám cháy thiêu trụi cái nhà nó đi cho rồi !" Tâm lý (...) bị ức chế lâu ngày chỉ biết dùng cái tinh thần đó để tự thoả mãn. (tr. 80) . Đến nỗi, theo tiên sinh, hai lần thắng lợi lớn nhất của văn hoá TQ là khi TQ bị nhà (Bắc) Ngụy của Hiếu Văn Đế Thác Bạt Hoành và nhà Mãn Thanh chiếm, lại chẳng đem kết quả tốt , bởi vì Những kẻ xâm lược cố nhiên đều hấp thụ và kế thừa văn hoá TQ, nhưng lại tiếp thu cái phần kém nhất của văn hoá TQ, nên kết cục cũng chẳng ra gì. Thay vì trở nên hùng mạnh thì cả dân tộc họ lẫn dân tộc Trung Hoa lại càng suy thoái (tr 78)

Khuyết điểm thứ hai là 4000 năm chiến tranh liên miên chỉ vì bần cùng, giết chóc, đố kỵ một cách lâu dài thành ra lòng dạ chúng ta thành hẹp hòi (tr.82)

Khuyết điểm thứ ba là chế độ khoa cử, quan trường, tạo ra một tầng lớp Quan liêu chẳng trung thành với quốc gia lãnh tụ gì cả, chỉ tận tâm tận lực với kẻ cất nhắc nó lên làm quan (tr 85) (....) Cái xã hội ăn chơi, phù hoa là nơi các quan ra oai, tự nhiên hình thành một hệ thống tương hỗ bao che giữa các quan với nhau - một quan hệ vô cùng phức tạp. (tr 86) (.....) phức tạp đến độ một người lành mạnh không thể nào chịu nồi (tr.89)

Tinh thần Nho giáo bảo thủ, là khuyết điểm thứ tư, khiến xã hội mất hết sức sáng tạo, mất tập quán tự tìm hiểu, tự phê phán (tr 93)

Và nạn nhân mãn là khuyết điểm (cuối cùng) TQ quá đông, nghèo khổ quá lớn, quan trường quá mạnh, cạnh tranh quá khắc nghiệt, những lý do này sinh ra nơi người TQ cái hiện tượng bẩn, loạn, ồn, xâu xé lẫn nhau (...) Tôi cho là TQ là một nước tuyệt đối không trọng lễ nghĩa. Người TQ thật thô lỗ...(tr 96) Người TQ thông minh (....) đến độ khi bị đem đến lò sát sinh, còn cố cò kè về giá cả của mình, nếu kiếm thêm được vài đồng thì chết rất hả hê. Cái kiểu thông minh quá cỡ này nhất định sẽ thành kiểu ích kỷ quá cỡ. (...) người nào mà không suy nghĩ một cách ích kỷ, cư xử một cách ích kỷ đều bị chế diễu là ngu ngốc (tr.99)

Trong phần những bài viết, trích từ các tập Đập tan hũ tương, Dẫm lên đuôi nó và Những con trùng dậy sớm và Quảng trường thông giám với những chi tiết, thí dụ hay dẫn chứng lấy ra từ lịch sử hay từ đời sống hiện tại ở tại Trung Quốc, Đài Loan và cả nước Mỹ, ông khai triển các ý đã nói trong phần đầu

(...) Nhân là phe nắm quyền, đối với thứ dân (...) bố thí , ban phát cho để tỏ ra mình đại lượng, khẳng khái. Sự thực là giữa người và người đầy những "cung kính" và "sợ sệt". Có nhiều người vì kính mà thành sợ, chẳng khác nào con đối với cha. Có nhiều người vì sợ thành ra kính, giống gái đĩ đối với khách làng chơi, như đại thần đối với hoàng đế, tiện dân đối với quan lại, tù nhân đối với cai ngục.(tr.115)

Tính ích kỷ quá mức nói ở phần trước được thể hiện ở chỗ không tuân thủ kỹ luật chung và lúc nào cũng mưu lợi riêng

Ôi ! Một kế hoạch, một phương pháp, một hội nghị, một quyết sách, thậm chí một vụ kiện cũng chỉ đều là cái cớ để (.....) nghĩ ngay rằng trong việc này mình có lợi gì không? hoậc ta sẽ kiếm chác (...) được hưởng quyền hành gì (....) được trách nhiệm lớn hay nhỏ? (....) đều lòng vòng trên những thứ đó. Bề trên cũng vậy, cấp dưới cũng thế. Cả anh cả tôi cũng rứa, mọi người đều ôm lấy chúng đến chết cũng không buông (tr. 119) Cái kiểu nhà Nho, mồm không nói đến lợi, đến tiền nhưng lòng dạ lại đầy ứ những quan niệm què quặt về lợi tiền (tr.121) Miệng lưỡi thì không ai bằng, thông minh tài trí, khả năng phán đoán tưởng chừng như nhất thiên hạ. Nhưng (...) trong muôn vạn người chẳng gặp được ở lòng ai có chất chứa những thứ đó (tr. 122)

Mỉa mai Khổng Tử :

Những điều dạy bảo này của thánh nhân thật là thông minh rành mạch : Con người phải sống theo chiều gió(...) chờ cho người khác bình thiên hạ xong rồi thì ta nhảy ra tìm một chức quan. Lúc dầu sôi lửa bỏng thì ta ở nhà đánh giày cho thật trơn, và gởi vợ con đến những nơi an toàn nhất. (....) tấm thân nghìn vàng không ngồi trong căn nhà sắp đổ (....) không bao giờ nên đến gần một nơi mà một viên ngói có thể rơi vào đầu. Đối với những thối nát chính trị, những đau khổ của dân lành, mình chẳng dính vào làm gì cho mệt thân (...)Vì nhìn thấy thường khó tránh khỏi tức giận, tức giận thường khó tránh khỏi nói toáng lên, nói toáng lên thường khó tránh khỏi bị tai vạ. (tr. 124)

Tại sao Khổng tử ít khen ai khác ngoài Nhan Hồi cái anh chàng học trò nghèo rớt mồng tơi đó (....) bởi nhà Nho ca ngợi chỉ vì nghĩa mà không vì lợi và dạy đời rằng Nghèo cũng hạnh phúc được Nếu mỗi người TQ đều hạnh phúc kiểu đó, quốc gia dân tộc phải quay về thời đồ đá mà thôi (tr.125)

Con người là một loại động vật biết cười. Nhưng những cô y tá, những cô bán vé xe người TQ lại là một ngoại lệ.(..) trừ phi vứt tiền vào mặt họ, thì ngay cả ông trời cũng chẳng có thể cậy mồm họ ra cho họ cười được

So sánh với nước Mỹ, dân Mỹ, Bá Dương tiên sinh chê dân mình trong chuyện tiếp xúc, giao tế, không trọng khách hàng, thiếu lễ nghĩa, không biết nói cám ơn, xin lỗi, không biết xếp hàng trật tự.

Nước quân tử (...) là nơi trẻ con và người già có bị lừa khi đi mua bán không (tr. 126)

Ông kể về kinh nghiệm của mình sau những chuyến viếng thăm nước Mỹ :

Trời ơi ! Thi ra người Tây phương mỗi khi đi ra cửa đều dừng chân giữ cửa cho người đi sau... hay (...) giữ cửa cho người đi sau tiếp được cửa rồi mới từ từ bỏ tay ra.

Đúng là đi một ngày đàng học một sàng khôn,. Bây giờ cái việc giữ cửa này, tôi đã thuộc như cháo. Và từ đấy trở đi tôi liên tục được nghe từ cửa miệng những ông già, bà già Mỹ cái câu "cám ơn ông" nghe sướng cả lỗ tai. Lúc quay lại Đài Loan, tôi vẫn quen thói "tôn sùng" Tây phương này . Nhưng chỉ được ba hôm thì lại vẫn chứng nào tật ấy. Mà cái đó không phải vì ý chí của tôi yếu đuối, nhưng vì mỗi lần dừng lại cung kính giữ cửa, thì cái ông bạn da vàng ở đàng sau nhìn tôi như thể mồm anh ta đang ngậm cục cứt khô, không thể nào nghe được một thanh âm gì giống như tiếng cám ơn phát ra từ nó cả. Tôi bèn cứ thả cho cửa nó tung ra như cũ, mặc kệ mẹ cho nó đập vào mặt ai thì vào, có đập chết cũng được ! Tôi nghi rằng để có thể móc trong mồm một người TQ ra cái câu "cám ơn ông" e rằng nếu không dùng đến cái cào cỏ năm răng của ông bạn Trư Bát Giới của chúng ta thì không thể được.

Bằng chứng của ông về một đất nước thiếu lễ nghĩa, là những nhận xét về cung cách ứng xử của người TQ trong các buổi đình đám vui chơi hay tang ma.

Trong đám cưới chẳng hạn, những nghi thức trang nghiêm, dù là truyền thống xưa hay du nhập của Tây phương hiện đại

Hôn lễ không ra hôn lễ mà biến thành một loại phường chèo. Lễ đường (...) trở nên một thứ miếu đền ồn ào náo nhiệt. Mọi người đến không phải để chúc mừng đám cưới , mà để tìm gặp bạn bè, trao đổi xã giao với những người sống trong cùng một thành phố mà hai, ba bốn năm rồi chưa gặp mặt nhau. Phòng cưới thành ra một loại trà đình tửu điếm .Độ chừng nghi lễ đã xong, (...) bày mà chược(..) tụ tập hàn huyên,thăm hỏi tin tức, bàn luận thời cuộc, ngay cả chửi rủa người này, người nọ. (tr.149)

Và cũng vậy, tang lễ (...) trở thành một bản sao của cái loại 'đám cưới văn minh" đã nói trên (...) sự thực, ngay ở nơi quàn xác chết hiển nhiên cũng đã thành chỗ kết bè kết đảng, lại đương nhiên thành chỗ " xa nhà gặp người quen" thì nét mặt phải tươi cười rạng rỡ. (tr.152)

Nói về các phố Tàu (trên thế giới Tây phương) : từ những băng đảng mafia cho đến giới trí thức

Đa số người TQ đều cố gắng" không mất gốc" nghĩa là tích cực chia rẽ, xâu xé nhau. Bất kỳ ở góc biển chân trời nào hễ có người TQ là có cấu xé lẫn nhau (tr 156)

Ví dụ : giáo sư A mời tôi đi quán nhưng nhất định không mời giáo sư B tham gia. Ông giáo sư C nghe nói tôi ngủ nhà ông giáo sư D tức khắc thanh minh không muốn kết bạn với cái loại người trục lợi như tôi. Tôi rời nhà ông E, định nhờ ông ấy chở đến nhà ông F, thì ông E nói " Anh bảo thế nào? Gặp thằng đó à? Thôi, anh đi bộ cho nó khoẻ nhé

Các phố Tàu đã trở thành những động quỉ nuốt tươi người TQ, thành nơi chứa chấp vô số người ở chui không giấy tờ. Ở đó trẻ con hoặc các bà già nhiều khi không có cách nào khác hơn cách làm việc trong các xưởng quần áo lậu với đồng lương không đủ húp cháo cầm hơi, chẳng khác gì những nô lệ da đen thuở nào (tr 157)

Và tác giả trở lại cái nỗi sợ ông nói đến ở phần trước (tr 115) : một phụ nữ Tàu kể chuyện bị đồng bào lừa, ông đề nghị đem lên báo thì bà ta thất sắc " Ông ơi, ông ở tận bên Đài Bắc, đối với bọn chó săn đó thì không có gì phải lo. Nhưng em tôi đang ở Xăng Phrăng-xítx-cô. Ông hại nó mất. Ông đúng là cái thằng chuyên gây ra tai họa thôi !" Nói xong bà chùi nước mắt nước mũi lên người tôi và bắt tôi thề nếu viết gì về bà thì tôi sẽ chết đuối ngay trong cốc nước trà.

Than ôi! Trong thế giới này chỉ có cái thiên tính nhu nhược của người TQ mới không dám căn cứ trên lý lẽ để đấu tranh . Nếu có vài người dám làm như vậy thì những con giòi trong hũ tương cho rằng đấy là những phần tử cực đoan không an phận. Mọi người đều sống theo cái kiểu " Thôi ! Bỏ qua ! Bỏ qua đi ! Cái gì nó qua thì để cho nó qua, quá khứ thì hãy để cho nó là quá khứ (tr. 158)

Trong phần trả lời bạn đọc, cho rằng dưới sự hun đúc của văn hoá TQ, người TQ mang một tâm địa cực kỳ mù mờ tăm tối, kỳ thị địa phương, lấy hổ thẹn làm vinh dự, không dám yêu, ghét, không dám biết ơn và hy sinh, ông viết:

Đại Hán thiên thanh (...) đó là tiếng nói của người TQ khi tụ tập lại với nhau để công kích, bới móc đến không còn một cái gì về đời tư của kẻ khác (tr.164) Yêu thì sợ chúng cười, ghét thì sợ chúng thù. Thế là yêu và ghét quện với nhau thành một thứ lực lượng gian ác (...)

đã nổ bùng (...) tại lục địa qua cái gọi là Cách Mạng văn hoá. Tất cả những dã man, hung bạo, xảo trá, đố kỵ, tàn nhẫn tiềm tàng trong nội tâm sâu thẳm, thâm nhập vào xương cốt người TQ đều đã được biểu hiện qua nó. (...) Một quốc dân hạng ba không thể nào sinh ra được một chính phủ hạng nhất, cũng như một chánh phủ hạng ba không thể nào có được một quốc dân hạng nhất cả. Chúng ta, (...) phải bắt đầu việc ấy (...) Chúng ta không thể nào chỉ trong chốc lát mà thay xương đổi thịt. Nhưng nếu thay đổi được- dù chỉ một tế bào-thì chúng ta cũng phải làm ngay (tr 165)

Muốn thay đổi, phải học của người khác những điều hay tốt ở các nước tiên tiến, bởi vì cái anh TQ, bị lao phổi dến thời kỳ thứ ba kia, nhất thời đứng trên vũ đài thế giới dương dương tự đắc, nhưng rồi một cơn gió lạnh thổi tới lập tức hắt hơi ba bốn cái thật to, mũi dãi lòng thòng (...) nếu như cứ một mực kiêu ngạo hão, giống như một bà lão già lúc nào cũng giơ cái chân bị bó vừa kinh vừa thối của mình lên khoe nào là bó khéo, bó đẹp thì không tránh khỏi sẽ đi vào cái ngõ của sự diệt vong.(tr169)

Sự học hỏi này bị xem là "sùng dương, mị ngoại", tác giả xem như mình bị (một kiểu chụp mũ) Phiên Thiên Ần ngàn cân chụp xuống đầu mình chỉ vì những so sánh và lời kêu gọi học hỏi bắt chước những cái tốt đẹp của Tây phương này Nếu chúng ta muốn người TQ có thể mở rộng cái tấm lòng nhỏ hẹp ra, chúng ta phải học tập của người phương Tây sự vui vẻ phóng khoáng, tấm lòng thích giúp người (....) Đứng trước người Tây phương lễ độ, lịch sự, có thật là chúng ta không cảm thấy thẹn vì mình thấp hèn không? (tr 179)

Từ đây trở về sau, khoảng hơn 100 trang, là phần thứ ba gồm những bài phê bình của độc giả, các bài xã luận của báo chí TQ ở Hồng Kông, New York, Los Angeles ... kể cả những bài bênh vực hoan hô chỉ trích những người đã phê bình tác giả.

Có người khen Bá Dương, so sánh ông như Lỗ Tấn với AQ , cùng Lý Tông Ngô tiên sinh với cái "Hậu sắc", sáng tạo ra cái hũ tương như ba chân của một cái đỉnh (tr. 198) phán đoán sâu sắc (tr.206) và rút tỉa kết luận (...) nếu hỏi TQ cần gì, cầu gì thì chỉ có một thứ duy nhất mà thôi, đó là dân chủ (tr.210) và thêm rằng : chúng ta không nên hy vọng vào sự "tự mình tỉnh ngộ" (....) Đó là chuyện nằm mơ giữa ban ngày (...) Chúng ta chỉ có thể sửa đổi chế độ chính trị, dùng áp lực của chế độ bắt những người không tự nguyện sửa đổi lỗi lầm không còn đường tránh né (...)Những chế độ không dân chủ, tức không có chân lý, tức không thể sửa đổi lỗi lầm (...) Thế mà (...) vẫn còn nhiều người (....) tin rằng những kẻ thống trị sẽ tự động biến thành Nghiêu Thuấn, không cần quyền lực khác để chế ngự và xét đoán, không cần có dân chủ để giám sát, lại cũng không cần có cả tự do ngôn luận để tố cáo (tr.214)

Trái lại, một người khác mai mỉa :

-ở cái nước Mỹ tốt đẹp của ông đấy , những đen tối và tàn khốc đều bị xoá bỏ trong chuyện khai phá miền viễn tây của Mỹ,

-người Nhật thì đối với nền văn hoá TQ lúc nào cũng phục sát đất (tr 220), người Tây phương cũng đang nghiên cứu học tập nó, đừng để người Nhật Bản nói rằng chỉ có họ mới là con cháu thừa kế chính thức của nền văn hoá TQ (tr 222)

Có kẻ cũng rầy rà :

... mấy người TQ cố ý chửi đổng đó là những người TQ không bình thường (...) Ngày hôm nay lại chui ra cái ông Bá Dương, tự xưng là một nhà văn yêu quần chúng một cách phi thường để giương cao thêm cái truyền thống " ngũ tứ" .Trước hết y gào to "Văn hoá hũ tương" sau đó là bôi nhọ cái anh chàng TQ xấu xí

Và hỏi ông có ý định gì (dịch theo tiếng Việt hiện đại : ý đồ gì) anh là thằng thối tha không ngửi được đến mức vô phương cứu chữa

Có người phản bác nhẹ nhàng hơn, đưa ra dẫn chứng cụ thể về những công trình xưa nay của nền văn minh và văn hoá TQ (Khổng Tử Mạnh tử), hay rất trừu tượng : (...) khi tôi đi trên mảnh đất lớn của TQ, bất kỳ ở xó xỉnh nào, đối diện với đám đông người, nơi tâm linh tôi thường rạo rực cảm thấy một thứ trí tuệ mênh mông không bờ bến....

Và một phần trí tuệ mênh mông này dẫn giải : thật đó người Ần Độ.. .dơ hơn chúng ta -vì hình ảnh cái vỉ đập ruồi Ần Độ sau lưng tổng thống Mỹ Carter trong một lần viếng thăm chính thức xứ sở của Gandhi; còn chúng ta bẩn ở trung tâm Los Angeles nhưng ở Monterey park, phố Tàu ta sạch hơn chứ (vì ở đây người TQ ta giàu hơn) còn sở dĩ ta ồn ào là bởi cái thứ tiếng TQ ta vốn độc âm, nhiều đồng âm và nhiều âm tiết, người TQ phải nói to và hoa chân múa tay để giúp mồm miệng lên bỗng xuống trầm cho ý tưởng diễn đạt (...) rõ ràng hơn (tr. 253)




Suốt mấy trăm trang một giọng lỗ mãng, tuy có hài hước tí chút nhưng vẫn thô bạo. Một bức tranh (naif) toàn những mặt trái, trắng đen hai màu, không bề sâu, đôi lúc mâu thuãn, nhưng khiến tôi liên tưởng đến bức họa guernica Marie sến của Phạm Thị Hoài. Dĩ nhiên, xin thưa ngay để khỏi bị (đồng bào, fans của PTH) mắng mỏ, bằng lời của tác giả BD : không thể so sánh tranh của BD tôi với tranh Van Gogh Phạm Thị Hoài .

Tranh vẽ người xấu xí hay tranh vẽ quần tiên mà chúng ta nhìn vào như gương soi hay như ác mộng, do " lỗi " chúng ta hay do tài ba (ý đồ?) của tác giả?

Chỉ mới nhìn bà con xa thôi , dù cho rằng có mọi trùng hợp ngoài ý muốn của tác giả này (?), mà tôi còn nghe chao đảo, huống hồ là kẻ trong gia đình cật ruột : Ông Bá Dương bị đánh mắng hay bị bỏ tù hẳn là điều...tự nhiên, Nhưng cho dù có thật sự thiếu trình độ uyên bác và cái chặt chẽ của lý luận, như nhận xét của dịch giả, khi bình tĩnh lại,tôi tự hỏi vì sao mà chao đảo, bàng hoàng.

Xin trích sau đây một phần lời người dịch, để hiểu mục đích và chia sẻ nỗi niềm, tâm tình, hoài bão của thi sĩ Nguyễn Hồi Thủ khi ông thực hiện công trình này. Bởi tôi tin chắc ông đã cực kỳ xúc động, nên vội vàng vác gương mang về nhà cho chúng ta cùng soi :

" Bản thân tôi trước kia mỗi lần đọc phải những quyển sách kiểu "Người Việt cao quí" "Người Việt đáng yêu" là một lần không những không cảm thấy mình được dự phần vào cái cao quí, đáng yêu ấy một tý nào, mà càng thấy mình thấp hèn và đáng ghét. (...) may thay tôi gặp được quyển sách của Bá Dương.

(...) Người Việt Nam vừa thoát ra được cuộc nồi da xáo thịt, còn phải mất hơn 20 năm để chì chiết lẫn nhau, bỗng một hôm tự thấy mình đang đứng bên lề đường phát triển; đói rách, nghèo nàn, lạc hậu, bối rối không biết đi về đâu. Vì cục diện thế giới đã thay đổi quá nhanh, các phe phái, chiêu bài mà mình vì nó mất bao xương máu và cả một thời son trẻ đã chỉ còn là một dấu vết mờ nhạt.

Trí thức Việt Nam, hoặc những người còn chút suy tư, nhìn sang các nước láng giềng, nhìn ra thế giới cũng hoang mang, lúng túng không kém các cụ nhà Nho cách đây một thế kỷ khi tỉnh dậy vì những tiếng cà nông phươnfg Tây bắn vào các cửa biển.

Trong thời kỳ gọi là " đổi mới" gần đây, các nhà lãnh đạo Việt Nam hay những người tự cho mình có sứ mạng lãnh đạo, lại phát động phong trào đi tìm kiểu mẵu phát triển, giống phong trào "canh tân" của các cụ đồ ngày xưa. Nhưng (...) ngoài các mô-đen Mỹ Pháp Nhật, ngày nay còn có một lô các mô-đen mới nữa, trong đó phải kể mấy con rồng, con cọp châu Á ngay sát nách mà ở thời các cụ họ cũng chẳng khác gì mình.

Người có đầu óc một lần nữa phải thắc mắc tại sao bây giờ lại có sự khác biệt đó? Dân tộc Việt Nam cơ bản khác gì với các dân tộc khác để ra nông nỗi này?

(...) tôi vẫn tin rằng mỗi dân tộc phải có một phương thức, một giải pháp riêng đối với cái vận mệnh riêng của mình. Cho nên, trước khi đi cóp nhặt các mô-đen, cần nhất phải biết mình là cái thứ gì và có thể làm được gì ngay trước mắt. (...) không thể chỉ cứ tinh tướng, huyển hoặc để tiếp tục tự kỷ ám thị hoặc lừa dối nhau, tiếp tục dùng cái lưỡi gỗ để nói những điều cường điệu, hãnh tiến.

Thường trong lịch sử Việt Nam vốn đã rất ít người thật tình có can đảm và trung thực để tìm hiểu, phê bình, những cái xấu cái dở của dân tộc mình. (...) chỉ toàn thấy ca tụng đất nước rừng vàng biển bạc, con người cần cù, thông minh, cao cả, đẹp đẽ, kiên cường, anh hùng trong sáng..Thậm chí lại có cả người lãnh đạo lấy tên giả viết sách để ca ngợi cá nhân, có cả nhà văn bịa tên một người nước ngoài để ca ngợi dân tộc mình. (...)

Trung Quốc đã là một mô-đen lớn cho Việt Nam (....) hiện nay (...) vẫn còn là mô-den phát triển cho một nước theo chế độ đảng chủ, lại thuộc về thế giới Hán hoá như Việt Nam.

Quyển sách này soi sáng thêm một bề mặt, có thể là mặt trái của văn hoá Trung Hoa, của dân tộc Trung Hoa .Theo tôi nghĩ nếu lấy cái bề mặt này đem tham chiếu để phản tỉnh, không những chỉ là việc ích lợi cho những người Hoa mà còn cho tất cả các cộng đồng có liên quan ít nhiều đến văn hoá Trung Quốc. " (tr.4-5)



Xin quí vị thử thay chữ Trung Quốc bằng Việt Nam và thay Đài Loan, Đài Bắc, lục địa bằng Bolsa, Paris hay Sài gòn, Hà Nội, hũ tương bằng tĩn nước mắm, Phiên Thiên Ần bằng chụp mũ, mũ cối, thay chữ chế độ khoa cử, quan trường, bằng đảng, đảng tịch, thay thế Đại Hán thiên thanh bằng anh hùng bách chiến ,bách thắng, cuộc chiến long trời lở đất , thu 5000 năm văn hiến lại còn 4000 năm giữ nguyên những cách mạng văn hoá, cải cách ruộng đất , quan liêu..v..v và v...v

Chẳng là ta trong gương đó hay sao? Bạn chưa bằng lòng ư?
Xem lại năm khuyết điểm người TQ của tác giả để so sánh với ta :
- Về hai khuyết điểm đầu : Vì nhân tính, phẩm giá bị chà đạp... ...chiến tranh liên miên vì bần cùng , giết chóc đố kỵ...

Thử đưa vài thí dụ : những chuyện nhỏ :
* như vô (kỷ) luật (vì không biết hay không chịu học hỏi , không tự trọng , bất chấp hoặc xem như mình nằm trên luật pháp như BD đã nói) , riêng về luật đi đường chẳng hạn : "phóng nhanh vượt ẩu" , " đi bộ ở khu Bolsa mà bị cảnh sát Mỹ cho "ticket" phạt hay lái xe trên xa lộ ở Đức, Tiệp bị tai nạn thảm khốc, Luật rừng trong giáo dục , buôn bán (trong và ngoài nước Việt)v..v...

* như nhà cửa bẩn loạn , tính đố kỵ ,ham lợi , hẹp hòi, lường gạt, chửi bới nhau...chỉ cần ...nhìn quanh hay đọc báo (báo chí Việt Nam ở Sài Gòn, và hải ngoại)

* Còn "chuyện lớn" (vì là những thành tích lẫy lừng của các người lãnh đạo, lãnh đạo mấy mươi triệu dân thường nói trên, thay phiên nhau nằm trên pháp luật, nắm quyền sinh sát trên hai miền Nam Bắc, suốt sáu bảy thập niên sau cùng của thế kỷ này) chúng ta chỉ cần đọc những quyển hồi ký, lịch sử, các tâm thư, thư kêu gọi, những đơn kêu oan/kiện cáo : từ chuyện xa xưa như những vụ thảm (ám) sát cá nhân hay tập thể (luật 59 miền Nam VNCH xử tử Việt cộng nằm vùng, chiến dịch Phượng Hoàng, luật miệng (?) của Việt Minh/ Cộng : tiêu diệt Việt gian , phản động : Phạm Quỳnh, Tạ Thu Thâu, Phan văn Hùm và những người trotskystes khác ,..ngụy quân ,ngụy quyền Mỹ Thiệu Tết Mậu Thân, vụ Trần Quốc Hoàn giết một số người dân Tày- chuyện chị em cô Vàng-) đến chuyện nay : cô Cầm cùng cụ Kiệt và vụ thầu đường dây cao thế, cụ Đỗ Mười với bài báo cáo nội bộ và một triệu đô la quà tặng của tư bản Nam Hàn, nỗi lòng của các đại cố vấn (Trần Quỳnh tâng bốc "anh Lê Duẩn" và tiếp tay thù trong giặc ngoài hạ bệ thần tượng, Hà Nghiệp với sự phân vân đầy triết lý (hiện sinh) : tới nay ta vẫn chưa biết mình là ai !)

Bạn tôi cười khoát tay : Thiếu tự trọng ư? Bẩn loạn ư? Chỉ bởi nghèo ! Phú quí sinh lễ nghĩa và ...sạch sẽ. Vào những biệt thự ở Hà Nội, ở Sài Gòn bây giờ xem. Có khi còn ...hơn vi la ở Nice, ở Foutain Valley hay Hollywood /Palm springs/ Miami, đừng vào những mái nhà xơ xác ở làng quê hẻo lánh hay của đồng bào thiểu số ở Sapa ! .

Xin hỏi bạn tại sao nghèo? Có phải bởi chiến tranh? Nhưng đó là chuyện quá khứ !

Về cuộc chiến long trời lở đất này, cho dù là anh hùng bách chiến bách thắng, nhìn lại những tiêu tan, mất mát, những đau thương oán hận bao trùm nhiều thế hệ, những ai tự trọng và có nhân đạo khó lòng dương dương tự đắc, hùng hổ hâm nóng chiến tích hay tiếp tục thổi lửa căm thù và ngang nhiên xâu xé nhau để tranh dành quyền lợi. Thứ quyền lợi nhỏ trước mắt. Biết đâu, khiêm tốn hơn, biết hoà giải hoà hợp dân tộc thật sự, với tình lý (luận) thuộc hạng siêu, và chỉ với những trí tuệ hơn bình thường một tí thôi, các vị đã chẳng có thể thuyết phục được người Mỹ và các đồng minh giúp đỡ (bồi thường?) hòng cùng nhau xây dựng lại đất nước .

Chẳng giống người bà con TQ của ông Bá Dương hay sao?
Về các khuyết điểm : chế độ quan trường, tầng lớp quan liêu , nạn nhân mãn : đều là những chuyện biết rồi, khổ lắm, nói mãi, Cũng chỉ cần đọc các báo đã dẫn, sách vở, thư từ (bỏ ngỏ) , tâm tình , của các sĩ phu, trí thức trong nước Những sự việc này, người dân thường trong nước bị thiệt thòi vì phải đọc lén lút, lắm khi có mà không dám đọc

Về Nho giáo bảo thủ?
Cần lao (nhân vị), cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư, anh hùng, liệt nữ, đảm đang, trung hậu, trí dũng, tuyệt đối trung kiên, trung thành những khẩu hiệu đầy mùi vị tương chao xì dầu này đã được trương ra trong cả nước từ xưa đến giờ . Áp dụng có sáng tạo (?) : vua được thay bằng đảng , và vài năm gần đây thêm những món mới : (nhà nước , đảng) biết ơn nhân dân, (nhà nước, đảng) khuyến khích tư nhân cũng như cơ quan xây dựng giúp đỡ mẹ liệt sĩ (trợ cấp, xây nhà tình nghĩa) Chúng xuất phát từ những người lãnh đạo vốn dĩ chịu ảnh hưởng Khổng Mạnh đúng vào thời Khổng Mạnh suy tàn và bị thay bằng Tây học . Nghĩa là hiểu nửa vời hoặc bị ảnh hưởng chỉ lớp ngoài những cái hay ho của Nho xưa, chỉ thấm nhuần nổi một phần của...hình nhi hạ học?)

Nghĩa là hiểu tự do , dân chủ như dân là chủ, cán bộ là đầy tớ hoặc đa thê thì được, đa nguyên .Hoặc khuyên cấp dưới đa thê thời được đa nguyên thời đừng !!! , hoặc cần kiệm liêm chính là mang dép cao su, mặc áo bỏ ngoài quần, không có vợ bé (hay vợ chính) mà thật nhiều nàng hầu, hoặc xa nhà đúng tiêu chuẩn (cây số) được cưới vợ ...khác, của nhà nước là của chùa, tức của đảng tức của mình. Hiểu rằng Đảng là thiên tử cho nên các hoàng thái tử và công thần từ sau ngày Việt Nam thống nhất cho đến nay cứ tiếp tục nối ngôi và chia nhau của cải đất nước. Những chịu đựng và chấp nhận, phục tùng của tuyệt đại đa số nhân dân từ hàng chục năm nay có phải cũng đến từ cái hiểu "đại khái" của trung thần bất xử nhị (đảng) quân?, phu tử tòng tử?

Nói nôm na là các đấng lãnh tụ giải nghĩa, áp dụng đại khái , cho hợp với tham vọng và quyền lợi riêng tư.
Chẳng là cái tinh thần Nho gia bảo thủ như BD nói đấy sao?
Thì ra từ lúc bị lệ thuộc Tàu đến khi (mấy phen) dành được độc lập, chúng ta không ngừng bị ảnh hưởng cũng như tự nguyện lấy mẵu mực từ Trung Quốc. Ngày nay, với những sửa đổi từ ngữ cho hợp với tình hình, nhu cầu, những rào đón tâm lý cần thiết cho tự ái, tự tồn (dùng nhân liệu quá khứ, sử dụng, phát huy, khai thác toàn diện và sâu sắc giá trị truyền thống, bản sắc dân tộc, , thấm nhuần đạo lý làm người của ....người làm cách mạng với tìm tòi sáng tạo ....trong khuôn khổ, bến bờ của quan điểm và lập trường ...tính đảng (!!) v..v...chúng ta không ngừng nghe thấy trong các diễn văn, nghị quyết, bài học tập từ trung ương đến làng xã, báo chí v..v.. từ vài mươi năm trước cho đến nay

Nhưng cũng như tự ngàn xưa, quán tính nào đã khiến chúng ta chỉ "cóp dê" được phần bên ngoài : quân tử nhất ngôn.....là quân tử dại ! Tứ hải giai huynh đệ đích thị : bốn phương thổ phỉ đều là anh em? chúng ta thiếu khả năng hấp thụ với sáng tạo thật sự để tạo được bản sắc riêng? Có phải vì quán tình (dân tộc) hay vì (dân tộc) thiếu tài ba, nội lực nên chỉ có thể giỏi tới mức bắt chước lớp vỏ ngoài đến nỗi làm độc tài, toàn trị cũng không tới nơi,tới chốn (xem chú thích 17) thậm chí còn tự ý giản lược, đôi khi xuyên tạc ,Có phải thời nào cũng chỉ có một lớp người nhiều khả năng , lẽ ra có thể chuyển hoá được cả cái quán tính đó thành sức đẩy cho cả nước,(như trường hợp vĩ nhân của hầu hết các nước trên thế giới) thì lại cứ vì quyền lợi riêng, hoài bão riêng, nên không có được sự đồng thuận (lâu dài) của toàn khối " ù lì "?



Xem kỷ lại những thứ xấu xí của người TQ do ông Bá Dương khai ra : tôi thật tình không tin rằng : người TQ bẩn loạn, ở dơ, khạc nhổ ngoài đường., độc ác, bụng dạ hẹp hòi, ích kỷ .. nói giỏi hơn làm, hay chỉ giỏi giang lẻ tẻ ở xứ người v..v...

Năm 1994,tại Thượng Hải, quả tình , ra phố vào giờ đi làm hay tan tầm, chúng tôi bị xô đẩy và ép đến nghẹt thở như mọi người TQ khác, mỗi lần đi xe buýt . Nhân viên kiểm soát xông pha vất vả và tài tình . Một lần khác đi xe đò chúng tôi bị un /ướp khói thuốc lá và nghe tiếng khạc nhổ suốt một ngày trời. Ngoài đường, trong đám đông dày đặc thỉnh thoảng cũng nghe tiếng khạc nhổ. Người Việt có khạc nhổ ngoài đường không?

Nhưng cũng trong dịp đó, trước một viện bảo tàng, chúng tôi gặp ngay một đoàn trẻ con dài đến một cây số, có lẽ học mẵu giáo hay nhiều lắm là lớp một, đứa nào cũng hồng hào, ríu rít cười căng đôi má tròn, đỏ au . Vào bên trong viện bảo tàng, lũ chim con nói cười tíu tít nhưng rất vừa phải, các cô giáo đi kèm giảng giải từ tốn, chả nghe bà nào la lối, quát mắng. Gần trưa, chúng tôi thấy các cháu chia nhau từng nhóm ba bốn đứa ngồi ăn trên những mảnh vải nhựa cá nhân trải trên sân cỏ quanh viện, dưới những bóng cây. Ắn xong, mỗi đứa tự động thu lượm rác rến bỏ vào thùng rác và xếp mảnh vải nhựa bỏ vào túi đeo lưng đủ màu đủ kiểu của mình. Sân cỏ xanh rờn không một gợn rác khi cả đám ra khỏi cổng viện bảo tàng. Chỉ vẳng nghe tiếng hello, hello vui vẻ, trong trẻo mỗi khi chúng thấy một vài du khách Ấu Mỹ.

Bốn năm sau, đến thăm Thượng Hải lần thứ hai, người bạn Tàu, chắc là nhớ kỷ niệm xưa, cứ bắt chúng tôi đi tắc xi. Cho đến một bữa chúng tôi "đòi" đi xe buýt.Nói sao cho hết nỗi ngạc nhiên : xe buýt nhiều và thường xuyên và trên suốt lộ trình hôm đó, không hề có cảnh chen lấn hay đè bẹp nhau. Xe buýt hai tầng, có máy lạnh. Tuyệt nhiên không có tiếng ho, khạc, không một chen lấn. Như thể khách giữ mình cho xứng với xe.


Một tối, ăn xong chúng tôi đi dạo, trên một khoảng ngắn, đèn đường bị hỏng, một người dừng lại nhờ vợ giữ xe, ghé vào tường đứng đái. Lập tức những tiếng càu nhàu phóng ra từ những bóng tối sau và trước bọn tôi. Với dân số hiện tại một tỷ vài trăm triệu, trong suốt hai lần đi chơi ở TQ, chưa bao giờ tôi nhìn thấy một đường phố nào vắng người, dù nhỏ hẹp đến đâu ngay cả ở những vùng rừng núi hẻo lánh ! Thì anh chàng, vì cấp bách, hay vì bàng quang có vấn đề, đã chẳng đặng đừng liều mạng... Người bạn Tàu đi với chúng tôi không nói gì, nhưng tôi đoán được nỗi xấu hổ của anh, dù sau đó tôi có khoe, bên nước tao, người ta đái ngay giữa ban ngày cơ. Qua nơi có ánh đèn, tôi thấy người vợ vùng vằng trao xe cho chồng, dắt con vượt lên phía trước, miệng vo vảnh, chắc là mắng chồng hay xin lỗi những người bắt gặp chồng mình đang thiếu văn minh.

Ai lại không thấy những cảnh đái đường, ngủ đường nơi khác, kể cả Paris hoa lệ (chưa nói đến lề đường đầy cứt chó !) và có mấy ai nhìn thấy phản ứng như vậy của khách bàng quan? Cũng năm 94, ở bến buýt, bến xe lửa, bến tàu thuỷ, đầy dẫy người ăn xin. Bà bạn đầm đi cùng lỡ dại, một lần, cho một người hành khất ít tiền lẻ, lập tức chúng tôi bị bao vây, người bạn Tàu đưa đường khổ sở, xấu hổ, cản trở, phân trần, thậm chí cả cãi lộn với một bà ăn xin cứ theo lẳng nhẳng ở bến xe lửa Hàng Châu. Tháng tám năm 98, tôi chỉ thấy duy nhất hai người ăn xin, một già và một tàn tật trên con đường nhỏ dẫn đến vài ngôi chùa xưa trên một đảo nhỏ ngoài khơi tỉnh Ninh Phố, đầu dãy núi Ngũ Lĩnh . Chả lẽ công an nhốt tất vào mùa du lịch hay xua họ đi khuất mắt du khách? Tôi không tin. Và chúng tôi về nhà các bạn TQ quen, ăn uống, nói dóc thoải mái. Bốn năm trước, quả thật, khi đến nhà bạn, đi ngang qua trạm gác nhân dân, chúng tôi phải ngậm tăm.

Bốn năm sau, tôi nhìn thấy tận mắt kết quả những đổi mới của họ : xin kể, không theo một thứ tự nào, không nói đến thẩm mỹ, luân lý hay hậu quả sinh thái ... : các xa lộ, bệnh viện, trường học, cao ốc được xây dựng ngay từ khu thị dân đông đúc Thượng Hải cho đến ...Lhassa. Ngay nhà trong chung cư cũng trang bị máy lạnh, máy sưởi made in China. Nghe kể chuyện thủ tướng họ lên ti vi khen các máy VCD chế tạo trong nước : xem compact disc piraté (ăn cắp !!) résolution (độ rõ) cứ tuyệt vời như bản chính !! Và tuyệt nhiên không nghe một lãnh tụ nào tuyên bố tham nhũng không có ở lãnh đạo cấp cao . Đúng như bạn tôi nói : họ quyết tâm làm giàu, và phú quí, sạch sẽ đến dần ! Mèo TQ đang bắt chuột có khác !

Đi từ Thượng Hải qua Tây An rồi Tứ Xuyên, Thanh Hải, qua các khách sạn, các hiệu buôn lớn, thậm chí ngay cả trong những công viên, tôi đều thấy họ tổ chức quyên tiền giúp nạn nhân lũ lụt . Có nơi người cho phải xếp hàng để chờ lượt mình đến bỏ tiền vào thùng.

Đó là ở quốc nội, còn hải ngoai?
Một thí dụ nhỏ trước mắt, ở Paris, ai cũng thấy chưa đến hai mươi năm, những siêu thị của anh em nhà họ Đường (Tang ... Frères) đua nhau mọc, xanh tươi rậm rạp. Một hai siêu thị Việt chỉ phát triển kha khá một lúc nào đó rồi thì bị phá, đốt hay lục đục, kiện cáo nhau, dần dần thu nhỏ, người mua thưa thớt. Vùng Bolsa ở Cali phát triển đến chóng mặt, phố xá, hàng quán Việt chen chúc, nhưng những đại siêu thị, đại nhà hàng, hay thậm chí chủ phố, hỏi ra lại là người Tàu. Mà nói chung, người Việt đến lập nghiệp trước nhất, lâu đời hơn. Nếu người TQ chỉ nói giỏi và không đoàn kết , họ không thể thành công như chúng ta thấy.

Những thành công thương mãi, kỹ nghệ (xin chừa nghệ thuật làm đồ giả, đang tiến tới giống đồ thật, nếu đổi mới của họ vẫn đi tới theo đường dân chủ hoá), và cả nghệ thuật (như điện ảnh, với Trương Nghệ Mưu chẳng hạn) không chỉ dừng ở phương diện quốc gia.

Đến đây, tôi đã sa đà, ra khỏi biên giới những xấu xí rồi.
Trở lại với những xấu xí TQ, xin nêu ra một thí dụ BD quên kê khai : Tây Tạng, một nước lớn đất rộng người thưa, diện tích gần bằng TQ , từ mấy mươi năm nay, thuộc nước TQ, càng lúc càng bị TQ hoá mạnh mẽ. Người TQ còn lấn chiếm các đảo Trường Sa, Hoàng Sa của nước ta, gây gổ với nhiều nước khác trong vùng biển Đông hải, thế giới chỉ la ó lấy lệ, có nước nào dám kéo quân, kéo tàu bay tàu thủy sang tấn công TQ như đã tấn công Irak của Sađam Hussein hay nước đại Serbie của Milosevic?

Như vậy, TQ có phải là một đất nước chỉ có những người nói giỏi hơn làm, thiếu đoàn kết, đố kỵ, hẹp hòi, chỉ thấy lợi lộc riêng tư, trước mắt?
Các nhà lãnh đạo Việt cũng toan tính, thử nghiệm ý đồ trên Lào, Kam pu chia mà không/ chưa thành công, chỉ mới giỏi ăn hiếp được những đồng bào thiểu số miệt rừng núi, cao nguyên.

Chúng ta bắt đầu thấy những khác biệt với người hàng xóm TQ rồi đó !
Ngoài những món đã được Bá Dương kê ra, ngoài chuyện bách chiến bách thắng, chúng ta còn hơn người TQ ở điểm nào?
Một điểm nhỏ chút xíu, nhưng cam đoan món này thì quí vị phải công nhận bên ta thời có, bên Tàu thời không : bia ôm.
Và nào chỉ bia, còn karaôkê ôm, trà ôm, cơm ôm, cháo ôm, cà phê ôm, phở ôm v..v..Danh từ/túc từ không quan trọng : cơm cháo phở ...ta (và Tàu) đã có từ nghìn năm hơn ; còn thức lạ : từ hai mươi lăm năm nay, ta đã đuổi kịp tất cả các nước khác : bao sơn hào, hải vị lan tràn trên đường phố nước Việt - vỉa hè, khách sạn, cao lâu...-: chó, rắn, rùa, khỉ... nước ta cho đến của lạ nước người : vodka, saké, trứng cá caviar...và đỉnh cao là thịt người, nói rõ hơn là thịt phụ nữ (chính bản VN).

Ăn như người ta thì...xoàng quá, bắt chước nguyên mâm thì dễ quá, chúng ta bèn áp dụng có sáng tạo : ôm . Đó là đem theo cái tình (vốn thiếu từ thuở đất trời (Nam)nổi cơn gió bụi) vào cái lý (để sinh tồn, cho cuộc đời còn lại). Một bạn tôi đã nhầm khi tưởng rằng kể từ ngày Nguyễn Tuân, Chế Lan Viên rơi lệ , ngồi vào bàn ăn bánh vẽ, chúng ta thôi không luận, không nghĩ đến các kiểu/ cách ăn.

Mớ thịt người này thay thế cho bác sĩ phân tâm học, thay thế cho tấm gương, khỏi phải nhìn thẳng vào bộ mặt lởm chởm râu ria của những đêm mất ngủ. Ôm ấp tại chỗ thì còn thiếu sáng tạo, ít lợi nhuận nên mới có chuyện xuất khẩu. Sang Thái Lan, Đài Loan, Đức...thịt này có thể dùng làm món khác. Dòm xa xa thấy như không cần cả vốn !

Không , không, thức vặt cả, con người cả. Bạn tôi lại kêu : cái ông Bá Dương này thật ...bá láp, chỉ thổi phồng những điều vặt vảnh. Thí dụ ông chỉ nói tới giả trá, lường gạt, cướp bóc xoàng xỉnh thôi, chúng ta còn hơn nữa : những bằng chứng về giả dối, phản bội, tàn ác ...ở phương diện rộng lớn, tổ chức qui mô

Chúng ta không thiếu tài năng, không thiếu tình đoàn kết, biết thưởng thức nghệ thuật, phân biệt dân chủ với độc tài?
Xin giải thích ra sao chuyện cây cầu chưa xây mà đã gẫy? Tại khu Phước Lộc Thọ ở Bolsa (hay bất cứ nơi nào khác, để cho thấy ta là ta) thay vì ba cái tượng chình ình rất chẳng Việt Nam đó, ta phải để cái chi? Một cái trống đồng Đông Sơn (đang được chùi rửa đánh bóng)? Một chiếc thuyền tí hon đầy đặc người vẫy tay (gọi nhau làm người? cầu cứu?) giữa đại dương sóng gió? Một lá sớ gửi thiên đình với tên tuổi những người chết với những cái chết không tự nhiên ở đôi miền trong suốt mấy mươi năm? Chúng ta có ác với nhau, có thù hận nhau không? Nếu không sao từ xưa tổ tiên không ngừng khuyên dạy ăn hiền ở lành, chín bỏ làm mười, lá lành với lá rách và bây giờ nữa, chúng ta cứ kêu gọi nhau hoà giải hoà hợp mà lại cứ như điên lên vì thấy mình đã vô cùng hoà giải, hoà hợp, còn kẻ trước mặt lúc nào cũng thiếu thiện chí và giả dối. BD trách dân mình không dùng lý trí mà chỉ hay dùng cảm tính. Còn dân Việt ta? Hành động la ó, cấm cản, thậm chí xô xát những người đi xem/diễn nhạc kịch đến từ Việt Nam là lý trí hay cảm tính?

Đành rằng xóa bỏ hận thù không phải là quên đi những tội ác. Hoà giải hoà hợp không phải là dùng bạo lực để áp đặt một chủ nghĩa hay đường lối. Quên không phải chỉ giản dị sửa đổi ngày tháng, sự kiện lịch sử, cấm đoán (không cho xem và truyền bá tài liệu không chính thống) là tiêu tan mọi bằng chứng và hậu quả. Không phải không nhắc nhở, cứ che dấu mọi chuyện là sẽ quên. Nói như BD, đó là thiếu tự trọng và không tôn trọng người khác.


Tôi tin rằng bạn sẽ tìm ra một nghìn thứ khác nhau và một nghìn lẻ một cái giống nhau với người TQ. Với những xấu xí và tốt đẹp của con người nói chung. Có phải người TQ đã nhìn ra những nhược điểm của mình và đang sửa đổi? Còn chúng ta?

Rõ ràng mấy nghìn năm nay, dù hời hợt hay nhiệt thành bắt chước, dù hân hoan hay miễn cưững chấp nhận bất cứ áp đặt nào đến từ bên trong hay bên ngoài, dù là một nghìn năm với ...người TQ xấu xí , một trăm năm với..., năm mươi năm với...vv.. và vv .. (biết rồi..khổ lắm...) đến nay ,thanh bình, chúng ta vẫn còn quốc gia chưa thành chư hầu của ai, một đất nước để ở và để đi về, vẫn tiếp tục học, viết, nói tiếng nói của chúng ta,. Có phải nhờ cái bề mặt của chúng ta? Cái bề mặt sâu lắng của băng sơn, của đám đông ù lỳ, thầm lặng? Nhờ cái nội lực mà lãnh tụ nào cũng mơ ước vận dụng?

Chưa đủ để sung sướng tạ ơn đất trời tiên tổ ông bà, và tất cả những người đã nằm xuống trong và sau cuộc chiến vừa qua? Chưa đủ để cùng nhau ...dập tắt lửa thù hận? chẳng lẽ đợi cho mấy người hàng xóm xấu xí này (nói phỉ phui ! phỉ phui !) sang cà khịa đòi sát nhập hay đòi làm anh em hay đem đến văn minh, lú c đó chúng ta mới tỉnh mộng? Có khi hối hận không kịp ngáp!

Diện mạo nào là của chúng ta? Xấu xí hay tốt đẹp? Bỏ cái gì, giữ cái gì? Làm sao có thể quay lại nhìn mình và không chối bỏ sự thật? Làm sao ta có thể tiếp tục tồn tại độc lập, không kiêu căng lố bịch cũng chẳng phải cúi mặt đau đớn, xấu hổ? Tiếp tục tồn tại với bản mặt riêng (lai diện mục) của chính chúng ta? . Một bản mặt có trái có phải, có sâu xa, cạn cợt, có thắng bại, vui buồn, có khổ sở, mất mát....mới dựng nên kích thước trong không gian và thời gian.

Tiếp tục tồn tại độc lập tự do với dân chủ hạnh phúc thật sự cho tất cả hay ít ra cho đại đa số chứ không phải chỉ cho một nhóm nhỏ và những kẻ đại diện cho đại đa số đó không cần phải tiêu diệt hay hành hạ những thiểu số kỳ cục luôn luôn có ở bất cứ thời đại nào, ở bất cứ đất nước nào.

Tôi nghi là ông Bá Dương vuốt ve tự ái những người Nam Dương, Mã Lai, người Việt Nam, người Mỹ, người Úc, dụ khị người Đài Loan, Tân Gia Ba... Chính thực là ông kích động dân ông tiến chiếm lấy thế giới đấy thôi.

Phan thị Trọng Tuyến

Tặng tất cả các bạn của ngày 6/ 12/98 tại Paris,
kỷ niệm ba mươi năm biệt xứ


No comments: