Monday, March 19, 2012

CHÙA TÂY PHƯƠNG- SƠN TÂY




Chùa Tây Phương
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chùa Tây Phương
Sùng Phúc tự (崇福寺)
Chùa Tây Phương.JPG
Thông tin
Khởi lập có thể vào thời nhà Mạc
Địa chỉ núi Tây Phương, thôn Yên, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội


Dharma Wheel.svg Chủ đề:Phật giáo

Chùa Tây Phương (tên chữ là Sùng Phúc tự 崇福寺) là một ngôi chùa ở trên ngọn núi Tây Phương ở thôn Yên, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.

Mục lục

[ẩn]

Lịch sử

Một số sách báo viết về chùa Tây Phương cho rằng được xây dựng vào thời nhà Mạc, nhưng không chứng minh. Niên đại này có thể tin được, vì đầu thế kỷ 17 vào những năm 30 chùa đã phải sửa chữa lớn, hơn nữa trong chùa còn hai tấm bia đều bị mờ hết chữ nhưng còn đọc được rõ tên bia ở mặt ngoài là Tín thí và Tây Phương sơn Sùng Phúc tự thạch bi (mặt bia kia áp vào tường hồi toà chùa giữa nên không đọc được), các hoa văn trang trí thuộc phong cách nghệ thuật cuối thế kỷ 16 sang đầu thế kỷ 17.

Năm 1632, vào đời vua Lê Thần Tông, chùa xây dựng thượng điện 3 gian và hậu cung cùng hành lang 20 gian. Khoảng những năm 1657-1682, Tây Đô Vương Trịnh Tạc lại cho phá chùa cũ, xây lại chùa mới và tam quan. Đến năm 1794 dưới thời nhà Tây Sơn, chùa lại được đại tu hoàn toàn với tên mới là "Tây Phương Cổ Tự" và hình dáng kiến trúc còn để lại như ngày nay.

Thông tin trên trang web chính thức của tỉnh Hà Tây thì nói chùa được thành lập từ thế kỷ 6-7[1] nhưng đã trải qua nhiều lần trùng tu [2].

Kiến trúc

Đường lên chùa Tây Phương

Từ chân núi, qua 239 bậc lát đá ong thì đến đỉnh núi và cổng chùa. Chùa Tây Phương gồm ba nếp nhà song song: bái đường, chính điện và hậu cung. Mỗi nếp có hai tầng mái kiểu chồng diêm, tường xây toàn bằng gạch Bát Tràng nung đỏ, để trần tạo thành một không khí rất thô sơ mộc mạc, điểm những của sổ tròn với biểu tượng sắc và không; các cột gỗ đều kê trên đá tảng xanh trong khắc hình cánh sen. Mái lợp hai lớp ngói: mái trên có múi in nổi hình lá đề, lớp dưới là ngói lót hình vuông sơn ngũ sắc như màu áo cà sa xếp trên những hàng rui gỗ làm thành ô vuông vắn đều đặn. Xung quanh diềm mái của ba toà nhà đều chạm trổ tinh tế theo hình lá triện cuốn, trên mái gắn nhiều con giống bằng đất nung, các đầu đao mái cũng bằng đất nung đường nét nổi lên hình hoa, lá, rồng phượng giàu sức khái quát và khả năng truyền cảm. Cột chùa kê trên những tảng đá chạm hình cánh sen. Toàn bộ ngôi chùa toát ra một tính hoành tráng và phóng khoáng phù hợp với triết lý "sắc sắc không không" của nhà Phật.

Nơi đây còn là nơi tập trung những kiệt tác hiếm có của nghệ thuật điêu khắc tôn giáo bao gồm chạm trổ, phù điêu và tạc tượng. Khắp chùa chỗ nào có gỗ là có chạm trổ. Các đầu bẩy, các bức cổn, xà nách, ván long... đều có chạm trổ đề tài trang trí quen thuộc của dân tộc Việt: hình lá dâu, lá đề, hoa sen, hoa cúc, rồng, phượng, hổ phù... rất tinh xảo được tạo ra dưới bàn tay thợ tài hoa của các nghệ nhân làng mộc ngay trong vùng Tổng Nủa, làng truyền thống Chàng Sơn Làng nghề mộc lâu đời và nổi tiếng của xứ Đoài .

Bộ tượng Phật

La Hán cười chùa Tây Phương
La Hán chùa Tây Phương
La Hán Chùa Tây Phương
Một trong 18 vị La Hán chùa Tây Phương
Một vị La Hán chùa Tây Phương
Một vị La Hán trong 18 vị La Hán

Trong chùa có 72 pho tượng cùng với các phù điêu có mặt tại mọi nơi. Các tượng được tạc bằng gỗ mít sơn son thếp vàng. Nhiều pho được tạc cao hơn người thật như 8 pho tượng Kim CươngHộ Pháp, cao chừng 3 m, trang nghiêm phúc hậu. Phần lớn các tượng này đều được coi là có niên đại cuối thế kỷ 18. Một số tượng khác được tạc vào giữa thế kỷ 19. Hệ thống tượng ở chùa Tây Phương gồm:

  • Bộ tượng Tam Thế Phật với ba pho tượng Phật: Quá khứ, Hiện tại, Vị lai (còn gọi là Tam thân: Pháp thân, Ứng thân và Hóa thân) ngồi ở tư thế tọa thiền, y phục gập nếp đơn giản phủ kín cơ thể, được coi là có niên đại đầu thế kỷ 17.
  • Bộ tượng Di-đà Tam Tôn: gồm tượng đức Phật A-di-đà, đứng hai bên là Quan Âm Bồ TátĐại Thế Chí Bồ Tát.
  • Tượng Tuyết Sơn miêu tả đức Phật Thích ca trong thời kỳ tu khổ hạnh: mỗi ngày ăn một hạt kê, một hạt vừng, tự hành xác để vươn lên thế giới tinh thần sáng láng. Tượng màu đen thẫm khoác áo cà sa mỏng, tay chân gầy khẳng khiu, xương nổi lên trước ngực. Toàn bộ cơ thể chìm trong suy tưởng, mắt trũng sâu, hướng về nội tâm.
  • Hai bên tượng Tuyết Sơn có tượng A NanCa Diếp đứng hầu.
  • Tượng đức Phật Di lặc tượng trưng cho vị Phật của thế giới cực lạc tương lai. Người mập mạp, ngồi hơi ngả về phía sau, toàn thân toát ra sự thỏa mãn, sung sướng.
  • Tượng Văn thù Bồ Tát: đứng chắp tay, chân đi đất, các ngón chân bấm móng xuống mặt bệ.
  • Tượng Phổ Hiền Bồ Tát: chắp tay trước ngực, khuôn mặt sáng rộng nổi lên trên tấm thân phủ đầy y phục.

  • Tượng Bát bộ Kim Cương, thể hiện trình độ rất cao về nghệ thuật lắp ghép gỗ và cách bố cục, chuyển động của một thân thể mang giáp trụ trong các thế võ.
  • Mười sáu pho tượng Tổ với phong cách hiện thực: Đó là Ưu-ba-cầu-đa, Đê-đa-ca, Di-trà-ca, Bà-tu-mật, Phật-đà Nan-đề, Phục-đa-mật-đa, Hiếp Tôn giả, Thương Na Hòa Tu, Mã Minh, Ca-tỳ-ma-la, Long Thụ Tôn giả, La-hầu-la-đa, Tăng-già Nan-đề, Già-gia-xá-đa, Cưu-ma-la-đa, Chà-dạ-đa. Theo một danh sách tên các nhân vật được tạc tượng trong một tài liệu còn lưu truyền ở chùa thì đây là tượng các vị tổ Ấn Độ trong quan niệm của Thiền tông Trung Quốc (xem thêm Nhị thập bát tổ).

Mười sáu vị tổ người đứng kẻ ngồi, pho thì ngước mặt lên trời chỉ vào mây khói, pho thì hững hờ với ngoại vật, tì cằm trên đầu gối nhếch môi cười một mình nửa tinh nghịch nửa mỉa mai, có pho vẻ mặt hân hoan tươi tắn, khổ người đầy đặn tròn trĩnh, pho khác có vẻ mặt đăm chiêu lạ thường, lại có pho như đang đắn đo phân bua hay đang thì thầm trò chuyện cùng ai.

Tượng La Hầu La đúng là chân dung một cụ già Việt Nam, thân hình gầy gò, mặt dài, nhỏ, gò má cao, môi mỏng vừa phải. Chưa thấy pho tượng nào diễn tả y phục một cách hiện thực mà lại đẹp đến như thế. Dáng điệu một tay cầm gậy, một tay để trên gối rất thoải mái, đôi bàn tay trông thấy rõ từng đốt xương bên trong. Những người thợ mộc của làng nghề mộc truyền thốngChàng Sơnđã là tác giả của những kiệt tác tuyệt vời ấy của nền mỹ thuật Việt Nam.

Chùa Tây Phương đã là một công trình kiến trúc tôn giáo đặc sắc tiêu biểu cho mỹ thuật Việt Nam thời Hậu Lê (thế kỷ 17-18).

Liên kết ngoài
Chùa Tây Phương PDF Print E-mail

Chùa thường gọi là chùa Tây Phương, tọa lạc trên đỉnh đồi Tây Phương, hình cong như lưỡi câu (xưa gọi là núi Câu Lậu) cao chừng 50m, thuộc núi Ngưu Lĩnh (núi Con Trâu), xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây cũ, thành phố Hà Nội nay. Chùa cách trung tâm Hà Nội 40 km về hướng Tây Bắc, cách thị xã Sơn Tây 18 km về hướng Đông Nam.

Cổng Chùa Tây Phương

Mặt tiền chùa Tây Phương
Từ chân núi theo con đường dốc dài khoảng 160m, leo lên 238 bậc cấp lót đá ong thì đến tam quan chùa. Chùa có ba nếp nhà song song hình chữ “Tam”, thường gọi là chùa Thượng, chùa Trung, chùa Hạ hay chùa Hộ (thờ Hộ Pháp), thềm mỗi nếp nhà cách nhau 1,6m. Mỗi nếp nhà có hai tầng mái kiểu chồng diêm, tám mái và tám góc là các đầu đao vươn lên cong vút với những hình hoa, lá, rồng, phụng, sư tử.



Mái lợp gồm hai lớp ngói : ngói lớp trên in nổi hình lá đề, ngói lớp dưới lót hình vuông, sơn năm màu. Tường xây bằng gạch Bát Tràng nung đỏ để trần, có những cửa sổ hình tròn mang ý nghĩa sắc - không. Các cột gỗ đều kê trên tảng đá xanh khắc hình cánh sen.

Mặt bên chùa Tây Phương

Chùa được dựng từ lâu đời và đã được trùng tu nhiều lần vào các thế kỷ XVI, XVII, XVIII. Năm 1554, chùa được xây lại trên nền cũ. Năm 1632, chùa xây dựng thượng điện 3 gian và hậu cung cùng hành lang 20 gian. Năm 1660, Tây Đô Vương Trịnh Tạc cho xây lại chùa mới.
Đến năm 1794, dưới thời Tây Sơn, chùa được đại trùng tu, lấy tên là chùa Tây Phương.
Năm 1893, Tỳ kheo Thích Thanh Ngọc trụ trì đã tổ chức trùng tu chùa, tạc tượng Quan Âm trăm tay, Thiện Tài, Long Nữ, Bát bộ Kim Cang, La Hán...


Điện Phật

Tượng La Hán trong chùa Tây Phương
Điện Phật ở cả ba nếp nhà đều được bài trí tôn nghiêm. Hệ thống tượng thờ ở chùa khá đầy đủ, chủ yếu được tạc bằng gỗ mít, như các bộ tượng Tam Thế Phật, bộ tượng Di Đà Tam Tôn, tượng Tuyết Sơn, tượng Bồ tát Di Lặc, tượng Bồ tát Văn Thù, tượng Bồ tát Phổ Hiền, tượng A Nan, tượng Ca Diếp, tượng Bát Bộ Kim Cương ..

. Chùa có nhiều pho tượng là những tác phẩm điêu khắc xuất sắc của dân tộc ở các thế kỷ XVII, XVIII, XIX như : Tượng Tuyết Sơn, và tượng Quan Âm Chuẩn Đề (thờ ở chùa Trung); tượng Bát bộ Kim Cương (thờ ở chùa Hộ); tượng 16 vị Tổ sư (thờ ở chùa Thượng) là : Ưu-ba-cầu-đa, Đề-đa-ca, Di-trà-ca, Bà-tu-mật, Phật-đà Nan-đề, Phục-đa-mật-đa, Hiếp Tôn giả, Thương Na Hòa Tu, Mã Minh, Ca-tỳ-ma-la, Long Thụ Tôn giả, La-hầu-la-đa, Tăng-già Nan-đề, Già-gia-xá-đa, Cưu-ma-la-đa và Chà-dạ-đa. Năm 1960, nhà thơ Huy Cận đến thăm chùa đã viết những câu thơ sống động và gợi cảm qua bài Các vị La hán chùa Tây Phương.

Tượng Tuyết Sơn

Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam đã xác lập kỷ lục ngày 12-12-2007 về những pho tượng La Hán được các nghệ nhân đương thời tạo tác một cách chân thực và sinh động với những đường nét điêu khắc kỹ thuật điêu luyện tuyệt mỹ là : Chùa Tây Phương với bộ tượng La Hán điển hình nhất của nghệ thuật điêu khắc Việt Nam thế kỷ XVIII.
Chùa được đại trùng tu vào năm 1991 và 1995. Tây Phương là ngôi chùa nổi tiếng về kiến trúc và điêu khắc bậc nhất ở Việt Nam. Hằng ngày, chùa đón tiếp đông đảo Phật tử, du khách trong nước, nước ngoài đến tham quan, chiêm bái.

Chùa đã được Bộ Văn Hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia năm 1962.


Tượng Quan thế Âm Chuẩn Đề

Tượng Bồ Tát Quan Thế Âm

Tượng Bát Bộ Kim Cương
Tượng 16 vị tổ Thiền tông

http://giaoduc.edu.vn/news/thoi-su-655/ngay-xuan-ve-tham-chua-tay-phuong-180034.aspx



Ngày xuân về thăm chùa Tây Phương
Thứ Sáu, 20 Tháng một 2012, 22:01 GMT+7

Một góc chùa Tây Phương. Ảnh: I.T
Tôi hỏi nhà văn Tô Hoài thì được biết từ thị xã Sơn Tây về thăm chùa Sùng Phúc (tên cũ của chùa Tây Phương) chỉ 18 cột cây số. Hai bên đường những hàng xoan qua ngày đông cành lá khẳng khiu như cánh tay gầy của Phật Tuyết Sơn, nay bắt đầu nảy lộc non mới. Nắng trải nhẹ trên những quả đồi đất đỏ trông như đàn ngựa hồng khổng lồ đang đuổi nhau trên thảo nguyên. Đây đỉnh núi Câu Lậu cao cao, kia dòng Tích Giang nước xanh màu chàm. Chùa Tây Phương được dựng xây trong khung cảnh núi sông đậm đà, đẹp tươi ấy. 1. Hơn 200 năm trước, Phan Huy Ích (1750-1822) thời Tây Sơn đã từng qua đây có thơ vịnh. Cát lệnh dư sa đôi xích nhưỡng(1) Phạn lâm cô viện ỷ u hoàng (Thuốc thiên thừa của Viện huyện họ Cát để lại thành đống đất đỏ. Ngôi chùa đứng một mình dưới bóng đám cây trúc xanh tốt).

Theo Hán thư: “Núi Câu Lậu có giống trâu lặn ở dưới nước, thường lên bờ chọi nhau, khi nào sừng mềm thì lại xuống dầm nước”. Nhà thơ Đỗ Phủ đời Đường (712-757) có ghi câu thơ nói về thuốc quý ở nước ta “Giao Chỉ đan sa trọng” (người Giao Chỉ có thuốc tiên quý) và trong bài ký của Đỗ Quang Bình nhà Đường Động Thiên phúc địa còn để lại: “Câu Lậu là động thứ 22 trong 36 động thiên. Núi Câu Lậu chu vi 40 dặm phía tây Thăng Long 30 dặm”.

Đủ thấy rằng cách đây hàng nghìn năm sách xưa còn ghi lại tên núi Câu Lậu, nơi dựng ngôi chùa cổ này. Đi qua cổng chùa kiến trúc rất sơ sài có đề “Tây Phương Cổ Tự” - tên mới đặt từ thời Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản (1793) - chúng ta biết ơn những lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Tây Sơn vì lúc quân Thanh vừa bị quét sạch, đã lo kiến tạo lại các chùa chiền và xây dựng một cuộc sống văn hóa, nghệ thuật đầy tính dân tộc. Xưa kia, Quang Trung là một vị anh quân có ý thức bảo vệ các di sản văn hóa dân tộc và chú ý phát triển nghệ thuật dân gian cổ truyền.

Chùa Tây Phương - theo truyền thuyết ghi trong bản giới thiệu của Sở Văn hóa Hà Tây: Chùa dựng vào thế kỷ thứ 3. Đến thế kỷ thứ 9 được xây lại, nhưng lúc đó chỉ là một ngôi chùa nhỏ. Năm Giáp Dần đời vua Trung Tông (1554), chùa mới xây theo quy mô hiện nay. Đời Lê Thần Tông, năm Canh Tý 1666, Trịnh Tạc qua đây thấy chùa trang nghiêm đẹp đẽ nên cho sửa sang lại, rồi đến thời Tây Sơn chùa Sùng Phúc được tu sửa lớn và mang tên Tây Phương.

Đây là một ngôi chùa cổ rất đẹp làm vinh dự cho nền kiến trúc và mỹ thuật xưa của nhân dân ta. Nhiều bạn nước ngoài các đoàn Phật giáo quốc tế đã đến thăm chùa trong đó có các bạn từ Âu, Á, Phi, Mỹ Latinh, các bạn Sérilanka, Nhật Bản, Miến Điện... đất nước của Phật giáo, kể cả các nhà văn, họa sĩ Ấn Độ quên hương của Thích ca Mâu Ni, nhiều ông hoàng bà chúa ở Campuchia, Thái Lan xứ “nghìn chùa” cũng đến thăm và hết lời ca ngợi về nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, tạc tượng của Việt Nam ngày trước. 2. Ngày thu gió đủ lùa hương cành ngọc lan phía hậu đường. Đi vòng trên sân rộng lát đá và ngắm cảnh vật trong hương thơm ngào ngạt. Anh bạn cùng đi vẽ cho chúng tôi xem chùa xây dựng theo kiểu “nội tam, ngoại công”.

Đây là ba tòa nhà cổ kính bằng gỗ đẹp xếp hình chữ tam, ngoài xây tường theo kiểu chữ công. Giữa ba tòa nhà có hai sân nhỏ xây hai bể nước lớn. Cô bạn nhà thơ soi mình trong bể nước trong, vuốt lại mái tóc rối vì lên chùa mệt. Bể nước làm gương phản chiếu ánh mặt trời để ngôi chùa thêm ánh sáng. Ánh sáng tỏa ra lung linh dìu dịu, phản lên những pho tượng một màu sáng mới, càng nhìn càng ưa, ta có cảm giác hình như chùa rộng rãi, cao hơn thực tế một ít và toát lên sự yên tĩnh thâm nghiêm. Cách đây hàng mấy thế kỷ, tác giả nào đã nghĩ ra lối kiến trúc như vậy thật quả là một kiến trúc sư kỳ tài(2). Mỗi ngôi nhà kiến trúc hai tầng tám mái.

Lợp ngói hình lá đề (một loại lá vùng này rất nhiều), ngói cỡ to và dày hơi giống mũi hài. Các mái uốn cong mềm mại gắn tứ linh(3) bằng sành rất thanh thoát. Trên các mái thượng diêm, hạ diêm, ở mỗi đầu đao, con gãy, đầu hồi, giác hương đều chạm rồng phượng, hoa sen, lá mẫu đơn (vua của trăm loài hoa), lá dâu, tia mặt trời, mặt trăng. Các chân cột bằng đá xanh chạm hình cánh sen. Chùa bố cục phong cách rất cân đối, khéo léo và hài hòa nhưng đơn giản và bao quát, sáng tạo hoàn toàn theo trí tuệ của Việt Nam.

Chỗ nào cũng mộng ô vuông, lợp ngói nhiều màu, tưởng chừng mái chùa được choàng tấm áo hoa xuân hay khoác ngoài tấm cà sa nhà Phật vậy! Lần vào hậu đường, 16 vị La Hán rất bình dân (trong Thiền uyển kế đăng lục 18 vị) với 46 tượng lớn, nhỏ rất hiện thực để ở phía dưới trước bái đường và chính điện, vị chi 62 pho. Người nghệ sĩ Việt Nam thời ấy không biết có phải đã mượn đề tài Phật giáo để miêu tả xã hội đương thời - một xã hội khổ đau và nhiều biến động - mà chốn dương gian chưa tìm thấy đường ra(?).

Đấy là bao nhiêu thế giới, bao nhiêu tâm sự, bao nhiêu cuộc đời. Nghệ thuật tạo hình ở các pho tượng tinh xảo và rất điêu luyện. Mỗi pho đều có một nét riêng biệt, càng xem càng hấp dẫn. Chùa Tây Phương là niềm tự hào và tiêu biểu của nền nghệ thuật độc đáo đầy sáng tạo của dân tộc ta. Đại Nam nhất thống chí có ghi: “Chùa Tây Phương trên núi Tây Phương, thuộc huyện Thạch Thất, hàng năm mùa xuân, mùa thu người xa gần đến chùa dâng hương, cũng là thắng cảnh của một phương”. 3. Chiều nay có người mẹ trẻ viếng cảnh thăm chùa, tay chị cầm bó hương châm từng nén đặt dưới chân các vị La Hán và Tôn Giả.

Chị dừng lại rất lâu trước ông tổ thứ 10 - Hiếp Tôn Giả - đang cầm quạt, tỳ tay vào thân cây. Bặm môi không nói, chỉ nhìn thôi. Chao ôi, vòm mắt chỉ nhìn vào tương lai mà như xoáy sâu vào tâm hồn chúng ta vậy! Người mẹ trẻ thêm vào cho Hiếp Tôn Giả một nén hương nữa. Vừa là một phật tử vừa là một nhà phê bình nghệ thuật, chị nói: “Thưởng cho nghệ sĩ hay bác thợ cả nào đã tạo bức tượng rất có hồn này!”. Các tượng Mã Linh, Ca-tỳ-ma-la, Long Thụ Đơn Giả... mỗi người một sắc thái riêng, một tinh thần riêng, nhưng tiếng tăm nhất vẫn là tượng La-hầu-la-đa và Tuyết Sơn, đó là những pho tượng tuyệt vời!

Theo nhà văn Nguyễn Tuân, đó là những con người rất thật, những người khổ hạnh, bàn tay gầy gò trơ ra từng đốt xương. Ở La-hầu-la-đa đó là một ông già Việt Nam, rất Việt Nam của thời đó, tay cầm gậy, tay để trên gối dáng điệu rất thoải mái. Còn kia là Tuyết Sơn, một vị thiền sư má hóp, mắt sâu, khuôn mặt gầy gò, da bọc xương đang tập trung tinh thần trầm tư mặc tưởng. Khi đứng trước những pho tượng La Hán, nhiều người đến đây đều nhớ lại những câu thơ dễ thuộc: “Trán như nổi sóng biển luân hồi” và “Gân vặn bàn tay mạch máu sôi”.

Các vị khác cũng vậy, tên phiên âm tiếng Phạn rất dài, phải lên tận nơi nhìn thì mới thích, vì “mỗi người mỗi vẻ, mười phân vẹn mười”, rất sống, rất thực, hấp dẫn và khó quên. Ngày xuân thăm Tây Phương Cổ Tự, một tác phẩm nghệ thuật độc đáo, một công trình kiến trúc mang tính chất dân tộc gợi lên trong ta vẻ đẹp dịu dàng, tươi mát. Tổ tiên mình đã để lại một công trình nghệ thuật điêu khắc, tạc tượng rất quý giá của kho tàng nghệ thuật cổ của nước ta. Đoàn Minh Tuấn (1) Theo Phan Huy Chú (con Phan Huy Ích): Khi xưa Cát Hồng thời Tấn làm chúc lệnh Giao Chỉ luyện thuốc tiên ở núi Câu Lậu. (2) Những kiến trúc sư giỏi này bị quân Nhà Minh xâm lược bắt về xây cổ cung - theo Nguyễn Huy Tưởng. (3) Rồng, lân, rùa, phượng, bốn vật được thờ gọi là tứ linh. (4) Người tu hành đắc đạo.





No comments: