Thursday, April 19, 2012

NGUYỄN KHÔI * SƠN LA KÝ SỰ 3



Bài 27 . LẨU XÁ

Rượu cần (lẩu xá - rượu của người Xá “Khơ Mú”) là thứ rượu ủ men (không cất = lẩu xiêu). *


Men lá gồm các thứ quả bơ, mắk cái, củ riềng, lá trầu không, quả ớt…giã nhuyễn với gạo tấm, sau đó nắm thành từng miếng tròn dẹt như bánh rán, đem ủ trong đống rơm, xếp từng lớp đều nhau từ 15 - 20 ngày có mùi men bốc lên đem phơi, để gác bếp khô. Khi dùng giã nhỏ rắc vào cơm rượu. Mỗi mẻ rượu cần 7 - 9 bánh. *

Cái rượu: Vỏ sắn khô gọt ra ngâm suối 3 ngày đêm cho hết mùi bồ hóng và độc tố ở sắn, vớt lên phơi khô trộn với trấu lẫn tấm đưa lên “chõ” (dụng cụ đồ hấp, đồ cho chín, đổ ra mẹt để nguội đem men rắc trộn đều, tiếp tục ủ bằng lá chuối hoặc lá rừng (bó nhum, bỏ cá) để rượu bốc men rổi bỏ vào chum (ché) lấy lá chuối hoặc mảnh ny long bịt kín (để hở thì rượu sẽ bị chua) - sau 25 - 30 ngày thì có thể dùng được, để càng lâu thì rượu càng đặc, càng ngọt. Ngoài sắn khô, còn làm bằng ngô, ý dĩ, củ dong riềng, chuối, dừa, củ mài…

*VĂN HÓA RƯỢU CẦN: Rượu cần (lẩu xá) còn có tên là lẩu kép (rượu trấu), lẩu pẳng (rượu ống), lẩu co (rượu cây) rất đậm ngọt. Rượu Thái Sơn La: 1kg gạo + 2kg trấu + ½ lạng men. Ủ 5 - 7 ngày. Khi uống: Mở nắp, đổ nước lã sạch vào ngâm 1 phút cho ngấm, cắm cần vào và đổ nước (sừng trâu) liên tục khi ta hút… uống đông vui: 1 hũ từ 10 - 12 bạn bè coi như là anh em “lẩu khay cáy khả” (rượu mở là thịt gà…). Khi chum rượu lẩu xá đã mở là trống, khèn, cồng chiêng hòa theo các điệu “khắp”, múa xòe dập dìu say sưa tới sáng. Bên hũ rượu cần là nơi hội tụ mọi cộng đồng mường bản, chân thành, đoàn kết, bình đẳng, không phân biệt ai với ai. * Lẩu Xá chính hiệu: Tháng 11/1993, Nguyễn Khôi tôi tháp tùng đoàn đại biểu Hội đồng dân tộc của Quốc hội do B.S Y Ngông Niêk đăm (chủ tịch) làm trưởng đoàn sang thăm hữu nghị nước CHDCND Lào.

Ngày 25/2/1993 Đoàn Việt Nam lên vùng Lào Thâng, Lào Sủng ở tỉnh Luông Phạ Bang giáp với Sơn La. Ở bên Lào: Người Lào Lùm (Thái) là ở vùng thấp, đông nhất. Thứ nhì là Lào Thâng (rẻo giữa) chủ yếu là người Khơ Mú. Thứ 3 là Lào Sủng (Mèo, H’mông) ở vùng cao. “Xá” là tên gọi miệt thị với người Khơ Mú của giới quý tộc Thái Sơn La xưa.

Thật là dân dã: Trên một bãi đất rộng, các chum “lẩu xá” được bày ra, khèn Hmông (khèn lên man điệu) cất lên các điệu múa Khơ Mú rất phong phú và đặc sắc đan xen với các đợt hút rượu cần với kiểu uống 2 người đủ đầy 2 sừng trâu (ống rót nước lã pha thêm vào chum rượu) - nước rượu râm ran cay ngọt chảy từ cổ họng vào tới dạ dày làm bừng tỉnh cả người (đúng là một liều thuốc tăng lực mạnh hơn cả “bò húc” của Thái Lan). Thật là vui như tết, trong cuộc vui say đoàn kết, người người hòa đồng với nhau tưởng như không còn phân biệt dân tộc, không còn Quốc gia, người với người là bạn, là đồng chí anh em cùng chung cuộc sống thanh bình./.

Bài 28: ĐƯỜNG LÊN TÂY BẮC *



Đường lên Tây Bắc xa xôi Nếp nhà sàn thấp thoáng * Đường lên Tây Bắc quanh co Tiếng chim rừng đây đó… (Nhạc sỹ Văn An) Có 3 đường lên Tây Bắc theo 3 nẻo: - Nẻo thông thường (năm 1963) đi từ bến Kim Liên (liền công viên Thống Nhất và hồ Bảy mẫu) qua thị xã Hà Đông theo Quốc lộ 6… - Đường đi chiến dịch Điện Biên Phủ (1953 - 1954) đi từ Yên Bái - Nghĩa Lộ qua đèo Lũng Lô sang Phù Yên… - Đường nhánh đi từ Hà Nội qua Hưng Hóa - Thanh Sơn (Phú Thọ) vượt đèo Cón vào Phù Yên theo đường 13 qua Sông Đà. * Sau khi qua bản Song Pe (xem vợ chồng A Phủ) sang đò bến Ta Khoa, lên đèo Chẹn, tới chân đèo Chiềng Đông tụt xuống Cò Nòi (đường 6) lên TX Sơn La.

1. NẺO QUỐC LỘ 6: Quốc lộ 6 đi từ Hà Nội - Sơn La - Điện Biên dài 504km, điểm đầu là cầu sông Nhuệ (TX Hà Đông) là km số 0, điểm cuối là TX Mường Lay. *Cầu sông Nhuệ - TX Hòa Bình 63km (đêm ngủ ở Hòa Bình hay chợ Bờ) - ở đoạn quốc lộ 6 này có đài kỷ niệm anh hùng Cù Chính Lan đánh xe tăng Pháp năm (1953). - Từ cây số 65 TX Hòa Bình đến TX Sơn La 256Km - Sơn La - Tuần Giáo 56km - Tuần Giáo - Mường Lay 100km

Thời Pháp (trước 1945) Quốc lộ 6 chỉ hết địa phận tỉnh Hòa Bình, sang tới địa phận Sơn La là đường 41 (xã Chiềng Yên): Khởi đầu cây số 0 là chỗ suối Rút đổ vào sông Đà, đi một chặng tới cây số 22 (năm 1963) ô tô sáng đi từ Hòa Bình hay chợ Bờ lên tới cây số 22 (Sơn La) là trạm Công an kiểm tra giấy tờ và nghỉ ăn trưa, có cửa hàng mậu dịch Quốc doanh. Ăn trưa xong đi lên ngược dốc tới đỉnh Đèo 46 (cây số 46) cao khoảng 1500m ngang núi Tam Đảo -

Đây là bản Mèo (Hmông) đỉnh núi sương mù, nước suối giữa tháng 4 dương lịch nhúng lạnh buốt tay; tại đây cũng có 1 cửa hàng Mậu dịch Quốc doanh (vùng cao) nơi hội tụ dân bản đến mua hàng gặp gỡ khá đông vui. Xe ô tô ca (giá 12đồng/ từ bến Kim Liên Hà Nội lên tới Sơn La, cây số 302 km đầu cầu Trắng bắc trên suối Nậm La qua thị xã tới bản Xẳng (xã Chiềng Xôm) chui qua gầm đèo Cao Pha đổ xuống Nậm Bú (xã Mường Bú rồi tới Sông Đà chỗ bến Tạ Bú).

Từ đỉnh đèo 46, xe ô tô xuống dốc một mạch suốt xã Lõng Luông (Mèo) tới chân đèo là bản Hang Trùng (mường) cây số 58, rồi tới vườn Đào - cây số 64 có cửa hàng Bưu điện, trụ sở Sư đoàn 335, 1 đội của nông trường Mộc Châu (sau này thêm nông trường bò sữa Sao Đỏ ở cạnh đấy). Chợ Thảo Nguyên cùng Phố Thảo Nguyên đông vui, thấy máy cày, máy kéo biểu tượng của Chủ nghĩa xã hội hồi những năm 60 của thế kỷ 20 “anh đi khai phá miền Tây”, 4 giờ chiều xe tới thị trấn huyện lỵ Mộc Châu đông vui. 1 bàn ăn thịnh soạn, mất độ 1đồng (0,3đồng/1kg gạo) đủ bia rượu, thịt bò xào. Nhà trọ Quốc doanh đủ chăn đệm (đêm Mộc Châu mùa hè cũng dưới 20oC).

Sáng hôm sau, ăn phở 5 hào, xe ngược đi Yên Châu, tới cây số 82 là hết địa phận nông trường Mộc Châu, xuống 1 cái đèo nhỏ vào đất Tú Nang, cứ thế xe đi 1 bên núi, 1 bên suối Sập, 11 giờ tới thị trấn Yên Châu nóng bức như mùa hè dưới xuôi, chuối, muỗm, đường phên… bày đầy các “Quán” tự giác bên đường. Đến đoạn suối có cầu đi vào thị trấn là thấy chị em tắm truồng ngập sâu dưới suối… Cơm trưa ở Yên Châu, xong vượt đèo Chiềng Đông xuống Cò Nòi, Hát lót vượt dốc Mường Hồng vào khu sân bay Na Sản… khoảng 2 - 3 giờ chiều là tới thị xã. Thị xã Sơn La hồi 1963 - 1965 các tòa nhà đang xây, lô nhà 2 tầng chân đồi Khau cả là dành cho cơ quan, phía dưới đường Tô Hiệu là các dãy nhà cấp 4 cho cán bộ công nhân viên. Thời đó cơ quan biên chế còn ít người (Ty Nông nghiệp tất cả có 21 người). Thời đó Quốc lộ 6 đi 1 xe/ 1 luồng, rải đá dăm, cấp phối - đi từ Hà Nội - Sơn La mất 2 ngày rưỡi (qua nẻo Suối Rút - chợ Bờ, nay đã là lòng hồ sông Đà), nay đi mất có 6 tiếng đồng hồ.

2. NẺO QUA ĐÈO LỦNG LÔ “Cho tới đầu năm 1953, Quốc lộ 13A (tức Quốc lộ 37 ngay nay) mới được khởi công để cho Tướng Giáp đưa quân lên đánh Pháp, ở Nà Sản…, con đường nối từ ngã 3 Vực Tuần qua Thượng Bằng La (Văn Chấn, Yên Bái) lên đèo Lũng Lô”.


“Đèo Lũng Lô anh hò chị hát” (Thơ Tố Hữu) Từ đèo Lũng Lô qua Phù Yên, qua Sông Đà vượt đèo Chẹn ra Cò Noi (Sơn La). Từ ấy mới thực sự có con đường nối từ chiến khu Việt Bắc sang Tây Bắc và cũng là con đường huyết mạch của từng đoàn từng đoàn bộ đội - dân công lên đánh Pháp giải phóng Lai Châu - Điện Biên Phủ (1953 - 1954) làm chấn động địa cầu.

“Đường lên Tây Bắc quanh co” chính là đi lối này. “Lũng Lô”, tên bản địa là “Trảng nương hoang giữa rừng cây cổ thụ”. Đèo Lũng Lô ngăn cách hai tỉnh Yên Bái - Sơn La, đỉnh đèo ngợp trong sương mù bao phủ, bốn mùa ẩm ướt, nước chảy qua đường đá gồ ghề.

Trước ngày hình thành đường 13A, Lũng Lô chỉ là một con đường mòn men theo triền núi, rất ít người qua lại. Thi thoảng mới có dân bản Cơi (Phù Yên) và bản Dạ (Văn Chấn) qua lại thăm nhau hoặc đi săn muông thú, vào rừng đèo lấy song mây, đào củ mài trong những ngày giáp hạt. Người Mường ở vùng này gọi là đèo Lũng Lô (lỗ thủng) với hình tượng là trên đỉnh đèo mây mù trắng, nhìn từ chân đèo lên đỉnh xuyên qua một lối mòn dưới tán cây cổ thụ thì thấy như một cái lỗ thủng trên trời cao? Cũng có ý kiến giải thích “lũng” là thung lũng, “lô” là cây lau?

Trước ngày giải phóng Tây Bắc (1953) Lũng Lô thuộc khu du kích Mường Thải (Phù Yên) đánh quân Pháp rất kiên cường. Giặc Pháp và tay sai ở Phù Yên sợ không dám bén mảng đến. (theo Đinh Chanh - văn nghệ Sơn La “suối reo” số 6/2004). 3. Nẻo qua đèo Cón giữa Thanh Sơn (Phú Thọ) và Phù Yên (Sơn La) là thêm 1 đường chính phụ trợ cho Quốc lộ 6.

Quốc lộ 6 tới địa điểm Cò Nòi (co là cây, Noi, có lẽ đọc chệch “loi” là mậy loi, một loại nứa nhỏ bằng ngón tay dùng đan phên liếp thưng nhà)…đây là “rốn bom” do tàu bay B26 của Pháp dội bom chặn đường quân ta lên Điện Biên, ở đấy có tượng đài TNXP. Con đường 13A (nay là đường 37) từ đèo Lũng Lô qua rừng ông Giáp ra Cò Nòi xưa qua đoạn núi Pu chạng hảy (dốc voi khóc) vượt hẻm dốc đá Suối Cao (Bắc Yên) ra bến Tạ Khoa (nay đã có cầu) qua pha Sông Đà lên đèo chẹn.

4, Đường lên Tây Bắc thời Lê Trịnh : Theo Lê Qúy Đôn trong “Kiến văn tiểu lục” thì một dải sông Đà có 8 châu (huyện). 8 châu thuộc Phủ Gia Hưng là Phù Yên, Mộc Châu, Đà Bắc, Thuận Châu, Mai Sơn, Mai Châu, Sơn La và An Châu. 3 châu thuộc phủ Điện Biên là Ninh Biên, Lai Châu và Tuần Giáo. 3 châu thuộc phủ An Tây là Chiêu Tấn, Quỳnh Nhai và Luân Châu. Đường đi từ Thăng Long lên thì Châu Phù Hoa (nay là Phù Yên) đi mất 6 ngày;
Châu Mộc; 8 ngày; châu Mai Sơn; 10 ngày; châu Mai Sơn có các động (Mường Bản) là Trình ban (Chiềng Ban), Trình chanh (Mường chanh). - Châu Sơn La đi mất 12 ngày, có một xứ gọi là “hang cá” (chính là bản Bó Cá có cầu đá ở TX Sơn La), có mỏ yết Ong (Hiếu Chai - Mường Chai). - Lên Châu Thuận (Mường Muổi) hết 12 ngày.

- Châu Quỳnh Nhai, thổ âm gọi là Mường Chăn (Mường Chiên) đi lên mất 20 ngày có mỏ đồng Vạn Bằng, Vạn Ma. - Lai Châu, thồ âm là Mường Lễ (Mường Lay) đi đường 22 ngày phong tục sân vật giống như Quỳnh Nhai (cũng là người Thái trắng). - Châu Tuần Giáo: Thổ âm là Mường Quay (Mường Quài = con trâu) đi mất 18 ngày. - Chây Tuy Phụ: Thổ âm là Mường Tè Hồ Chí Minh viết: Đi đường mới thấy gian lao Núi cao rồi lại núi cao trập trùng “Đường lên Tây Bắc” quả thật là như vậy. 7/3/2012 - NK

Bài 29: HOA BAN *


Chua chụ xướng chua bók ban Pan Péng xướng pan bók khẳm (Đời son trẻ như hoa ban Đời thương như hoa khẳm). Hoa Ban Tây Bắc là biểu tượng, là tín hiệu nghệ thuật đặc thù biểu hiện bản sắc văn hóa của thiên nhiên và con người Sơn La - Tây Bắc. Nó là loài hòa kỳ diệu gắn bó mật thiết giữa thiên nhiên với đời sống con người… Nó là món ăn ngon (hoa ngọt), là hình tượng thơ tượng trưng cho những ước mơ, tâm hồn trẻ trung (mùa xuân) tính cách cao đẹp, mối tình thủy chung của con người. Tết xong:

Hoa đào đỏ, hoa mơ, hoa mận nở trắng các lối đi khắp các bản mường, và gió lào ù ù bốc lửa, trời hanh khô đến khó chịu - ngày 4 mùa: Sớm xuân, trưa hè, chiều thu, đêm đông, đang mùa đốt nương, khát khao cháy bỏng trời đất và lòng người thì đột nhiên qua một đêm tất cả các cánh rừng đều trắng ngát hoa Ban

- Toàn bộ cây là hoa (lá mới nhú) cây đơm hoa, mát thơm dịu ngọt… Thật là cái đẹp, cái ngọt, cái mát trời cho giữa ngày tháng 3 nắng nóng ngột ngạt. “Mùa hòa Người đàn bà Mặt đỏ phừng Đủ sức vác ông chồng Chạy phăm phăm lên núi. Mùa hoa Người đàn ông Mệt như chiếc áo rũ Vừa vịn rào vừa ngái ngủ” - Y Phương. Đó là mùa động tình (tìm bạn) của con Nai, con hoẵng, mùa của ân ái lứa đôi. Cây Ban thuộc họ Mưồng, thân gỗ “bộp” cao 5 - 6 mét, hoa trắng hay tím 5 cánh bướm. Trong 5 cánh có 1 cách chủ (cánh chúa):

Tựa như 4 cách kia nhưng trên cái nền trắng hồng hoặc tím phớt của cả bông hoa, cánh chúa có thêm những kẻ xanh, tím, hồng (màu sắc cầu vồng) mềm mại trải dọc theo cánh hoa tạo thành những đường nét hình khối rất lạ mắt. Nếu nhìn xa thì mỗi bông hoa Ban giống như một nàng Bướm mà cánh chúa và nhị hoa là thân và vòi bướm, 4 cánh còn lại là 4 cánh bướm, cả chùm hoa Ban là cả một đàn bướm bay rập rờn trong gió xuân nhẹ nhàng - cánh Ban chúa tạo hồn cho sắc hoa là vậy. Cây Ban ở Sơn La thường mọc trong các phiêng đá lồi đầu, những triền núi khô cằn mà cây vẫn phát triển xanh tốt.

Ở nhiều nơi như Lào, Malaysia, Nam Ninh (Quảng Tây - Trung Quốc) không thiếu cây Ban nhưng khi nở hoa thì cây vẫn xanh, hoa thưa nên không độc đáo như rừng Ban Tây Bắc Việt Nam. Tất cả cành trơ khẳng khiu qua một mùa đông sương muối (dưới 0oc về đêm), sang xuân là “Ban pún” lấm tấm mầm non của nụ và lộc. Chúng đang chờ những cơn mưa đầu mùa (để gieo ngô, trồng sắn) để hút lấy cái hơi ẩm của trời đất, hút lấy hơi Xuân ấm nóng (của gió Lào) mà nở bung. “Và em ơi, một đêm xuân Hoa Ban bừng nở tần ngần chào em ”.

“Nghĩ đến em đi đường sông chỉ thấy đá vồng chỉ thấy hoa Đào, hoa Ban, hoa Vông rụng đầy dòng trôi…” Lúc hoa Ban tàn để lại quả non trong đám lá xanh mới nảy mầm lúc cuối mùa xuân, báo hiệu mùa làm nương rẫy mới. Hoa Ban tàn anh hãy tra ngô Hoa Ban làm quả anh hãy dọn nương tra lúa. Cây Ban là cây “chỉ thị”: Đất nào cằn, cạn kiệt màu mỡ là xuất hiện cây Ban. Kinh nghiệm dân gian Thái: Nhìn Ban nở để dự đoán thời tiết mùa màng trong năm “năm nào vào đúng tuần cữ Ban nở rộ đều một lượt trắng ngát cả rừng, hai bên bờ suối là năm ấy mưa không dai quá, nắng không dữ, ít lũ lụt, ít hạn hán (mưa thuận gió hòa) mùa màng tươi tốt thu hoạch lúa ngô đầy bồ.


Về món rau mùa khô (cuối xuân) thì hoa Ban cả một rừng, dân bản tha hồ đi hái về “đồ” lên thay rau, phơi khô trữ ăn dần, hoa Ban làm nộm. Ăn hoa Ban như ăn 1 vị thuốc (trị kiết lỵ), giải nhiệt, lợi sữa, giải độc. Hạt Ban già rang lên ăn thơm ngậy. Rễ Ban đỏ chữa dạ dày, gan. Lá ban nấu để rửa vết thương, sát trùng. Song hau hặc căn báu mau Ban bók Báu hên mua bók Ban xia Báu tính bươn tính pi Sướng pi cánh nọng hau hặc nhám lằng (Đôi ta yêu nhau không tính mùa Ban nở Không thấy ngày Ban tàn Không tính tháng, không tính năm Mãi mãi như mùa ban đầu đôi ta yêu nhau).

Ngoài hoa Ban, ở Sơn La - Tây Bắc dọc theo các khe suối còn có cây hoa Mạ (hoa ngựa) gắn với sự tích “bó mạ khun chương”: Kể về con ngựa của anh hùng Lạn Chượng khi chết hóa thành bông hoa Mạ, xuân đến nở rực vàng bên bờ suối, đón các cô gái chàng trai đến gặp gỡ tự tình nơi bến tắm bản quê./. 8/3/2012 - NK

Bài 30: CÂY MẮC CHAI

Ở Tây Nguyên, bên Lào có cây Kơnia đặc thù, đã đi vào lời ca tiếng hát, như một biểu tượng của quê hương xứ sở… thì ở vùng Yên Châu - Mường La (Sơn La) có cây Mắc Chai, mà hầu như khắp nước Việt Nam này không đầu có? Đó là một loại cây thuộc họ nhà Muỗm - Xoài, nhưng cao to vượt tầm: Cao vài ba chục mét, gốc hai ba người ôm không xuể, đặc biệt là tán tròn như một quả cầu xanh (lá nhỏ như lá cây Quéo), thường là cao vượt lên trên mọi cây cổ thụ khác, nên trên đường đi Quốc lộ 6 hay bề Bản, từ xa hàng cây số, ta đã trông thấy cái tán quả cầu xanh Mắc Chai in lừng lững trên nền trời xanh cùng bóng núi tím thẫm cao vời vợi như đang chờ đón đợi ta về…

Ở cây Mắc Chai như một điềm nghịch lý của tạo hóa: Cây thì cao to vật vã nhưng quả thì lại bé như quả trứng gà (có khác gì một bà mẹ to béo đẫy đà hết cỡ lại đẻ ra một chú bé tí hon?) - Quả Mắc Chai bé, hạt to chiếm tới 4/5 thể tích quả (thật là vô duyên, ăn chẳng bỏ) nhưng bù lại: Khi quả chín, chỉ một làn gió là nghe tiếng “lộp bộp”, một loạt quả tự rụng, ta nhặt lên bóp vân vê (như trước khi ăn quả vú sữa Miền Nam) rồi cắn đủ có một lỗ, rồi hút lấy nước cùi (bột vàng óng) thì ôi thôi rồi:

Thơm ngon vượt cả nước quả xoài đóng hộp ở sân bay Mun Bai (bên Ấn Độ) mà Nguyễn Khôi tôi có lần Transis (ghé qua) được thưởng thức thơm mát đến lịm người dưới cái nắng 45oc cùng những người dân bản địa da đen như bồ hóng. Thời chiến tranh, ai từ Thuận Châu về thị xã, lên tới đỉnh đèo Sơn La, dựng xe đạp vào gốc Mắc Chai, trải tấm Nylông, giở cơm nắm ra ăn, tu một hơi nước bi đông rồi ngả lưng đánh giấc. Vòm cây Mắc Chai như một cái lọng xanh vừa che mát, vừa che kín mắt bọn giặc trời Mỹ… thế là cứ yên chí nằm nghe chim hót, lũ sóc chuyền cành kiếm quả rồi ngủ thiếp đi lúc nào không biết nữa… và cây Mắc Chai như Mẹ hiền che chở ru cho ta một giấc ngủ bình yên để rồi (lấy sức) lại lên đường ra trận… Cây Mắc Chai như ai đứng đợi Đón ta về ngọt lịm giấc trưa.

Bài 31: ĐÔI NÉT VỀ LỊCH SỬ NGUỒN GỐC THÁI SƠN LA *

Người Thái - mơ hồ trong tên gọi? Gốc gác ở Trung Quốc (trong số 56 dân tộc; với 1,16 triệu người), tên xưa gọi “Thái Lặc” (Tai Lue) - “Dai” (Thái tây song bản nạp) 2 ngôn ngữ là Tày Pong và Thái Đam (Tày đăm). Ngoài ra là tiếng Tráng (choang). Thư tịch cổ gọi Điền Việt, Kim Xì, Hắc Xỉ, Hoa Man, Bạch Y, Bạch Di, Bách Si, Bá Di… Thời Hán quận Ích Châu là của người Thái (xem thất cầm Mạnh Hoạch - Tam Quốc Chí)? Rồi di cư theo dọc sông Lan Thương (Mê Kông) tới Myanma, Lào, Thái Lan, theo sông Hồng xuống Việt Nam. * Người Thái ở Việt Nam: Còn được gọi là Tày Khao (trắng) đăm (đen) Tày Mười, Tày Thanh (Man Thanh), hàng Tổng (Tày Mường), Pu Thay, Thổ Đà Bắc. Nguồn gốc: Bách Việt, gồm với nhóm Choang (tráng), Tày, Nùng.

Di cư sang Việt Nam từ thế kỷ 7 - 13, trung tâm là Mường Theng (Điện Biên), từ đây họ tỏa đi Lào, Thái Lan, bang Shan (Myanma), đông bắc Ấn Độ cũng như ở Nam Việt Nam? (gốc đi từ - xíp xoong păn na). Ở Việt Nam: Đời Lý 1067 có Ngưu Hống (rắn hổ mang - tô tem), chỉ người Thái vào triều Cống, sau 1280 dưới sự cai quản của triều Trần. Các thủ lĩnh Thái được gọi là “Phụ đạo”. - Họ Đèo cai quản các Châu Lai (lay), chiêu Tấn, Tuy Phụ, Hoàng Nhan

. - Họ Cầm cai trị Châu Phù Hoa (Phù Yên), Mai Sơn, Sơn La, Tuần Giáo, Châu Luân, Châu Ninh Biên. - Họ Xa cai quản Châu Mộc - Họ Hà cai quản Châu Mai - Họ Bạc ở Châu Thuận - Họ Hoàng ở Châu Việt (Mường Vạt - Yên Châu). Dân số: 2009 có 1.550.423 người Thái (thứ 3 ở Việt Nam) có mặt khắp cả nước. (Sơn La có 572.441 người chiếm 53,2% toàn tỉnh); Nghệ An 295,132 người, Thanh Hóa có 225,336 người; Điện Biên 186,270 người, Lai Châu 119,803 người, Yên Bái 53,104 người, Hòa Bình 31,386 người, Đắc Lắk 17,135 người, Đắk Nông 10,311 người. *

Họ của người Thái: Bạc, Bế, Bua, Bum, Cà (Hà, Kha, Mài, Sa), Cầm, Chẩu, Chiêu, Đèo, Điều, Điêu, Hà, Hoàng, Khằm, Leo, Lèo, Lềm, (Lâm, Lịm) Lý, Lò, (Lô, La), Lộc (Lục), Lự, Lường, (Lương), Manh, Mè, Nam, Nông, Ngần, Ngưu, Nho, Nhật, Panh, Pha, Phia, phìa, Quàng (Hoàng, Vàng), Quảng, Sầm, Tạ, Tày, Tao (Đào), Tạo, Tòng (Toòng), Vang, Vi (Vì) Xa (Sa), Xin. - Ngôn ngữ: Nhóm ngôn ngữ gốc Thái của hệ ngôn ngữ Thái - Kađai. - Kinh tế: Nông nghiệp (lúa nước, lúa nếp), các thứ hoa màu, chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà, dê, cá… đan lát, dệt thổ cẩm, số nơi làm đồ gồm. - Gia đình: Phụ hệ, vợ theo họ chồng, có tục ở rể. Hôn nhân một vợ một chồng. - Tục lệ ma chay: Chết là về Mường trời tiếp tục sống ở thế giới đó. -

Văn hóa: Thần thoại, cổ tích, truyền thuyết khá phong phú, có chữ viết riêng, có nhiều truyện thơ (sống chụ son sao, khum lú - Nàng ủa, tản chụ xiết xướng…). - Nhà cửa: Người Thái đen có nhà nóc hình mai rùa, chỏm đẩu đốc có khau cút (hoa nhà) rất độc đáo. - Trang phục: Đẹp, nhiều kiểu. Nam giống với người Tày, Nùng, Kinh. Nữ: Thái đen mặc áo ngắn (xửa cóm) màu tối (chàm, đen) cổ áo khác Thái trắng là loại cổ tròn đứng. Đầu đội khăn Piêu thêu hoa văn theo môtyp từng mường. Váy ống (kín) giống Thái trắng, màu đen, cạp gấu váy phía trong nẹp đỏ. Khi lấy chồng tóc búi ngược lên đỉnh đầu “tằng cẩu” (Thái trắng vẫn búi tóc sau gáy).

CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC
Người thái sang ở Sơn La đến nay đã trên 10 thế kỷ nhưng không thấy có dấu vết gì về các công trình kiến trúc gạch, đá…? Có lẽ chỉ có một cầu đá bản Cá bắc qua suối Nậm Cá chảy ra Nậm La ở đầu thị xã ra phía Chiềng Xôm? Và một số khu nhà xây của tỉnh trưởng Sơn La Bạc Cầm Qúy, (sau này trụ sở huyện ủy Thuận Châu, rồi bị bom Mỹ phá hủy hồi 1966 - 1973)… còn không hề thấy Đình, Chùa, đến Miếu gì ở Sơn La đất cũ?

Người Thái ở Sơn La không theo Tôn Giáo nào, chỉ thờ “Phi” (ma tưởng tượng) người chết làm lễ chia của “bỏ mả” là xong, không có giỗ chạp hàng năm, Tang ma có lễ gọi hồn, dẫn hồn về mường trời, xong coi là xong. Nhà ở người Thái: hầu hết là gianh, tre, gỗ, nứa - đục đẽo đơn giản, đa số là không ngăn buồng (2 loài: cột chôn và cột kê) hoàn toàn là vật liệu tự nhiên sẵn có ở rừng núi bản địa. .Người Thái ở Sơn La:

Có 4 ngành (chi): tới 2009 có 58 vạn người. -Thái trắng (Tày đón) cư trú ở Mường Chiên (Quỳnh Nhai), Ngọc Chiến (Mường La). -Thái đen (Tày đăm) ở Thuận Châu, Mường La, Vai Sơn, Yên Châu, Sông Mã. Đặc biệt Thái đen ở Yên Châu lại khác hẳn so với ở vùng trên cả về tiếng nói, ăn mặc, phong cách, tập tuc. Chi (ngành) ở Mộc Châu, họ tự gọi là Thái đỏ (Tay đeng); cũng một chi ấy. Ở Bắc Yên, Phù Yên lại tự xưng là Tay đón (Thái trắng) ở xã Huy Bắc tự gọi là Tay khoong (người khoong) - “khoong” là một địa danh miền Tây Thanh Hóa (nơi họ từng ở ngày xưa).

Nhóm Thái ở Pác Ngà (Bắc Yên) tự gọi là Tay Eng (người Eng) “Eng” cũng là địa danh ở Thanh Hóa. Tay đeng (Thái đỏ Mộc Châu) gốc gác từ Vân Nam qua Lào: từ Luông Pha Bang qua Mường Xáng; Mường Xăm, qua rừng Mường Xén vào đất giao chỉ (đời Lý) thuộc Nghệ An.

Từ Mường xén họ tỏa ra Thanh Hóa qua Hồi Xuân, La Hán vào Mường Mun (Nai Châu) rồi lên Mộc Châu Sơn La. Cuộc di cư này do chúa đất họ Vi Khăm (Vi Vàng dẫn đầu vùng em trai là Vi Ngân (vi bạc): Vi Ngân ở lại M ai Châu, người anh Vi Khăm ngược lên Mường Moóc (Mường Xang - Mộc Châu). Do đi tới nơi đất mới nên:

Ở Mai Châu có bản Lác (bản lạ). Tòng Đậu nguyên âm là Toong Táu (Toong = lá, táu là cây gỗ Táu - cây to, lá to dùng để gói muối, lót xôi khi cúng lễ. Đồng Bảng nguyên âm là “Động Páng” (động: rừng già, rừng cây cổ thụ, Páng là cây chuối rừng, nay ta qua Đồng Bảng vẫn thấy nhiều cây chuối rừng vì đất quanh năm ẩm ướt. Họ “Vi Khăm” sau đổi thành họ Xa (Sa) có 2 truyền thuyết:

- Chúa Vi Khăm vào triều đình (nhà Lê Trịnh) qua cổng thành thì Quan coi cổng thành Thăng Long vấn danh, hỏi họ tên gì ở đàu tới? Do ngôn ngữ bất đồng nên Chúa Vi Khăm trả lời sai ý đi “Tôi là ở xa đến” - Quan nghe ú ớ ghi “Chúa đất họ Xa - nay do chữ nghĩa chính tả lung tung ghi xa = Sa”?

Thuyết 2: Sau khi Chúa đất Vi Khăm qua đời - anh em trong nội tộc tranh giành… người anh thắng thế làm chúa, em phải xuống làm thường dân lấy họ “Vi Văn…” Người anh vì đã thề độc “cụ chí pái sá xịa mưng, mưng nha Pay năm hó phụ” (Tao sẽ từ mày, cạch từ đây không chung Họ nữa). Từ đấy từ (Xá = Sa) thành họ chính của dòng Vi Khăm. Mãi về sau gọi chệch cho nhẹ đi Sá thành Sa… nhưng khi khấn cúng bái vẫn phải xưng là “Chúm mú Vi Khăm ” - (dòng họ Vi Khăm) cho đến ngày nay. *

Quan hệ xã hội Thái: Cơ cấu xã hội cổ truyền là Bản mường hay chế độ Phìa Tạo Tông Tộc gọi là “Đằm”. Mỗi người có 3 quan hệ trọng yếu: - Ải noọng: Nam giới 4 đời trong gia tộc (bên nội): - Nhinh Sao: Tất cả thành viên nữ…a: Tất cả thành viên Nam thuộc họ vợ (bên ngoại).

Bài 32: MƯỜNG TRỜI

Với người Thái: chia vũ trụ thành 3 tầng theo một trục dọc. Trên cùng là Mường Phạ (Mường Trời), ở giữa là Mường Lùm (mường người thấp) và dưới cùng nữa là lòng đất là Mường bọoc đai (Mường của những người lùn sống trong lòng đất). Còn gọi Mường Pha là Mường Bôn nhằm chỉ thế giới ở trên đỉnh đầu - ngoài ra còn gọi là Mường Then (Mường của các Then = thượng đế, thần linh). Người Thái ở Qùy Châu: “theo quan niệm hữu thức của người Thái thì Mường Phạ là nơi cao nhất của vũ trụ, đó là một khoảng rộng màu xanh, hình tròn úp lên mặt đất. Còn đất là một tấm rộng vô hạn mà trời chỉ úp được một phần.

Tầng trên cùng là tầng riêng của các thế lực siêu nhiên, đó là một thế giới hỗn mang, chưa định hình, không rõ ràng, rất ít ảnh hưởng tới cuộc sống của con người. Xuống thấp hơn là Mường Then của các vị thần linh, còn tổ tiên của người Thái thì ở một cỏi riêng khác: Nhóm Tày Thanh gọi là “đẳm chảo”, còn nhóm Tày Dọ (đều ở Nghệ An) thì gọi là “Đẳm Pang”. “Đẳm Chảo”là nơi trú ngụ của người chết theo các dòng họ khác nhau, rồi lại còn phân đẳng cấp:Tầng lớp trên là cho các họ Lò Căm, Hủn Vi, Mừn Quang. Tầng lớp mới là các họ bình dân như Quản Quang, Quản Lự… (có 2 “đăm”:bậc giữa và bậc cuối).

Theo Cầm Trọng thì người Thái đen Sơn La cũng na ná là “đẳm hướn luông” (quý tộc) và “đẳm hướn nọi”cho thường dân. Mường Then là hình ảnh thu nhỏ của thế giới trần gian: Cùng lao động sản xuất, đó là một xã hội giàu có trù phú, ruộng đồng quanh năm tươi tốt, dưới ao cá lội từng đàn, đèn thắp sáng quanh năm. (như thiên đường), vị thần chủ là “Then Luông” (Then lớn) - thường gọi là Pò Then: Cai quản cả thế giới.

Dưới Pò Then là một hệ thống các vị thần giúp việc như Then Ná, Then Ảo, Then Thao Ai, Then Thư ai, quản lý các dòng họ Quý tộc, thấp hơn là Châu Cuống Cảng (họ ở bậc trung) do các Then Thư Noọng cai quản trông coi các họ bình dân… tuy vậy có những dòng họ khác nhau nhưng lại chung 1 Then Ná. Ở Then Ná còn có các Mẹ Náng (bà mụ) là vợ các Then, làm nhiệm vụ Me bẩu (đúc nặn người cho đầu thai xuống trần gian), Me Náng nặn rồi chỉ sang Then Bẩu (khuôn), rồi qua Then Chằng để cân đo số mệnh rồi rơi xuống Then Chẳng cân đo xong rồi tiếp xuống Then Bắc để đi đầu thai…

Trên Then Ná còn có Mẹ Xuổn Ném và Pù Noọng Pả trông coi vườn mệnh và ao cá vía để giữ cho mệnh luôn được bình yên, trên Then Ná có một vườn mệnh trong đó có một máng nước chảy vào ao nuôi cá mệnh (Pa Vẳn) mỗi con tượng trưng cho một mệnh người dưới trần. Nếu nước chảy đều thì hồn khỏe mạnh, con người được bình an, nước không chảy thì cá chết, mệnh người cũng hết. Chính vì vậy: Khi con người lên cao tuổi thường tổ chức lễ “Tum bẩư nho bủn” (lau chài sửa lại vườn mệnh, đặt lại máng nước), để tăng tinh lực và sức sống cho con người. Ở Mường Then còn có nhiều vị thần linh khác: “Then Khúm” trông coi việc thiện, Then Tàng lo làm ra con người và loài vật, Then Bấu lo đúc người, Then Khạt (Then Chằng) đo số mệnh,…

Then Bắc theo dõi sổ số mệnh, Then Kôm quan sát bốn phương trời, Then Cáo quản lý phạm nhân, Then Thùm coi lũ lụt, Then Lốm tạo mưa gió, Then Ú, Then Đá lo xử phạt sát sinh. Tầng cuối cùng của Mường Phạ là nơi ở của các hồn người chết (chết không bình thường) thì phải vào “Mường phi tai sút đuôn” ở gần Mường Lùm - Còn bình thường thì vào Đẳm Chào. Trạm dừng chân đầu tiên do Mo dẫn hồn là Pặc Phắng Kén, nơi trời và trần gian gặp nhau là Táng Cộp “Táng cộp nừng hả phiền” - Chỗ gặp nhau (như kiểu chợ âm phủ) đan xen như cái nan xe kéo sợi, ở đây là trạm tiếp đón nên có nhiều xôi thịt do người trần cúng lễ. Do đó những hồn nghèo đói, chết không bình thường kéo tới đây kiếm ăn - vì thế người Thái rất sợ phải qua nơi này; khi đói loại ma này còn xuống cả Mường Lùm quấy nhiễu.

MƯỜNG NGƯỜI Mường Lùm: Qua tụt khỏi Mường Phạ, xuống dưới là Mường Lùm (cõi người) là mường ở dưới sàn trời “mường tớ cọng lùm phạ”. Lùm là thấp, thung lũng - Còn gọi Mường Piếng (bằng phẳng) = mường bằng phẳng ở dưới gầm mường trời là mường có thật trong vũ trụ luận Thái, đây là thế giới của con người khác biệt về bản chất so với Mường Phạ - Mường Phạ là cõi hư, tâm linh, còn Mường Lùm là cõi thực của con người và các loài vật, là các bản mường của nhiều tộc người (kể cả Kinh, Lào…) và “dân số” của các loại Mường (Phạ, Lùm) bao gồm cả các thế lực siêu nhiên khác, kể cả ma quỷ. Ma quỷ đi lang thang ở các Mường Phi, người thì ở các Mường Côn (có phi pú ở núi cao, phi pá ở mường sâu, phi ngược ở vùng nước xoáy cùng cõi Mường Lùm do con người làm chủ thể).

MƯỜNG BOỌC ĐAI Là “Mường trong lòng đất” của loại người tí hon “Táy boọc đai” đây là ở Quỳ Châu (Nghệ An), còn phía Sơn La - Tây Bắc không có khái niệm này. Đó là thứ “phi đóng kín” hay “phi dóc dách”. “Cờ boọc đai” là cái ống nhỏ cuốn dùng tơ lấy ra từ kén tằm (cái suốt) - Boọc còn có nghĩa là “hoa”, đó là nụ tơ hoa biểu tượng của lũ người tí hon sống dưới lòng đất, đứng đầu là “vua hoa tơ” (Pủa boọc đai). “Phi” với người Thái là gồm cả thần thánh, hồn người chết và cả hồn, vía người đang sống - “Phi” là tín ngưỡng thờ vật hinh, một thứ sơ khai của Tôn giáo. Linh hồn người sống là “phi vẳn”, ở người chết là “phi bướn”, với các thần linh là “phi then”, các tổ sư nghề Mo (phi môn, phi một) rồi phi bản, phi mường, phi pú, phi huổi, phi pá… Thế giới của Phi có ảnh hưởng rất lớn tới thế giới thực của con người (can thiệp, phù hộ) - do đó phải cúng bái cầu khẩn… * * *
Theo Hoàng Nó (Sơn La) thì: Quan niệm về trời đó là Mường Phạ, Mường Bôn hay Mường Then. Có 11 Then gốc gọi là “Then ngồi chõng” (Then năng chóng) và 22 Then anh em (Then Pi Noong), mỗi vị Then là một đấng “sáng tạo” tạo mưa, gió, nắng hạn, lụt… 11 Then gốc, đáng kể là Then Luông (cụ Then già Pú Then Thẩu) hay chủ Tum Vang (như Ngọc Hoàng). Hai là “Then chăng tê ba” - chữ “tê ba” gốc chữ Pali - Sancrít thì Têbra nghiã là “cõi trời” - hư vô ngự trên đỉnh Pha Bôn điều khiển đúc ra người…

Ba là “Then Ban” tạo ra họa phúc, duyên phận, sang giàu… * Tục lệ cúng Then: Có 3 lễ chính: 1. Căm xeng: Báo ngày kiêng cấm 2. Xên kẻ: Cúng giải hạn 3. Xên hươn: Cúng nhà tức tổ tiên Tháng giêng Tạo kiêng kỹ Tháng hai Tạo căm xeng * Đêm của ngày kiêng cấm: Mỗi nhà lấy một bó cỏ gianh, bó lạt, một con dao buộc vào đòn gánh - tượng trưng để phi tổ tiên đem lên sửa chữa nhà cho Then. Đầu đòn gánh treo một túi xôi, gói thịt gà luộc để cho tổ tiên ăn - Đặc biệt bắt 1 con dế mèn đực bỏ vào giỏ để đêm chúng gáy
- Dế Mèn sinh nở vào tháng 7, nó tượng trưng 1 con trâu để tổ tiên dắt lên cày bừa ruộng nhà Then. Còn có việc: Lấy 1 tổ hoang rỗng của ong bò vẽ treo lên mái nhà để báo hiệu nhà tôi đã thực hiện đầy đủ cúng căm xeng. * Xên kẻ: Cúng đầu tháng 2, cụ tổ phải lên chầu Then phục dịch. Làm ở gian giữa nhà có đầu trâu hay đầu gà, phía sau bà Một ngồi, phía trước lót vải trắng đổ gạo nếp thành một đống con, trên đặt 1 quả trứng gà luồn trong 1 vòng tay bạc, xung quanh mâm có đốt nến (sáp ong).

Đọc hát bài Xên do bà Một gòi là “Á ní” mất 1 ngày đêm “lời thỉnh cầu Then xá tội cho tổ tiên, cầu xin phúc lộc”. * Xên hươn còn gọi Ló Liêng tổ chức cúng nhà trong 3 tháng (giêng, hai, ba) vào các ngày 7, 8, 9, âm lịch thành một chuỗi lễ hội đan xen căm xeng - xên kẻ và xên hươn. Xiên hươn là mời tổ tiên về ăn cỗ cuối buổi cúng, ông mo phải cúng cơm rượu để đưa tiễn đưa đi đưa lại để các vị về nơi Mường phi của các hồn.

Bài 33: XỬA CỎM ÁO NGẮN PHỤ NỮ THÁI

Trong trang phục Thái thì cái áo ngắn (Xửa cỏm, xửa cóm) là độc đáo và đặc sắc nổi bật ít dân tộc tạo hình được đẹp như thế. Áo phụ nữ Thái có nhiều kiểu dáng: Áo dài (xửa hí), áo ngắn dài tay có cúc bướm bạc (mắc pém) gọi là xửa cỏm, áo ngắn hở nách là “xửa khép”…


“Xửa cỏm” cổ truyền vừa là lễ phục vừa là thường phục, chỉ khác là về chất liệu vải (vải thường hay tơ lụa, cát bá, sa tanh) khi đi lễ thì quàng thêm tấm thổ cẩm rộng chừng ba bốn mươi phân hơi lệch chéo sang một bên, cách điệu một chút nghệ thuật ở phần hạ bán thân, chỗ ngay thắt lưng “xửa eo” xuống.

Màu sắc xửa cỏm tùy thị hiếu từng người có thể giữ nguyên màu vàng óng của tơ tằm hay nhuộm hồng nhạt hoa đào, xanh thanh thiên, màu tím hay màu nõn chuối… đó là những màu sắc được ưa chuộng (vải tự dệt) mua của người Kinh, người Hán…, còn Váy thì màu đen, đen nhánh, váy lụa thì nhuộm chàm, tím thẫm rồi nhúng bùn ao cho thật đen, thật mượt. Xửa cỏm may thân áo bó sát người, tay áo rộng, từ nách khâu hẹp dần xuống. Gấu áo khâu lót thêm 2 lần vải, rộng chừng ba phân, khâu đột nịt chặt ôm lấy vòng eo thắt đúng lưng long, phần trên đủ ôm lấy bộ ngực nở nang khít khao gây ấn tượng.

Mép gấu áo chỉ đủ chấm tới mép cạp váy, ngang thắt lưng nên khi cử động (cúi xuống hở tí eo lưng, dướn mình hay ngã về phía sau thì hơi hở nude (nuy) chỗ rốn khá gợi cảm. Trước ngực từ tới Rốn là 2 hàng cúc bạc “mắc pém” như một đàn bướm bay dọc trên 2 nẹp tà áo. Về số cúc bướm (mắc pém) có 2 ý kiến:

1. Hàng mắc pém với số lẻ 11 cặp được bố trí khéo léo dày đặc lấp lánh trên ngực phụ nữ Thái - Số lẻ ở đây tượng trưng cho sự vận động, phát triển đi lên (số chẵn tượng trưng cho sự yên tĩnh, không động, không phát triển - những sản phẩm dùng cho phụ nữ đang sống thường thiết kế với số lẻ, còn để cho thế giới hư vô “phi” là số chẵn). Bậc cầu thang để lên xuống nhà này hàng ngày có số lẻ, chỉ làm chẵn khi đưa ma.

2. Hai là: Màu nền tà áo không trùng với màu áo và cúc bạc. Số cúc bao giờ cũng “số chẵn” với ý nghĩa đầy đặn, trọn vẹn dành cho chồng con - khác với những số lẻ trong kiến trúc nhà ở, “lẻ” là sự sinh sôi phát triển. Hai ý kiến trên đều có lý lẻ… Thực tế ở mỗi vùng, mỗi chi (ngành) Thái có quan niệm khác nhau đôi chút - có lẽ là:

* Với con gái chưa chồng thì Xửa Cỏm có số hàng Mắc phém số lẻ. * Khi có chồng con rồi thì xửa cỏm có số hàng cúc bướm số chẵn. Cũng có thể số hàng chẵn hay lẻ phụ thuộc vào chiều dài của áo (áo người cao hay thấp) miễn sao cho nó cân đối hợp lý là đẹp. Xửa cỏm của phụ nữ Thái đen: Cổ áo cạp hai lần vải, khâu đột, cổ đứng có phần gò bó cứng nhắc thì xửa cỏm của chị em Thái trắng lại bẻ tai, chiết giấu mép, vòng cổ rộng hình trái tim mở dài hở đến trước ngực rất mềm mại duyên dáng. Các cô gái rất ưa kiểu xửa cỏm này, còn các “bà xã” khi vẻ đẹp lý tưởng “eo kíu meng nhay” lưng eo con tò vò nữa, thì các chị rất ý tứ khi mặc xửa cỏm đã khéo léo dùng các móng tay ém đẩy lớp mỡ bụng lên (đã qua nhiều lần sinh đẻ) rồi vừa cài cúc bướm nên vẫn tạo được hình dáng thon thả gọn gang.

VÁY THÁI:


Có nhà thơ đã cảm: “Váy em sắm lệch, nhiều khi cũng tình” Váy (xỉn) của phụ nữ Thái màu đen, khâu kín mép kiểu váy ống, vòng ống rộng gấp đôi vòng eo, cạp váy màu trắng, còn độ dài tùy theo cao thấp của người mặc và thường là chùng quá bắp chân. Ở trong gấu váy, chị em cạp thêm một đường viền vải màu đỏ thắm rất cách điệu gợi cảm: Ai đó hát ngất ngư Phố Bản Lũ nghé tơ nhảy giỡn rộn bờ khe Ngọn gió quẩn thổi tung viền váy đỏ Làm ngả nghiêng lơi lả cánh rừng tre. Váy mặc bó sát vào mông, tạo 1 đường cong thật đúng như một nhà Văn Trung Hoa đã khắc họa cái đẹp “phong nhũ phi đồn” (vú nở, mông to) của người phụ nữ đang thì của thời hoạt động tình dục mạnh mẽ, sinh con đẻ cái để nòi giống phát triển và trường tồn.

Khi mặc váy nếp phần thừa quấn vào một bên hông rồi gấp bẻ trở lại đằng trước thành một đường chiết ly thẳng từ eo xuống gấu váy. Tuy thế, nếp gấp này không làm mất đi nét uốn lượn ở phần hạ bán thân của người phụ nữ Thái. Thắt lưng được làm bằng lụa tơ tằm dài gấp 2 lần rưỡi vòng eo, rộng chừng bốn năm phân, màu hoa lý hoặc màu xanh nõn chuối. Hai đầu chính nối thêm 2 mẩu vải màu đỏ chói gây chú ý.

Từ nhỏ các bà, các mẹ đã dạy con cách thắt khăn nơi thắt lưng (xài yêu) để sao “Eo kíu manh po” (thắt đáy lưng con tò vò). Khi thắt lưng thì thắt ngay dưới cạp váy trên hông, mối đằng trước hơi chếch về phía bên hông một chút. Ngày nay, nhiều cô gái đã “cải tiến” dùng dây thắt lưng hoa nhiều màu gấp nếp - không thắt mà quấn giấu mối, trông khá điệu đàng, mảnh dẻ, kiêu sa. (Theo Phan Kiến Giang) Khách quan mà chiêm ngường:

Ngắm phụ nữ Thái với trang phục xửa cỏm ta ngỡ đó là một nàng vệ nữ rất cổ điển mà vẫn hiện đại, bó sát tạo eo, nổi bật các đường cong lý tưởng (như thi hoa hậu)… chị em Thái đã rất táo bạo trong sắp xếp đường nét (gây gợi cảm). Cái váy dài tha thướt xúng xính như muốn kéo dài thêm cho phận hạ bán thân, làm sao chân dài thêm; còn cái xửa cỏm thì cứ như hơi quá ngắn lại ôm xít thân thể vùng trên như dồn nén chật chội, căng phồng như muốn bung ra “bong ra” hiến dâng cho người tình “của em của anh đây mà” rất gần gũi thân thương đầy chất nhục cảm.

Khi may mặc bộ “xửa cỏm”, chị em rất chú ý bố trí phối hợp màu sắc (các tông màu) không diêm dúa, lộng lẫy mà vẫn giản dị, ấm cúng. Váy đen nhánh thêm viền phía trong đỏ ở gấu váy, khi bước đi xao động cùng khăn piêu trên đầu, bộ xà tích bạc ở thắt lưng thật là vừa tạo hình, vừa tạo sắc (hai cái màu nóng tương phản): Màu đỏ ẩn hiện làm cho màu đen thăm thẳm, sâu hơn như ẩn sau đó là vùng “âm” của tình ái… Sự tương phản lung linh sống động ấy trong một tồn tại ở một chỉnh thể thấp nhất, sự hài hòa cân bằng âm dương như “ải cắp êm” (bố với mẹ) đời đời bền vững hội nhập với áo sơ mi, quần Jin hiện đại vẫn không lạc mốt.

KHĂN PIÊU

“Piêu” tiếng Thái nghĩa là “khăn”. Đó là một tấm vải thổ cẩm tự dệt rộng chừng hai gang tay và dài một sải tay, mặt vải sợi dệt thô nhuộm chàm kỹ ngả màu xanh đen, còn nhấn thêm nước vỏ cây Ban cho đen nhánh bóng. Khăn tuy dài nhưng khi đội thì chỉ một đầu khăn vắt trên đỉnh đầu rủ xuống trán và một đầu thả xuống sau lưng dưới gáy, chỉ những phần hở ngoài mới thêu trang trí hai đầu khăn, còn đoạn giữa để nguyên vải chàm thô.

Hai mép đầu Piêu được viền một diềm vải đỏ (hay vải ngũ sắc) kéo sang 2 bên mép cạnh bên bằng một đoạn bằng một nửa chiều rộng khăn, các góc khăn trên mép vải viền được tết chỉ màu thành các “cút Piêu” bằng chỉ nhiều màu thành các vòng tròn nhỏ mỗi đoạn vòng một màu.

Tùy loại Piêu mà tết thành từng nhóm 3 hay 5 hay 7 cút. “Cút Piêu”; hình tượng cây guột ở đoạn chồi là non xoắn hình trôn ốc nó cũng như 2 cái khău cút trên đỉnh đầu hồi nhà. Ô vải vuông ở hai đầu khăn là gương mặt của Piêu, là nơi trổ tài thêu thùa của chị em… Bố cục vuông gấm, vải đỏ thành những ô vuông đồng tâm hay lệch 45o so với ô bao ngoài gần mép đầu khăn gây cảm giác chuyển động như bánh xe quay.

Cũng có khi bao quanh vuông gấm là các ô vuông nhỡ xếp cạnh nhau thành 4 băng dọc theo các cạnh hình vuông, mảng vuông bên trong mới bố cục thành các ô vuông đồng tâm.

Ở lối bố cục tất cả đều là những hình vuông được thêu thành các dải hồi văn các hình móc câu hay tam giác đồi đỉnh, hình răng cưa, hình ô trám, hình đàn khỉ, đàn ngựa đuổi nhau chạy vòng quanh các hình vuông, còn mặt hình vuông trong cùng thì thường thêu những ngôi sao ở cánh hay nhiều cách biến thể. Những hoa văn ấy đều phản ánh hiện thực, song không sao chép tự nhiên mà đã được cách điệu thật khái quát và hình học hóa, số kiểu hoa văn tuy không nhiều, song nhờ kết hợp khéo léo ở từng bàn tay vàng và theo tập quán từng vùng mà vừa mới lạ vừa quen thuộc lại như mở ra vô hạn (theo TS Chu Quang Trứ).

Về màu sắc chỉ thêu thường là màu tươi cơ bản. Piêu Yên Châu sặc sỡ, ưa dùng các màu gốc đối chọi mạnh: Trên nền khăn xanh chàm đen, nổi bật lên là những màu sáng mạnh như đỏ rực, vàng nghệ, vàng chanh, trắng, xanh lá cây, xanh lơ tạo thành sự phối hợp màu khá mạnh bạo. Piêu Điện Biên ít màu hơn thiên về đằm thắm. Khăn Piêu do các cô gái Thái làm ra để dùng, để tặng bạn tình làm quà kỷ niệm, tặng cha mẹ, cô bác, anh chị bên nhà chồng. Khăn Piêu rất tiện dụng: Dùng đội đầu, quấn cổ và khi cần thì buộc làm “địu” để địu con nhỏ. Nó đẹp như câu hát: “Chiếc khăn Piêu Thêu chỉ hồng Theo gió cuốn Bay về đây Dâng trên tay…” Nó chính là nơi lắng đọng tâm hồn (tình yêu) và phẩm chất cao đẹp của người con gái Thái.

8/3/2012 – NK

Bài 34: LỜI ĂN TIẾNG NÓI

Lời ăn tiếng nói trong giao tiếp hàng ngày bộc lộ nhân cách, lối sống (tính cách) của một dân tộc. Nhiều khi chỉ một hiện tượng (một hành xử) cũng đã để người ta có cảm tình hay khó chịu về dân tộc đó. Ví dụ có người nhận xét: Tính cách người Hàn Quốc qua hiện tượng lặng lẽ xếp hàng cả tiếng đồng hồ trước giờ lên máy bay (còn người Nhật thì qua vụ sóng thần và thảm họa nhà máy điện hạt nhân Fucưxima hồi 11/3/2011 từ người dân tới ông Thủ tướng đã hành động, ứng xử như thế nào (qua màn hình ti vi) đủ cho cả thế giới kính phục người xứ mặt trời mọc.

- Người Tàu (Trung Hoa) có một nền văn minh rực rỡ cỡ 5000 năm lịch sử, nhưng khi tiếp cận với số đông cụ thể thì lại thấy như bước vào xã hội thiếu trật tự như “vào đến phòng đợi ở sân bay, đã thấy rất đông người ngồi la liệt trên ghế hoặc dưới đất, nói chuyện ồn ả hoặc ăn uống nhồm nhoàm. Nét nổi bật của người Trung Quốc là ăn to, nói lớn… khi lên máy bay thì xô đẩy chen lấn, la hét chửi bới nhau, rồi giành giật chỗ để hành lý.

Khi đã vào ghế ngồi yên vị rồi là họ bắt đầu mở miệng để chuyện trò, tranh luận to tiếng như một cái chợ”. Hai tính cách nổi bật là: Chen lấn và sẵn sang xâm phạm vào sự riêng tư của người khác. Về đi lại hình như người ta không bao giờ chú ý (nhường đường) hoặc có nhường họ thì cũng không có lời cảm ơn. Về sinh hoạt thì hở cái gì ra là mất cắp, tính vùng miền cục bộ (như ở ta là dân Nghệ Tĩnh) rất mạnh mẽ. Việc khạc nhổ thì người Tàu đứng số một thế giới đến nỗi khi tổ chức Thế vận hội Bắc Kinh (2008…), lãnh đạo phải có chỉ thị cấm khạc nhổ ngoài đường phố Thủ Đô

. - Người Hà Nội: Xưa nổi tiếng là thanh lịch, hào hoa phong nhã, thì nay xuống cấp đáng báo động: Ra đường thấy bất cứ cái gì lạ (như tai nạn xe máy, cãi nhau) là xúm đông xúm đỏ gây tắc nghẽn giao thông. Ăn tục, nói tục thì chắc Tàu cũng phải chào thua: Xô đẩy chen lấn, nói to, trộm cắp…, đái bậy thì thôi rồi.

Tính khoe mẽ, trưởng giả, học làm sang (kể cả tham nhũng) đang trỗi dậy, hoành hành đáng sợ, sự coi thường kỷ cương, luật pháp diễn ra khá phức tạp. Còn về người Thái, qua nhiều năm “cắm bản” Nguyễn Khôi tôi thấy có hai điều nổi bật: Chất phác thật thà (không nói dối = ba vẹo), không trộm cắp (kin lắc); nếu ai mắc phải thì bị cộng đồng dân bản tẩy chay, xua đuổi.

Đặc biệt trong sinh hoạt thường ngày của người Thái là nhẹ nhàng, dịu dàng, rất ít khi to tiếng (vợ chồng ít khi cãi nhau), không đánh mắng trẻ con, phụ nữ (phụ nữ được tôn trọng, yêu quý), trong các bữa liên hoan tiệc tùng diễn ra khá lớp lang, trật tự - khi vui là “hát” (khắp) là xòe (xe) là hút hai sừng trâu rượu cần, là cụng ly vài ba chén rượu cất (lẩu xiêu). Không đồng ý thì nói “đồng ý thôi” một cách nhẹ nhàng

Nói năng vào thưa ra gửi (xo phép), gặp nhau có lời chào “khẳn qua, xiểng qua” cho tặng nhau có lời cảm ơn chân thành và còn hẹn gặp lại. Dân bản sống với nhau kiểu công xã thị tộc nông thôn “tắt lửa, tối đèn”có nhau, chia ngọt sẻ bùi, tình nghĩa thủy chung.

Lời ăn tiếng nói của người Thái được bộc bạch trong “Quăm son Côn” (lòi khuyên răn người). Đó là những câu tục ngữ rất đậm đà bản sắc dân tộc.

- Về mặt “xưng hô” thì: Thẩu hịa me/ Ké hịa lua (Già gọi Mẹ/ vừa gọi Thím) - Ăn xem nồi, ngồi trông hướng, có ý tứ: Năng hảu bấng thí Ní hảu bấng bón (Ngồi phải xem chổ/ đi phải xem nơi) Nung sửa bang nha ngoi táng Nung xỉn hang nha ngoi tu (Mặc áo mỏng (nữ) đừng đứng trước cửa sổ Mặc váy mỏng đừng đứng trước cửa vào ra) Au mia bấng me nai Sự quai bấng me tổn lang (Lấy vợ xem mẹ vợ/mua trâu xem trâu đầu đàn) Thốm nặm sa lai hảu bấng chong (nhổ nước miếng phải xem khe dát) Khong xáu ca đi ca panh nha chăm xảu (thấy người có của quí giá đừng sán đến gần) Cốn tai pợ sốp/cốp tai pợ o (người chết vì cái miệng/ ếch chết do lắm tiếng kêu) Phua mia cu mưng nha va (tình vợ chồng chớ gọi mày tao) Quăm đi phăng cảu sok Quăm hại hí cảu na (chớ lời lành chôn chín tấc Chở lời xấu dài chín xải) Xép khẩu é kin nốt háy Quây khanh né xỉ nột bản (Đói bụng tưởng ăn hết cả chõ (xôi) Buồi cương cứng tưởng địt được (nữ) cả bản. Nha chằm díp nha khịt ton (Khi cầm nắm xôi chấm chớ có Kẹp thêm miếng thức ăn (cá thịt) - tức là đừng ăn tham - xấu. Nhay pay đón mưa đăm (Đừng có đi trắng về đen - ăn ở hai lòng). Nha du chăm nưa xiêu (Đừng có xán vào vợ người khác) Chẩu bái ngắm xiêu ngăm (Mình không nghĩ ngợi, ý tứ gì (vô tư) thì sẽ có người khác nghĩ (nhớ) đến mình). Xin trích một số câu đã trích ra tiếng phố thông: * Người Thái có luật Mường, lệ bản. Có thấp có cao/ biết cao biết thấp. * Nhiều người đắp thành bờ. Một người phá thành thác. * Không được ba hoa Không được nói phét Không được sợ việc Không được lười biếng Không được ngủ sớm Không được dậy trưa… *

Không được nhai chộp choạp Không được cái không bảo có Không được kề cà say rượu Không được đánh vợ

Không được ăn trộm Không được nói dối * Ăn cơm trước khi nuốt phải nhai Giơ dao ba lần mới chém Nghĩ ba lần mới nói * Bố mẹ nuôi không bằng thầy dạy Thầy dậy không bằng tự mình làm nên * Đông con cháu, thiếu gạo ăn Sướng con cu, mù con mắt. Những cái buồn của người Thái: “Con dại, vợ chết, bố mẹ mất sớm, anh em ở xa”

Vợ chồng xa nhau, bỏ nhau, thiếu cơm, thiếu muối Đi thuyền không có mái chèo Lạc rừng trời tối/ cơm không, chẳng có thức ăn. Đêm nằm không có vợ để ôm. Dằm (gai) chọc móng tay / ve cắn lỗ tai. Mắt mù, tai điếc Đào con dúi hang sâu / nói chuyện tình với gái nặng tai. Đắp bờ phải bùn nhão. Ăn không có bạn Ở chẳng có phường Đau bụng không có thuốc Đau mắt, đói chữ chẳng có thầy. Anh em ghét chẳng ai thương. * * *

Lai côn đi/ lai phi pương cáy / lai mạy pên hươn chăn (Nhiều người thì tốt / nhiều ma thì tốn gà - phải cúng / nhiều cây thành nhà đẹp). Đông luông báư mi mạy Chí au săng pên pá (núi rừng to không có cây Thì lấy đâu thành rừng) Lời ăn tiếng nói (tư cách đạo đức Thái) được đúc kết thành tục ngữ, thành luật Mường lệ bản để giáo dục mọi người sống, lao động trở thành những con người tốt, có kỷ cương, có tình nghĩa xây dựng bản mường - đất nước ngày một giàu đẹp. Góc thành Nam Hà Nội 19/4/2011 NK

Bài 35: QUẮM TỐ MƯƠNG

“Truyện kể bản Mường” là một bộ thông sử của tộc người Thái, ngành Thái đen trình bày những sự kiện nửa hư (truyền thuyết) nửa thực qua cuộc “mang gươm đi mở cõi” cách đây khoảng gần nghìn năm của chúa đất Thái đen ở Mường Lò (Nghĩa Lộ). Qua phần huyền thoại … đến lúc Then (trời) cho tạo Tum Hoàng xuống làm chủ vùng đầu sông Nậm Lài, Ao Xe, Nậm Tè (Sông Đà), Nậm Tào (Sông Thao)… rồi tạo Tum Hoàng cho hai em là Tạo Xuông, Tạo Ngần xuống ăn đất Mường Ôm, Mường Ai ngoài vòm trời, rồi tới dựng Mường Lò Luông, cùng theo có các tay chân họ Lò, Lương, Quàng, Tòng, Lèo… tôn họ Lò làm chủ.

Lúc đó đất Mường Lò đã có người. Mọi (Mường), người Mang cư trú. Xây dựng theo Mường Lò thì Tạo Xuông ở lại lấy vợ sinh ra Tạo Lò, cho Khun Lường làm mo, Tạo Lò làm chúa. Về sau Tạo Xuông cũng trở về quê cũ Mường Ôm, Mường Ai. Tạo Lò lấy vợ sinh ra 7 con trai: Ta Đúc, Ta Đẩu, Lặp Li, Lò Li, Lạng Ngang, Lạng Quang và Lạng Chượng… các con khôn lớn, Tạo Lò chia cho các con đi làm chúa các mường: Tạo Đúc “ăn” Lò Luông, Ta Đẩu “ăn” Lò cha, Lặp Li “ăn” Lò Gia, Lò Li “ăn” Mường Min, Lạng Ngạng “ăn” Mương Vân, Lạng Quang “ăn” Xí Xam, Bản Lọm. Ngoài ra Tạo còn cho bô lão già bản Xửa Cang Ho “ăn” Mường Pục, Mường Mẻng… Rồi các cháu nội được chia đi làm chúa miền đất đầu sông Thao nước đỏ. Riêng con út Lạng Chượng không có Mường để “ăn” - “con út không có ngựa, con út không có Mường” (giàu con út khó con út là thế). '

Lạng Chượng mới bàn với các tay chân giúp việc là các ông ho hé, ông mo, ông nghe… triệu tập binh tướng, dân chúng mở lối đi tìm Mường. Quân đi đến Khau cả, Khau Pục, Mường Min thì tiến thoái lưỡng nan, chúa bèn cúng “pang cha đáp” cầu hồn ông nội là Tạo Xuông, Tạo Ngần xuống phù hộ. Chọn ngày lành, quân Lạng Chượng đến Mường Lùng - dốc Khau Phạ nhìn thấy cánh đồng rộng (xã Ngọc Chiến bây giờ) bèn dốc quân vượt dốc Xam xíp vào Mường Chiến.

Tạo Mường Chiến khiếp sợ xin gả con gái, Lạng Chượng ưng ý nhận đất Mường Chiến là Mường họ ngoại. Tới Mường Chai, Tạo ở đây sợ phải dâng nhiều trâu. Binh Chúa vượt rừng rậm, qua cầu mây Vạn Tọ, không thuyền bắc cây qua Nậm Tè (Sông Đà)… đến đây vấp phải sự chống cự của người “Xá Cắm Ca” (Khơ Mú) do Tù trưởng Khun Quàng cầm đầu.

Mác Chúa ngắn nên chúa phải chạy, mác Quàng dài nên đuổi Chúa xuống Nậm Tè, bị bắt cạo trọc đầu phơi nắng, binh Chúa chết 800 người gan dạ… Rồi chúa rút binh về Ít Ong (Thủy điện Mường La hôm nay) để tang đồng đội. Rồi sau một thời gian nghỉ dưỡng rút kinh nghiệm chúa Lạng Chượng thắng Khun Quàng chiếm được đất Mường La từ Nặm Bú qua Khau Pha, Kéo Tèo, qua Nặm Cá (Chiềng An), Chiềng Căm (Thị xã), Cọ, Kẹ qua núi Khau Hào lên Mường Muổi (Thuận Châu)… gặp quân Xá của Khun AmPoi ở núi Khau Tù, Khau Cả, quân chúa đánh nhiều lần bị thua… rồi chúa lập mưu “Mỵ Châu - Trọng Thủy”xưa, xin làm rể ĂmPoi… chọn ngày lành chúa mở tiệc chuốc rượu say cho Bố vợ, rồi giết chết đoạt đất Mường Muổi.

Quân Chúa tiến lên Mường Quài (Thiên Giáo) chê đất ở đây ẩm ướt tanh hôi, bé nhỏ, qua Mường Húa, Mường Ẳng tới Mường Phăng chế đất bé trũng như vũng trâu đằm, chim cuốc chạy qua, chim đa đa chạy lại cũng thấy. Quân chúa tiến vào Mường Thanh, đất này thật tốt “nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc” (4 cánh đồng rộng ở Tây Bắc) ở đây Mường rộng lớn, tròn như cạp nong, cong như sừng trâu, cho quân lính phá rừng khai hoang làm ruộng, chia đất thành hai vùng “Xoong Thanh” cho già Nà Lếch làm mo.

Lạng Chượng làm chúa Mường Thanh lấy vợ bản Pe sinh ra Khum Pe, rồi lấy vợ sinh ra Khun Mứn. Khun Pe mất sớm, ông nội đem cháu về nuôi, sau Khun Mứn sinh Tạo Pàn. Chúa Lạng Chượng già rồi mất… cháu tiếp là Tạo Chiêu lên “ăn” đất Mường Lay, Tạo Cằm về Mường Muổi. Cứ tiếp là Tạo Chông, Tạo Thâng, Tạo Quá Lạn, Tạo Chương, Tạo Quạ, Tạo Quạ lấy nàng An Phấư ở Mường Lay làm vợ cả, và Nàng Xơ (người Xá dòng dõi Khun Quàng, ĂmPoi) làm vợ hai. Nàng Xơ sinh ra chúa Lò Lẹt. Lò Lẹt lấy tên hiệu là Ngu Háu (rắn hổ mang) làm chủ đất Mường Muội nhiều năm vào đất triều cống Đại Việt từ đấy.

Cứ thế, cứ thế… ghi chép kéo dài cho tới năm Mầng Cậu (Đinh Hợi -Đồng Khánh nhà Nguyễn năm thứ 2) quân Pháp lên đánh chiếm Mường La (Thị xã). Thời đó Tây tiến lên Pa Tần bị Tạo Điêu Văn Tri đánh cho phải lui về - Mường Lay - Mường La, mãi sau Quan 6 ở Hà Nội sai Pa Vi lên dụ Tạo Tri hàng phục - Thế là 16 châu Thái bị Tây cai trị từ đấy cho đến 7/5/1954 chiến thắng Điện Biên… *

Bản Mường Thái dưới thời thực dân Pháp đô hộ (Thành Thái thứ 2: 1890 - 1954): - Cầm Văn Oai làm chủ Mường Mụa (Mai Sơn) - Ở Mường La: Tây đóng trụ sở (kiểu tỉnh lỵ ở Tạ Bú gọi là Vạn Bú) - Cầm Văn Hoan làm Tuần phủ cai quản 9 châu Thái đen. Cầm Văn Oai ở Mường Mụa kiêm chức Quản đạo Thái đen. Điêu Văn Tri quản đạo vùng Thái trắng. Bạc Cầm Hạc làm tri châu Mường Muổi Hoàng Văn Cấp làm tri châu Mường Vạt Xa Văn Cả làm tri châu Mường Xang. 1/2/1917

Chánh xứ Lô Mét mở trường dạy chữ Quốc ngữ và chữ Tây ở Sơn La. Cũng năm đó chủ Mường La là Cầm Văn Quế lên thay cha là Hoan vừa mất, Hoan làm chủ Mường La 33 năm, khi chết, làm ma mổ 32 trâu và trồng 36 cây heo ở mộ. Năm 1919, Quế làm nhà ngói bắt dân mỗi “xổng” nộp 100 đồng bạc trắng. Năm 1922 Tây bắt dân đổi tiền “cống chảy” lấy tiền “hua cỏm” hẹn một năm phải xong, cứ 3 đồng cống chảy được 1 đồng hua cỏm. Dân mường thời đó túng tiền lắm, họ phải bán gạo, trâu với giá rẻ mạt (trâu mộng 12 đồng/1 con và mua hàng với giá cắt cổ như sợi vải, thuốc lào, 1 kg muối giá 5 hào).


Năm 1931 Tây xây nhà tù Sơn La mở đường cái ô tô đi Tạ Khoa (qua đèo Chẹn), năm 1932 Tây lại mở đường đi Thượng Lào qua rẻo Pa Háng, rồi mở tiếp đoạn Mộc Châu về Suối Rút (đường 41) người Thái gọi đó là đường Pha Lỉ, Pha Tổ… dân phải đi phụ đục núi phá đá nhiều người bị chết - con gái phải gả bán sớm (lấy tiền) Bản mường không yên vui.

Bài 36: TÁY PÚ XẤC

Cùng với “quắm tố Mướng” là truyện Táy Pú Xấc “Người Thái đánh giặc” là một sử thi tầm cỡ về “kể ông cha chinh chiến”… Táy ở đây dùng đa nghĩa, như “trên đường đi” gọi là Táy Tang, qua cầu là Táy Khua, đọc chữ là Táy Xư, kể chuyện là Táy Quắm Tố… Táy nghĩa là kể. Pú là ông nội, người tôn kính như “Bác”, Pú ở đây là ông cha, lãnh tụ, thủ lĩnh. Xấc là chiến tranh: Đi trận là Pay xấc, đánh trộm là tặp xấc, dấy binh là diệt xấc, nổi loạn là xấc phản, giặc ngoại xâm là xấc chinh mương, hay xấc cướp mường, hay xấc pua mương.

Mặt trận là nả xấc, cuộc chiến là Chộ xấc, đi chiếm đất là xấc to mương - “xấc” đánh nhau cả xâm lược lẫn tự vệ. Nội dung thư theo lịch sử của Quắm tố mướng, mở đầu từ Tạo Lò tới Cầm Nho (Kăm nho) là 50 đời. Sử thi viết theo lối hát “khắp” dùng rộng rãi trong sinh hoạt văn hóa đời thường và nghi lễ. Mở đầu là: Cạy hin pẻn ke ma bốc Nộc tót háy tai thẩy Tai thẩy tai ti non Tai cuông côn cuông kon mạy xọk Pú hók lộm khẩu heo Tông Lo Chang nháư tai thót nguông thót nga pạt phạk Tao, u, khong… Ẩy đá dẹp đá tảng lên cạn Chim gõ kiến chết già Chết già tại nơi nằm Chết trong bộng trong cành cây Xọ Cụ Tổ đổ xuống vào mộ đồng Lò Voi lớn chết rụng vòi ngà bên sông Thao, nậm u, MêKông…

Đoạn tả Lò Lạng Chượng đem quân đi đánh chiếm Mường La Mi khỏi kôn pay cón Hảư Ải Ón uôn tang Tốc Xả chi, Xả cha Tốc Mương Bá, Mương Ai Tốc Mương Chai, Mương chiến Tốc Pák chiến ti nặm hăm Tốc Pák Păm ti nặm hạk Pọng cánh quen phăn hủa Phăn hủa hảư kôn xen kôn păn pú bải Có chân sai đi trước Cho Ải Ón dẫn đường Đến Xá chi, Xá cha Đến Mường Bá, Mường Ai Đến Mường Chai, Mường chiến Đến ngủ suối chiến nơi sóng cuộn Đến ngủ suối Păm nơi nước phèn Pọng và Quen (quan và dân) đóng thuyền Đóng thuyền cho quân ức quân nghìn cụ bơi.

Đoạn kết: Bản Lụa (Thuận Châu) Ho Luông Sinh pay xảng / lau diên ké xia tạu Thẩu xia bản xia na Chắng púk hảư Ho Luông Tiên pay kín Đin na Lụa na Lài to đaư coi xảng Hák vá Sen Lộc lau Ké xia tạu Thẩu xia bản xia na Chẩu xáư hảư Pọng An dệt Sen Đin na tạu tin đán Bản Pán Vạy Mo Yên mưa khẩu Bản Té pẩu chiên vạy bấu kha Kọ pưa pang xên phon chu tang mãn hụ Bản Lăng hảư sự Phúc mưa kin Đin Na Lăng to đaư coi xảng Cựt áo quảng hom pay chom tom.

Họ Luông sinh vun đắp Bản Lụa Lại đã già lìa can Khuất lìa bản lìa ruộng Mới để Ho luông Tiên mà vào hưởng ăn Bao đất ruộng Lụa, ruộng Lài hãy quản Nhưng rồi Sen Lộc đã già lìa can Khuất lìa bản lìa ruộng Pọng An được cụ (chúa) cất nhắc làm Sen Bao đất ruộng bản Mòn hãy quản Ruộng trải tận chân lèn Mo yên vào bản Pán Bản thủa ông cha truyền lại không buông Bởi thông thạo mọi đường cúng tế Bản Lăng dành Sự phúc lên “ăn” Bao ruộng đất (ở bản) Lăng hãy quản Lo rộng tính xa dân chúng sum vầy. (Theo Vương Trung).

Bài 37: THIẾT CHẾ XÃ HỘI THÁI XƯA *

Bản (làng): Là đơn vị hành chính nhỏ nhất, là cơ sở của Mường, là nơi cư trú của các gia đình phụ hệ thuộc nhiều dòng họ. Bản trung tâm của Mường gọi là Chiềng (phát âm ở Lào là Xiêng, Xiêng như Chiềng Lề (TX Sơn La) Xiềng Khọ, Xiêng Khoảng. Loại Chiềng thứ 2 là có một bản lớn, tồn tại độc lập không trở thành trung tâm kinh tế - xã hội và chính trị của một Mường nào đó (như Chiềng Đông, Chiềng Sàng, Chiềng Khoi ở Yên Châu) có nơi gọi là Viêng (Viêng Chăn - Lào, Viêng Lán ở Yên Châu). Trong Mường có hai loại Bản:

- Bản của dân tự do (dân páy) - Bản của dân lệ thuộc (dân Thín). Đứng đầu Bản là Tạo Bản (Quan bản) thường là người dòng họ Tạo Mường - (Quý tộc) nắm giữ “Không cha truyền con nối”. Quyền lợi của Tạo bản được cấp 1 số ruộng cấp tùy nơi “khoảng 1000 bó mạ (10.000m2), chức vị thứ 2 là chá bản (chá là nói)” truyền đạt mọi tin tức công việc của bản, ruộng được cấp bằng ½ Tạo Bản, khi thôi chức vụ phải trả lại ruộng. Họ được dân bản đến giúp công xá, biếu xén thịt và sản vật. *

Xổng (Poọng) gồm 3 - 5 bản (như kiểu Tổng, Xã?), đứng đầu là Tạo Xổng thường là quý tộc, ruộng được cấp 2500 bó mạ (25.000m2), dân Xổng phải làm không công cho Tạo (được ăn cơm), dân cũng phải biếu xén Tạo Xổng. Giúp việc Tạo Xổng có Quan Xổng, Chá Xổng… mất uy tín hay chết thì dân bầu lại. * Mường: Gồm nhiều xổng, bản đứng đầu là Tạo Mường. Chết dân bản bầu mới.

Toàn bộ đất đai trong Mường là do Tạo Mường cai quản, gia đình Tạo chỉ “ăn” một đám ruộng là “lương” cấy 5000 bó mạ (50.000m2), dân phải đến làm không công cho Tạo. Theo Quắm tố mướng thì chúa đưa dân đi chiếm đất “có ruộng mới tập trung được dân cư cũng như có nước mới giữ được cá”. Có ruộng đất thì mới có bản Mường.

Từ khi Mường Lò (Văn Chấn, Nghĩa Lộ - quê tổ Thái đen Việt Nam) ra đời từ Tạo Lò thì bản Mường cũng dần dần được tổ chức thành hệ thống. Nhiều bản hợp thành Xổng (Sổng), có nơi gọi là Ngụ (dưới cấp Lý Trưởng “xã”). Một hay ba Lộng (có nơi gọi là Ken) cộng với 3 - 4 Xổng thành một Mường. Từ 4 - 8 mường trở lên thành một “chu”. Các đơn vị từ Chu (Châu), Mường, Lộng, Bản là đơn vị hành chính mà Chu là đơn vị cao nhất (cỡ cấp huyện) của địa phương. Các đơn vị Xổng, Ngụ là dưới Mường Phìa (trực thuộc Phìa). Mỗi Chu (Châu) khi mới xác lập mang tính chất tự trị, không tập quyền thành một tổ chức thống nhất ở địa phương (phong kiến sơ kỳ, có tính cát cứ sứ quân).

BỘ MÁY QUAN CHỨC Ở CÁC CHÂU THÁI SƠN LA - TÂY BẮC

Cánh đồng Mường Lò (Tông Lò) do Tạo Lò đứng đầu khai phá dựng bản, lập mường vào thế kỷ 11 (nhà Lý) đã là nhà nước phong kiến tập quyền) nhưng sử sách Thái không thấy ghi (kể cả sử Việt) vê bộ máy cai trị (quan lại) ở các Châu Thái Tây Bắc.

Theo Quắm Tố Mướng thì khi Mường Lò (mường khởi thủy) ra đời thì có phân chia: Họ Lướng dệt mo Họ Lò dệt Tạo Họ Lường (Lương) làm Thầy mo Họ Lò làm Tạo. Như vậy Tạo Lò làm chủ (Chúa) Mường Lò. Luật Mường đã xác định: Tất cả các thứ (kể cả đất đai) là của Vua, của Tạo - đó là quyền sở hữu Nhà nước. An Nha (Quan Châu) phân quyền ban cấp tất cả các sản vật thiên nhiên trong rừng, trên đất, dưới nước cho các mường phìa, Lộng, Tạo, Bản đều thuộc quyền các quan chức ban cấp chiếm giữ. Ai săn bắn được thú to, cá lớn đều phải trích phần nộp cho An Nha một đùi, cho phìa một đôi thăn, nếu không coi là phá tục lệ bản mường, tùy tội mà xử phạt. Do đó mỗi người dân phải luôn tự răn mình. “Phít nọi sia quai Phít lai bên khỏi É pảo hữ dók mi É khó hữ dók tạo quan” “Sai phạm nhỏ mất trâu Sai phạm lớn thành tôi tớ

Muốn có sẹo thì đùa với gấu Muốn béo (sưng mặt), thì đùa với ong Muốn nghèo khó thì đùa với Tạo Quan” Quy định bổng lộc dành cho các Quan chức ở các Châu Thái Tây Bắc thời phong kiên - thực dân (trước thời giải phóng 1953) là: “Làm chủ vùng đất cai trị / hưởng nương dành ruộng chia / ruộng cày nương cuốc / cuông nhốc pụa làm tôi tớ. Suối cá/ ong vách đá / mật nhung hổ gấu hươu, nai, voi, tê giác tới rừng tre măng quý - dân ai vi phạm đều bị phạt tiền, dân được tham gia cử Tạo, dựng Quan (lời ca cổ”. *

VỀ TÊN GỌI BẢN MƯỜNG
Thường đặt địa danh theo tên sông suối, núi, đất (na, nà) cỏ cây, con gì. Ở Việt Nam có 37 mường Thái chỉ có Mường Ai là có 1 bản. “Mường” nghĩa hẹp là chỉ 1 đơn vị hành chính… “Mường” theo nghĩa rộng là 1 vùng miền, đất nước Quốc gia như Mường Ngô (Trung Quốc, nước Ngô thời Tam Quốc mà Giao Chỉ phụ thuộc), Mường Lá Púa (Mường Việt), Mường trời, Mường Ma, Mường Lùm (lúm) chỉ thiên hạ, cõi đời. Đã có bản Mường là phải có Tạo (chủ mường):

Khột ma Phái mi mương Tánh Mường phái mi Tạo Khai ruộng phải có Mường Dựng mường phải có Tạo Chiềng hay Xiềng (Viêng): Là đơn vị Bản trung tâm của Mường trong (mường cuông). Chữ “chiềng” bao giờ cũng có một tên riêng khác kèm theo để biến thành danh từ riêng.

Ví dụ: Bản Ban là trung tâm của Châu Mường “Mường Mụa” (Mai Sơn) - lúc này chiềng Dong vừa là tên riêng chỉ bản Ban, vừa là tên gọi Mường trọng (trung tâm của Châu mường), đồng thời là tên của cả châu mường Mường Mụa. Châu mường Mường Sang (Mộc Châu) là Chiềng Chu; Châu mường Mường Tấc (Phù Yên) là Chiềng Hoa. Đất Chiềng ở nhiều Châu Mường xưa (Châu Lỵ) thường có hào lũy vây quanh để bảo vệ, hào lũy là (Viềng), từ đó danh từ này nhiều khi trở thành tên của Châu mường - như Viêng Lò, Viêng Chăn (Lào). Châu mường Mường La có Viêng dựng ở bản Giảng (thị xã) nên gọi là Viêng Giảng đồn phòng thủ gọi là “che”, ở Mường La đặt ở bản Ái nên gọi là che Ái ở cách xa 10km. Thời VNDCH phần lớn “Chiềng” được áp sang là “xã”.

Bản Mường trung tâm là Mường trong (Mường Cuông), ở ngoài là Mường Phìa ngoài (Mường Phìa Nọk) - Bản trung tâm của Mường Phìa ngoài cũng gọi là Chiêng (Chiềng), ví dụ: Mường Chanh là mường ngoài của Châu mường Mường Mụa có tên Chiềng Quen, Mường Sại là mường ngoài của Châu mường Mường Muổi (Thuận Châu) có tên là Chiêng Muôn. Sau 1954, ta đổi gán “chiềng” là “xã”. Bộ máy chính quyền các chức dịch phân chia thành hai đẳng cấp rõ rệt: 1. Dòng dõi quý tộc Châu mường gồm họ gốc có tên Lò Cầm (đó là họ Lò to, Lò luông) để phân biệt với Lò bé (Lò bình dân). Họ Lò Cầm phân chia ra các họ: Cầm, Bạc Cầm, Điêu (Đeo, Tao), Hoàng.

Dòng dõi quý tộc Thái có có họ Vi Khăm, Kha Khăm, (Khăm = Căm = Kim = Cầm) phân thành họ Hà, Xa (Sa). Người thuộc họ quý tộc được phép tham gia giữ các chức người đứng đầu Bản, Lọng (Quen), các Phìa và An Nha Châu Mường. 2. Người thuộc ngoài họ quý tộc như Lò, Lường, Cà, Tòng… thì chỉ được phép giữ chức dịch (cấp thấp) là người đứng đầu bản và các ông Quan hàng “Xổng”. Đó là luật tục quy định, người nào đó có thế lực muốn phá vỡ quy định này dù là quý tộc hay bình dân thì đều phải đổi họ gọi là “nhập đẳm”(tư đẳm) - ví dụ họ Vi (bé) muốn làm Phìa, An Nha thì phải đổi thành họ quý tộc Vi (lớn) phải làm khá phức tạp, tốn kém, ngược lại người họ quý tộc muốn làm chức nhỏ như Pằn (xen), mo mường… thì cũng phải đổi họ xuống thành họ Lường, Cà…

Mọi chức dịch trong của bộ máy của Mường Phìa (chế độ Phìa Tạo) đều do An Nha (Chủ Châu (huyện) và Phìa Mường tiến cử, bổ nhiệm. Khi bổ nhiệm xong, họ nghiễm nhiên tổ hợp thành một tổ chức tương đương mang tên “Hội đồng bô lão toàn mường” (Thẩu ké hang mương) do chức ông Păn (xen) hoặc mo đứng đầu). Quan hệ giữa cấp châu mường với bốn mường Phìa ngoài thì không hẳn, theo thứ cấp trên dưới mà theo cơ cấu truyền thống vòng đồng tâm xoay quanh trục. Cơ cấu này quy định: Mường trong với bản trung tâm gọi là Chiềng là Trục, còn các Mường ngoài ở vòng đồng tâm.

Trước thế kỷ 19, các Châu Mường Thái hợp thành khu vực “16 châu Thái” (Xíp hốc Châu Tay) - trong dó có 1 châu mường trung tâm, các châu mường khác tập hợp dưới hình thức thuần phục hay qui phục “Mường Luông” (Mường lớn). Triều đình Trung Ương từ Lý, Trần, Lê, Nguyễn gọi đơn vị Mường Luông là “đại tri châu”, đến năm 1834 vua Minh Mạng đổi (xóa bỏ) chế độ đại Tri Châu và đặt ra các Châu (huyện vùng dân tộc), đặt các Châu Mường Thái thuộc tỉnh Hương Hóa (trung tâm ở Hương Hóa, bên bờ sông Thao, Phú Thọ hiện nay).

Đến năm 1884, đất nước ta mất 6 Châu mường Thái nhập vào bản đồ Trung Quốc theo Hiệp định Thiên Tân ký giữa thực dân Pháp và triều đình Mãn Thanh. Tổ chức xã hội theo các đơn vị Mường xưa là một bước đệm chuyển từ tổ chức thị tộc, bộ lạc nguyên thủy (xã hội Thái gọi là Đẳm) sang tổ chức Quốc gia dân tộc.

Thuộc ngữ “Mường” không còn là như một quốc gia dân tộc nữa, người Thái ở Lào, Thái Lan đã mượn danh từ gốc Pali - SanoKis là Pa Thết để chỉ đất nước (Mường Pa thết Lào) Đấy cũng là lý do, trong dân gian vẫn quen gọi nước Thái Lan là Mường Thay, Lào là Mường Lào. Người Thái ở Việt Nam như chậm hơn mới đi từ Đẳm đến trình đô bản mường (dưới cấp quốc gia) rồi phát triển gia nhập quốc gia dân tộc Việt Nam (Pa thết Việt Nam). (Thái Việt Nam chưa lập “Nhà nước riêng” mới ở dạng tự trị Bản Mường).

QUAN HỆ DÒNG HỌ GIA ĐÌNH VÀ HÔN NHÂN

Người Thái có ba quan hệ về họ hàng: 1. Ải noọng: Gồm anh em, chị em chưa xây dựng gia đình sinh ra từ một (cùng mẹ cùng cha hay khác)- nội tộc 4 đời. 2. Nhinh Sao: Là họ nhà trai hay thuộc khổi Ải noong và rể.

3. Lung Ta: Họ nhà gái (bên ngoại).

Bài 38: KHU TỰ TRỊ THÁI MÈO

Toàn cảnh thị xã Sơn La Ngày 29 - 4 - 1945 chủ tịch Hồ Chí Minh (VNDCCH) ký sắc lệnh thành lập khu tự trị Thái Mèo (sau đổi là khu tự trị Tây Bắc). Kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa V phê chuẩn xóa bỏ cấp khu và hợp nhất 1 số tỉnh. Hội đồng nhân dân khu tự trị Tây Bắc họp ngày 19 - 20/1/1976 tại thị xã Sơn La (thủ phủ khu tự trị) công bố quyết định của Quốc hội (thời Tổng bí thư Lê Duẩn) kết thúc 20 năm tồn tại của khu tự trị. Thành tựu: Theo báo cáo 20 năm hoạt động của khu tự trị Tây Bắc, ngày 19-1-1976 của UBHC khu thì:

Thị xã Sơn La

1, Về chiến đấu đánh bại chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ xâm lược.
Toàn khu có 82 xã trực tiếp chiến đấu, 16 xã bắn rơi máy bay mỹ và 21 xã bắt sống giặc lái, sản xuất được giữ vững, huy động 562000 lượt người với 95 nghìn mét khối vật liệu đá đảm bảo giao thông phục vụ chiến đấu. 2, Kinh tế: Từ 1954 thực hiện “cải cách dân chủ” (ở xuôi là cải cách ruộng đất) đã xóa bỏ chế độ bóc lột cuông nhốc (chế độ Phìa Tạo), xóa bỏ ruộng chức, chia ruộng cho nông dân lao động, đã đưa 79% hộ nông dân vào hợp tác xã nông nghiệp - 50% số HTX lập được kế hoạch sản xuất hàng năm, thực hiện 3 khoán - những HTX tiên tiến như Nậm Mùn, Bản Phủ (Lai Châu), Púng Luông, Cao Đa (Nghĩa Lộ), suối Lìn, Kim Chung (Sơn La)… So với năm 1955 thì sau 20 năm, giá trị sản lượng nông nghiệp tăng 228%, bình quân hàng năm tăng 16%, diện tích trồng lúa tăng gấp 7 lần, diện tích hoa màu tăng 2 lần. Đã có 195 HTX đạt trên 5 tấn thóc/1 ha.

Đã hình thành các vùng sản xuất chuyên canh lớn như bò, chè Mộc Châu, Cam Đường, vùng chè Văn Chấn, vùng lúa lợn Điện Biên, vùng ngô Nà Sản… Hàng năm khai thác 28000 m3 gỗ, 2,5 triệu cây tre nứa, 7000m3 củi, có 13 lâm trường, 50 HTX nghề rừng. Cây chè cả khu có 5000ha thu 7000 - 8000 tấn/ năm. - Về chăn nuôi: Ngay sau ngày giải phóng 1953 - 1954 toàn khu mới có 63.000 con trâu, 28.000 con bò, 5000 ngựa, 137.000 lợn, sau 20 năm phát triển có 140.000 trâu, 43.000 bò, 52.000 ngựa, 313.000 lợn. Hằng năm cung cấp cho miền xuôi: 2000 con trâu, bò cày kéo, trên 2000 tấn trâu bò thịt. Về công nghiệp - thủ công nghiệp: Năm 1955 mới xây dựng được xí nghiệp đầu tiên “cơ khí Thuận Châu” với giá trị sản lượng khoảng 7000đ/năm, (giá 1kg gạo là 3 hào).

Sản xuất công cụ: Từ 1962 phát triển công nghiệp địa phương (điện, cơ khí, vật liệu xây dựng, may mặc, chế biến nông sản…) sản xuất tới trên 40 loại sản phẩm, trị giá 1974 là 25 triệu đồng. 1955 cả khu mới có 1 nhà máy thủy điện 24 KW, chưa có điểm cơ khí nhỏ nào thì sau 20 năm đã có hàng nghìn KW nhiệt điện, 30 trạm thủy điện nhỏ từ 5 50 KW, có 250 điểm cơ khí nhỏ. Giao thông: Đã mở mấy đường ô tô liên tỉnh, xuống tới huyện gần 3000km. Sơn La mở đường lên vùng cao CoMạ, Nghĩa lộ lên Trạm Tấu, Lai Châu lên Mường Tè, xây hàng trăm cầu cống lớn. Đảm bảo cho 1 đầu dân cung cấp hàng năm 6 kg muối; 4 mét vải, 3 kg dầu hỏa.

Giáo dục: Trước 1954: 99% dân mù chữ, chỉ có 25 trường tiểu học với khoảng 750 học sinh. Đến 1974 - 1975 thì đã có 1974 lớp mẫu giáo với 3720 cháu, 2181 lớp vỡ lòng với 49.982 học sinh, 449 trường phổ thông cấp 1 (tiểu học) với 24.989 học sinh, 107 trường cấp 2 (Trung học cơ sở) với 14.461 học sinh và 13 trường PT cấp 3 với 2193 học sinh, có trường dân tộc nội trú (riêng cho con em dân tộc Mèo) có 350 - 400 em theo học từ vỡ lòng đến cấp 2. Y tế: 90% xã có trạm y tế, có 40 bệnh viện và bệnh xá với 2000 giường . Văn hóa văn nghệ được phát triển.

Chính trị: Có 17 đại biểu Quốc hội khóa V (trong đó 13 là dân tộc thiểu số), bộ máy UBHC các cấp: Số cán bộ người daan tộc chiếm 76 - 80% (số cán bộ dân tộc 20 năm tăng từ 865 lên 9575 người, số có trình độ trung học, đại học là 934 người trong số 8722 người), số cán bộ lãnh đạo các cấp từ 375 người (1955) lên 4324 người (1974). Trích báo cáo do ông Lò Văn Hặc Chủ tịch UBHC khu tự trọ Tây Bắc trình bày./.

Bài 39: LUẬT TỤC THÁI

Luật tục Thái là một luật lệ bản Mường thời phong kiến sơ kỳ với uy quyền rất lớn của chúa đất mà cao nhất là An Nha (1 châu) Luật tục Thái phân biệt rạch ròi với 47 loại người và 17 loại tội phạm trong xã hội. Luật tục quan tâm cả các đấng thần linh, môi trường thiên nhiên, nó có ảnh hưởng rất lớn đến thái độ của con người đối với thiên nhiên, trời đất, núi sông, rừng rú. Đây là cơ sở để thi hành công lý, ngăn ngừa tội ác, là đạo lý làm người. Mỗi Mường (Châu) có luật tục riêng. - Phần đạo làm người: là những quy ước ứng xử cá nhân - Phần tục lệ cưới xin - Tang ma………….ví dụ

LUẬT LỆ NGƯỜI THÁI ĐEN Ở THUẬN CHÂU Mở đầu: nói chút về lịch sử người Thái theo Quắm Tố Mướng. 1. Ranh giới đất Mường Muổi: Tục ngữ có câu “Mườnng Muổi rộng phía sông Mã, Mường La rộng phía Sông Đà”. Mường chia ra các Xổng (ngũ), lộng, quen. Châu Mường Muổi có 5 mường Phìa: - Mường Muổi (Chiềng Pha) là mường trong mường, vua kinh gọi là Xuân Mai. Các mường phìa phía ngoài có: *

Mường Lầm phía sông Mã, vua kinh gọi là Nam Trịnh * Mường Sại phía Sông Đà, vua kinh gọi là xã Khinh Khoái. * Mường Piêng (xã Thanh Bình) * Chiềng Pấc (Trịnh Bắc) Mỗi một Mường Phìa chia nhiều bản, nhiều Giáp. Giáp nào ở xa Mường thì gọi là “lộng”, lộng bé thì gọi là Quen.

Mỗi một Mường Phìa chia thành nhiều xổng (vua kinh gọi là Ngũ) người Thái quen gọi là Xổng Ngụ. Mường trong Mường Muổi có 4 xổng ngụ, ngõ Mường phía ngoài có 3 xổng ngụ. 2, Phong cấp bậc hàng châu được xếp đặt theo lệ như sau:

- An Nha là gốc của Bản Mường (Tri Châu) giúp việc có Phìa Thổ (thư lại) phìa thông (thông lại). Mường phìa có Phìa Lý (vua kinh gọi là Lý trưởng); phìa phó (phó lý) 2 phìa này coi trông bản Mường mình. Có 8 chức ông ở Xổng (vua kinh gọi là kỳ mục) từ ông xen (pằn) đến tận ông chá hườn. Có ông mo, ông nghè, ông chang, giúp quản lý luật lệ, cúng tế. 3, Quyề n lợi bổng lộc các quan chức. An Nha ăn 10 mẫu ruộng trong phạm vi bản chiềng đi (chiềng ly), thu “thóc lười” (tô thuế) của dân hàng Châu: mỗi mẫu phải nộp một tạ thóc. Án Nha có 9 bản nhốc (làm dịch vụ)

Thư lại ăn 6 mẫu ruộng Chiềng Đi hưởng 3 bản nhốc. Thông lại ăn 5 mẫu ruộng Chiềng Đi, 3 bản nhốc. Phìa lý (lý trưởng) ăn 5 mẫu ruộng, phó lý ăn 3 mẫu ruộng. Ông xen đứng đầu Xổng Pằn ăn 8 mẫu Ông Pọng đứng đầu Xổng Pọng ăn 6 mẫu Ông Ho Luông đứng đầu Xổng Ho Luông ăn 4 mẫu ruộng Ông Pọng Cang đứng đầu Xổng Phọng Cang ăn 3 mẫu ruộng Ông quan xư (ho cang) ăn 2 mẫu (giúp việc ông Xổng Phọng Caug) Ông Ho Hé ở bản Lăng ăn 2 mẫu giúp việc ông Xổng Pằn. Ông Pụa ở bản Púng ăn 2 mẫu giúp việc ông Xổng Pọng.

Ông Chá hươn ở bản Lẹng ăn 2 mẫu giúp việc ông Xổng Ho Luông. Khi Phìa xức nộp thuế thì ông Xổng phải xức đến quan bản, quan bản bổ xuống đầu dân Mường phải nộp đầy đủ. Khi Phìa xức phu phen xuống đến xổng nào, thì ông Xổng xức Quan bản cắt phiên đi phu từng nhà…ông Xổng dẫn phu nộp cho Phìa Lúc nào An Nha, phìa cần gì thì gọi ông Xổng tới hầu Mỗi xổng có: Quan pách: về tư pháp (ăn 1,5 mẫu) các pách xông chia làm quan các bản

Dưới quan pách mỗi xổng có 2 giúp việc là Quan Phòng Dưới quan phòng mỗi xổng còn có 2 Quan chiềng quản lý việc xây dựng nhà cửa, đốc thuế, mường phai, cúng mường, Quan chiêng ở xổng nào thì do người ở đó làm …vv…

Mỗi bản có quan bản (tạo bản) giúp việc có chá bản, 1 bản có 7-8 mẫu thì quan bản được 3,5-4 sào. Ở Mường Muối ngoài 4 xổng ở trong Mường còn có 5 lộng (Mướng É, Mường Bán, bản Pịn, Muội Nọi, Chiềng Đa) mỗi Lộng có 1 Tạo Lộng. Mỗi Lộng có bản Quen (Ken), do 1 Tạo Quan đứng đầu 4, Lệ xin làm chức dịch: Ai có tên Quảng, tên xự (được Bản mường) đặt cho thì mới được phép xin làm Quan bản, đi từ thấp lên cao, có “tiền xin chức” nộp cho An Nha (tri châu). 5, Về kiện cáo, phạt vạ: Án Nha có quyền phạt vạ thu từ 1,2 nến đến 12 nén bạc Thư lại được phạt vạ từ 1,2 - 6 nén bạc Quan chiềng, quan chá, quan bản được phép An nha (phạt vạ thu 5 đồng cân đến 4,4 lạng bạc). 6, Quy định về phu phen tay dịch 7, Về bắn súng nhầm, làm cháy nhà, do đi săn bắn nhầm chết người, phải góp tang ma:

- Dựng 1 cây “heo” có 20 vải cờ - Mổ 1 con trâu tang lễ - Tiền xuống nước, xuống lửa 3 lạng bạc - Tiền đắp cản nước mắt 1,3 nén bạc Làm cháy nhà mình để lây sang nhà khác bị phạt: 3 lạng, 2 trâu 8, Săn được thú to phải biếu xén: - Đùi to sau biếu An Nha, các phìa - Thịt thăn to biếu ông Xen - Đường thịt thăn trong biếu ông Pọng - Thăn treo biếu ông Ho Luông ..vv… 9, v.v làm cuông nhốc: quy định như sau: Những bản phải làm cuông nhốc trong mường làm theo Luật định, bản ở xa ở xổng nào thì làm cho xổng đó. Các chức dịch phải dẫn dân cuông nhốc bản mỉnh được đi vỡ hoang, làm thủy lợi, lập bản.

Người Xá Khao (Kháng) ở bản nào đều phải là cuông nhốc ở đó. Người Mèo không phải làm cuông nhốc nhưng phải nộp thuế, nộp lợn gà cúng tế ở mường. 10, V.v làm cho người (nữ) bị chửa hoang và chửa trước khi thành vợ: - Án Nha, thư lại thông lại bị tội này cũng bị phạt 12 nén bạc, làm trước (ăn cơm trước kẻng) bị phạt 6 nén. - Con chức dịch (Tạo và nàng) đi chơi bị làm chửa, phạt 6 nén bạc Đàn bà góa nhà Án Nha phìa tạo tội chửa hoang phạt 12 nén bạc. - Ai đó ngoại tình: phạt 12 nén bạc - Làm chửa không chịu lấy (kể cả gái) bị phạt cho cả 2 phía. - Quan chức bị phạt được An Nha giảm ½ số bạc. 11. Xử phạt trộm cắp: - Ăn cắp hoa màu phạt 1,2 nén bạc, nếu là con nhà chức dịch thì bị tăng gấp 2

- Ăn cắp thóc lúa: đền gấp 2, phạt 1,2 nén bạc. - Ăn cắp trâu bắt làm tôi đòi (nô lệ) cho Phìa Tạo, nếu không phải phạt gấp 3 lần (3 trâu) 12. Ngoại tình: - Vợ ngoại tình: nếu chồng bắt được có quyền giết chết, đánh đập kể cả tình nhân, không coi bị án mạng, kiện thì được 12 nén bạc - Đàn ông ngoại tình: bị chồng người ta đánh giết cũng không bị tội, kiện bị phạt 12 nén bạc. 13. Bổng lộc cho các quan trong phòng cúng lễ:

- Ông Mo ở bản Pán hưởng 3 mẫu ruộng, lấy người 2 bản làm nhốc - Ông Nghè ở bản Pán hưởng 1 mẫu ruộng và 1 bản làm nhốc… 14. Đất nước, rừng và cúng lễ: Mường bản chỗ nào mà chẳng có ma (phi) phù hộ: cấm không được vi phạm những nơi sông, núi, ao thiêng… 15. Cúng Mường: tục lệ quy định là: 1/- Xên cha (lễ cúng Mường) là lớn nhất thuộc lệ hàng Châu Mường, tổ chức vào ngày “cúng nhà” cho An Nha… 2/ Xên Mường: lễ có 1 trâu, 1 bò, 5 lợn, 1 chó, 1 vịt, 32 gà + rau quả…lễ ở gian “tạy” của nhà An Nha. 3/, Xên kẻ khó Mường (cúng giải hạn cho Mường): 1 trâu, 3 lợn, 10 gà, 1 chó cúng ở nơi “cửa hồn chiềng” phía “cửa xen” phía trên Mường mé cuối dòng suối. 4/, Cúng hồn chiềng: Cỡ như trên làm ở “cửa hồn chiềng” phía “cửa pọng”.

5/, Cúng tiễn tối tớ ma nhà:…. Dựng lều ở sân nhà An Nha. 6/, Lễ cúng điều lành. 7/, Tế đen trắng: 2 trâu 1đen/1 trắng cúng hồn Mường và họ ngoại Tạo ĂmPoi. 8/, Tế ở cửa suối Muội: Cửa sông Nặm Muội là nơi có khu rừng già nguyên sinh ở Mường Sại. Đó là nơi cụ chủ “Ngu Háu Cầm Lò Lẹt” đã dựng nhà cúng tế tổ họ Tạo - tổ tông người Thái đen: 1 trâu đen. 16. Lễ cúng cho mỗi người, mỗi nhà.

Bài 40: QUAN CHỨC VÀ TRÍ THỨC

Người Thái ở Sơn La, trước 1962 (tái lập tỉnh) coi như chiếm số đông nhất. Thời phong kiến tầng lớp quý tộc, thầy mo đều được học hành, có chữ nghĩa…nên Phìa Tạo và con em họ thường vừa là chức sắc (hay sẽ làm chức sắc) vừa là trí thức ở địa phương. Thời Lê Trịnh, triều đình đặt chức “phụ đạo” để cái quản các Châu Mường. - Châu Phù Hoa (Phù Yên): Phụ đạo là Cầm Nhân Đôi, sau con là Cầm Nhân Cai kế tập. - Châu Mộc; phụ đạo là Xa Văn Phấn (tổ tiên là Xa Khả Tham, làm quan Đại tư mã hồi đầu nhà Lê). - Châu Mai: Phụ đạo là Hà Công Ứng, sau con là Hà Công Bình kế tập. - Châu Mai Sơn: Phụ đạo Cầm Nhâm Tuần - Châu Sơn La: Phụ đạo Cầm Nhân Mang. - Châu Thuân: Phụ đạo là Bạc Cầm Chính. - Châu Quỳnh Mai: Phụ đạo là Điêu Chính Thiêm. - Thời xã hội chủ nghĩa (sau 1955…) về tri thức ở Sơn La nổi bật có 1/ - Gia đình nhà thơ Cầm Biêu vốn là thầy giáo, sau làm trưởng ty văn hóa, em trai là Phó giáo sư - Tiến sỹ Cầm Cường, giảng viên Đại học tổng hợp Hà Nội, ông có nhiều công trình giá trị về Dân tộc học.

Em trai là: Đạo diễn nổi tiếng Cầm Kỷ với các film “Chom và Sa”, “Trở về Xam Sao”. Con trai là Tiến sĩ ngành ngân hàng Cầm Kiên, phó giám đốc Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam. 2/ - Nhà dân tộc học Cầm Trọng: với tác phẩm nổi tiếng “Người Thái ở Tây bắc Việt Nam” và nhiều tác phẩm khác. 3/ - Hoàng Nó (Cầm Văn Lượng) - nhà giáo nhà thơ - làm tới chức Bí thư tỉnh ủy Sơn La, ủy viên trung ương Đảng CSVN. 4/ - Cầm Ngoan: Phó chủ tịch khu, chủ tịch UBHC Nghĩa Lộ, Sơn La, phó chủ tịch Quốc Hội. 5/ - Cầm Liên (Cầm Văn Yêu) - Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La 6/ - Nhà văn Sa Phong Ba (Sa Viết Sọi) sinh 1948, Thái ở Cao Đa (Bắc Yên) Hội Viên Hội nhà văn Việt Nam, có nhiều truyện ngắn đặc sắc.

7/ - Điêu Chính Ngâu, Thái trắng Quỳnh Nhai, dịch đầu tiên ra tiếng phổ thông “Sống chụ son sao” (Tiễn dặn người yêu). 8/ - Nhà thơ Cầm Hùng (1945) quê Chiềng Xôm (Thị xã Sơn La) thượng tá, chủ tịch Hội văn học nghệ thuật tỉnh Sơn La. 9/ - Nhà nghiên cứu văn nghệ dân gian Hoàng Trần Nghịch (1934) quê Sông Mã, đại học, có nhiều tác phẩm sưu tầm, nghiên cứu dịch thuật. 10/ - Nhà thơ Lò Vũ Vân (1943) Thái, Noong Đa (Bắc Yên). 11/ - Họa sĩ Lò An Quang (Bản Cọ, TX) 12/ - Nhạc sĩ Cầm Bích 13/ - Nhạc sĩ Cầm Minh Thuận (1944) Phù Yên, có “giao hưởng bài ca Tây Bắc” “Liên khúc tiễn dặn người yêu”.

14/ - Nhà thơ Vương Trung (Lường Vương Trung) Mường É, Thuận Châu - 1938 - Hội viên hội nhà văn VN. Tác phẩm: Ing Éng (thơ), Mối tình Mường Sinh (tiểu thuyết), dịch Táy Pú Xấc, Chương Han. 15/ - Nhà thơ Lò Văn Cậy (1928-1994) quê Sốp Cộp (Sông Mã) Hội viên hội nhà văn Việt Nam. Có tuyển tập thơ Lò Văn Cậy. 16/ - Nhà thơ Lò Văn E (1933-1995) quê Sốp Cộp. 17/ - Phó giáo sư - Tiến sĩ Hoàng Lương (1944) Thái Phù Yên, chủ nhiệm bộ môn Dân tộc học, khoa sử Đại học Quốc gia có nhiều công trình về dân tộc học.

18/ - Nghệ sĩ ưu tú Vi Hoa (nữ, hát) 19/ - Phát thanh viên VTV1 Cà Kỳ Vọng (Người bản Phiêng Ngùa). Đặc điểm: Các quan chức ở Sơn La xưa và nay đứng đầu bản Mường, xã, huyện, tỉnh thường là trí thức người bản địa (Thái, Mèo), có uy tín với nhân dân, có năng lực quản lý (cai trị) có tín nhiệm với trung ương. Từ sau khi tái lập tỉnh các vị như Hoàng Nó (Bí thư tỉnh ủy), Cầm Liên (chủ tịch UBND tỉnh), Cần Ngoan (Chủ tịch UBND tỉnh Kiêm phó chủ tịch Quốc hội), Thào Xuân Sùng (HMông, Bí thư tỉnh ủy), Tòng Thị Phóng (Bí thư tỉnh ủy rồi là ủy viên Bộ chính trị, phó chủ tịch Quốc hội), Lù Văn Que (phó chủ tịch UBND tỉnh, thứ trưởng UB dân tộc của chính phủ); các tướng như Lò Văn Nhài, Cầm Xuân Ế…, các anh hùng liệt sỹ như Lò Văn Giá, Chu Văn Thịnh là những tấm gương tiêu biểu, niềm tự hào của nhân dân các dân tộc Sơn La qua 2 cuộc kháng chiến và xây dựng quê hương ngày một giàu đẹp.



Bài 41 TANG LỄ THÁI

Nghi thức chung: nhà nào có người mất, báo Trưởng tộc đến chủ trì, chọn 1 nhóm dâu rể đến túc trực - rồi phát tang. Chết, rất kiêng kỹ ngày “mão” đó là ngày con Ong, ngày vất vả - nếu chết vào ngày này là phải đắp chiếu coi như còn sống (Kiểu ở xuôi để cưới chạy tang) chờ hôm sau mới coi là “chết”.

Ngoài ra còn kỵ ngày Hợi, phải đợi giờ Dần làm giờ chết để trị các loại ma (phí). Sau khi tắt thở: con cháu vuốt mắt, tắm nước lá thơm, thay quần áo mới nhất rồi khâu vài đồng bạc trắng vào cổ áo (khót ngân khót có sửa) và vào 2 mông quần, khâu phía đầu mảnh vải căng trên cây nêu (co cao) ngoài mộ.

Cây nêu làm bằng cây tre cao 5-7 mét dựng hướng về Nậm toóc tát (thác đầu nguồn) có cành ngang để treo áo người quá cố (đàn ông áo đỏ, đàn bà áo dài) trên dọc cây nêu có dải vải màu trắng và đen ở giữa có mảng thổ cẩm, đối với người già, dải vải dài 7 xải, tuổi trung niên 3 sải rộng 1 gang tay, đó là cờ ma (mạng lỉu heo). Trên cây cao buộc con ngựa gỗ “ngày về trời theo cánh ngựa bay”, hướng về đầu thác nước để hồn có ngựa cưỡi bay về trời. Bên cạnh cây nêu buộc 1 máng nứa có thóc có cỏ cho ngựa (gỗ) ăn.

Riêng hồn người thì không phải đem theo thức ăn vì đã có ông thầy Mo cúng bái “làm tang” (dẫn nhập hồn vào Mường ma) “Pết cáy Xam háp bung, Xam háp khẩu nặm pay toi” (gà vịt 3 gánh, cơm nước 3 gánh đem theo nồi). Cây nêu bên mộ sau 1 tháng tự đổ là điềm tốt nghĩa là hồn đã về trời (người kinh là sau 49 ngày cúng cơm) chưa đổ là gở với gia chủ, nên do đó khi chon cây nêu phải chọn người biết làm, gần gũi với tang chủ. Khi khâm niệm (cộn pang) phải có 2 mảnh thổ cẩm lót dọc 2 sườn xác - quần áo buộc dọc xác và có dây buộc hộ tro hỏa táng (sai chaư).

Mỗi con đẻ có 1 bộ quần áo để vào cái “sa” đặt bên quan tài, con dâu thì mỗi người 1 dải vải trắng vắt buông phía trên quan tài, con trai được đứng trước ngực người quá cố, con gái ngồi ngang thân quan tài, con dâu đội khăn chóp trắng, áo đen dài, khẩu vải thổ cẩm đỏ vào tà áo ngồi phục bên cửa vào của nhà sàn.

Không được đến gần nơi quan thi hài. Khách viếng, con dâu ngồi phục cảm ơn tiễn khách, cơm trưa và chiều cúng thủ lợn, 4 chân, tim gan, rể phải đưa cỗ vào cúng bố mẹ vợ, không có thì cháu rể thay, cỗ có 3 mâm, mâm gạo và hoa quả, mâm vịt luộc, mâm lợn luộc: mỗi mâm có 4 chén nước, 6 chén rượu và 50 xải vải trắng gấp gọn đặt trên 1 thang tre, con rể cả khấn “ông, bà đi, chúng tôi con cháu đã lo được mâm cỗ, xin nhà ngoại nhận cho”.

Sau đó trải tấm vải trắng lên quan tài, trên đó có những miếng vải nhỏ như đuôi cá viết chữ Thái kể công đức người quá cố, cầu mong ông (bà) phù hộ. Xong xuôi bên rể nâng vải lên đầu làm cẩu cho hồn đi qua tới khi ông mo đọc hết bài cúng. Sau khi viếng, cúng…đem thi hài đi hỏa tang. Xác được bó vải đặt trên 1 cái kiệu tre khiêng ra gò đất cao cạnh Paheo (nghĩa địa - rừng ma) chất củi xung quanh đổ thêm dầu hỏa rồi châm lửa đốt, tro xương cho vào 1 chum nhỏ đem chon vào huyệt mộ… Tục ngữ có câu “cốc cồ lộn báư bên/ vên tai báư hụ” (không tự nhìn thấy gáy mình/ ngày chết không ai biết trước), sinh có hẹn, tử bất kỳ là vậy!

Bài 42 CỔ TÍCH

1, Tháp Mường Và: ở Sốp Cộp (huyện mới tách từ huyện Sông Mã, là Tháp của dân tộc Lào). 2, Đền thờ vua Lê Thái Tông (1423-1442) và văn bia Quế lâm ngự chế. Là vua trẻ anh minh, vua đã 2 lần thân chinh lên Sơn La dẹp loạn phản nghịch. Vào tháng 3 năm canh thân 1440 và 1441 trên vách đá (núi) nhìn xuống cánh đồng Chiềng An có khắc 1 bài thơ chữ Hán “Quế Lâm Ngự Chế” nhằm khẳng định sự toàn vẹn lãnh thổ và mong thiên hạ thái bình. Trải qua 500 năm chữ khắc vào đá còn rõ nét ở cửa Động La.

Đền thơ vua Lê Thái Tông mang dáng dấp đền cổ Việt Nam (khởi công 9/2001, khánh thành 22/1/2003) để ghi công đức vua và là nguyện vọng chính đáng của nhân dân Thành phố Sơn La hôm nay ở tổ 2, phường Chiềng Lề. Theo Đại Việt sử ký toàn thư thì 2 năm 1440 và 1441 vua Lê Thái Tông đi đánh tên phản nghịch Nghiễm ở Châu Thuận Ma, đem quân theo người Ai Lao (Lào) làm phản. Vua thân chinh điều khiển 6 quân tới trị nó. Thượng Nghiễm kế cùng lực tận, dâng voi xin hàng.

Ta thương nó quỳ bò không mang vũ khí, không nỡ chém, bàn tha tội cho nó, rồi đem quân trở về, để lại bài thơ khắc trên vách hang Thẳm báo kế: Nghĩ đến người xa đêm khổ tâm, Thổ tù sao lại dám quên thân Thế gian đã có anh hùng chúa, Thiên hạ ai tha kẻ nghịch thần…

Đường xá khó khăn đừng cậy hiểm, Hang cùng đá ấm áp hơi xuân Yên được dân lành nhơ nhớp hết, Dân xa được hưởng tấm lòng nhân. (Năm đầu niên hiệu Đại Bảo) Canh thân 1440. Nguyên văn chữ Hán là: Bộ chẩm lưu tâm niệm viễn chân, Man tù hà sự tốc vong thân. Thế gian nhược hữu anh hùng chủ, Thiên hạ thùy dung phản nghịch thần. Ồ đạo duyên vân không thị hiềm, Âm nhai rương noãn kỷ diên xuân. Cách trừ ô nhiễm an dân thiện Nhẫn sử hà mạnh ngoại chí nhân.

3, Di tích nhà tù Sơn La trên đồi Khau Cả (Thành phố Sơn La): Pháp xây dựng năm 1908, giai đoạn 1930 - 1945 chúng giam cầm đày ải 1007 lượt chiến sĩ cách mạng Việt Nam với các tên tuổi lớn như các ông Lê Duẩn, Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Trần Huy Liệu, Lê Thanh Nghị, Song Hào, Văn Tiến Dũng, Nguyễn Cơ Thạch, Mai Chí Thọ, Trần Quốc Hoàn, Hoàng Tùng, Tô Hiệu. 4, Nghĩa trang liệt sỹ Tô Hiệu và các liệt sỹ hi sinh ở nhà tù Sơn La, ở thân đèo Khau Cả phía quốc lộ 6 lên Thuận Châu (Xem thơ “Qua thăm gốc ổi” của Trần Huy Liêu).

5, Sân bay Nà Sản: Tháng 10/1952 quân đội ta bao vây tấn công đợt 3 vào Nà sản…đã làm quân Pháp mở ra bài học để Đại tướng Henrie Navare hi vọng sử dụng căn cứ mạnh, có yểm hộ của máy bay và lấy mẫu từ 1 căn cứ ở Miến Điện của quân Anh để xây dựng cứ điểm Điện Biên Phủ “dụ” tướng Giáp lên quyết chiến…(căn cứ Nà Sản là để ngăn quân ta tiến công quân Pháp ở Lào). Ngày 9 - 8 - 1953 quân Pháp rút khỏi Nà sản bằng không vận sau 1 thời gian cầm cự.

6, Ngã ba Cò Nòi: 1 địa danh đã đi vào trang sử vàng chói lọi của TNXPVN, nơi có đài tưởng niệm 100 chiến sĩ TNXP hi sinh, tại đây để phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. 7, Di tích cách mạng Lào ở bản Lao Khô, Xã Phiêng Khoài, huyện Yên Châu.

Bài 43. ĐÈO PHA ĐIN

Nơi trời ghé xuống hôn mặt đất Núi vồng lên ôm ấp mây trời Cứ như thể ta bay vào bát ngát Giữa đất trời hạnh phúc sóng đôi (NK)- Tên đèo Phạ là trời, Địa là đất, hàm nghĩa đây là nơi tiếp giáp giữa đất và trời trên QL 6 từ Thuận Châu Sơn La đi Tuần Giáo (Lai Châu) ở cây số 360 - 392, đèo dài 32 km, điểm cao nhất 1648 mét, nơi có cột truyền hình nặng 70 tấn, chịu sức gió 200km/h; dốc đèo 10% - 19%.



Ở chiến dịch Điện Biên Phủ đoạn đường trên đèo Pha Đin phía ta có 8000 thanh niên xung phong “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, suốt 48 ngày đêm máy bay Pháp dội bom chặn đường lên của quân ta. Từ năm 2006 - 2009 sửa Quốc lộ 6, đèo cũ được bỏ (tránh), làm đường mới ở độ cao thấp hơn phía trái Quốc lộ 6 cũ, cao khoảng 1000m (thấp hơn cũ 200 - 400m) xe cộ đi lại dẽ dàng. Đèo Pha Đin có thể coi là thắng cảnh “đệ nhất hùng quan” của Sơn La - Tây Bắc nắng gió, sương mù, mây ngợp luôn, mát lạnh, thanh sạch như 1 cõi thần tiên khi ta lên tới đỉch. 10/3/2012.

Bài 44: SUỐI, MÓ NƯỚC NÓNG



1, Suối nước nóng Bản Mòng (Thành phố Sơn La) cách trung tâm thành phố 6 km về phía Tây Nam có suối nước nóng bản Mòng, nhiệt độ là 38oc nhiều chất khoáng tốt cho điều trị khớp, thần kinh… 2, Suối nước nóng Ngọc Chiến ở độ cao 1800m/s mặt biển, nơi cư trú 3 dân tộc: Thái trắng, Hmông, LaHa nơi nhiều Táo mèo (Sơn tra). Có mỏ nước nóng chảy qua bản Lướt, tắm gội đẹp da. 3, Mỏ nước thần ở bản Miềng, xã Mường Lèo, rất ấm từ núi chảy ra, tắm chữa bệnh. 4, Chỗ bản Ít tong (huyện lỵ Mường La) cũng có 1 khúc suối nước nóng, mùa đông bốc hơi nghi ngút, nóng gần 50o đượm mùi khoáng: tắm, uống đều thấy khỏe hẳn ra.

Bài 45 LỄ HỘI LUNG TA


Người Thái trắng (Quỳnh Nhài và các noi) thường thì vào chiều 30 tết âm lịch…coi như thời điểm chuyển giao từ năm cũ sang năm mới. Mọi nhà chuẩn bị tết, còn cá nhân thì tắm gội mặc quần áo mới, tiếng chiêng trống vang lên đón tết…mọi người trong bản ra suối, sông thăm gia “lễ gội đầu”, coi đây là lễ hội mở đầu cho 1 năm mới, đó là để rửa trôi đi những cái vất vả, bệnh tật, những điều không may mắn của năm cũ, tống tiễn tai ương theo dòng nước đi mãi không lặp lại…đồng thời cho con người sức khỏe, năm mới tốt lành, gặp điều hay, làm ăn phát đạt.

Để chuẩn bị cho lễ hội gội đầu trước đó cả tuần chị em đã vo gạo nếp lấy nước, đổ vào cái nồi cất giữ để cho càng lên mùi chua càng tốt. Đó là nước gội cho phụ nữ. Nồi nước tắm là nồi nước thơm của cây mùi già. Còn cánh đàn ông gội nước bồ kết nướng ai nấy áo cóm, váy đẹp cùng chiêng trống kéo ra bờ suối, bờ sông. Chị em cởi trần, kéo cạp váy lên phía trên ngực che vú, cúi đầu buông tóc tiến hành gội từ nước gạo nếp chua, nước lá thơm, nồi xõa theo dòng nước…

Đàn ông thì quần cộc, cởi trần gội,…Ngoài ra cánh đàn ông còn mang súng kíp ra bờ sông bắn nổ to vài phát tiễn năm cũ đón năm mới hòa trong tiếng chiêng trống ấm vui của cả bản. Gốc gác sự tích của “lễ hội Lung ta” (lễ hội gội đầu) là trong buổi lễ: Ông Mo còn hát kể về công lao của nữ tướng Nàng Han xưa (con gái 1 Tạo Mường) cầm quân đánh tan giặc ngoại xâm, đuổi chúng tới tận cõi Mường Xo (Phong Thổ - Lai Châu)…Dẹp xong giặc; cho quân sỹ nghỉ ngơi, tắm gội trên dòng Nậm Te (Sông Đà) để ăn mừng chiến thắng…vì thế người Thái Trắng vùng Sông Đà đến nay vẫn còn lưu lại phong tục này - đó là lễ hội lung ta (xuống bến nước làm lễ gội đầu) vừa là tẩy trần sạch sẽ vừa là để tưởng nhớ vị anh hùng dân tộc…

Bài 46 DU LỊCH MỘC CHÂU



Cao nguyên Mộc Châu ở độ cao 1050m so với mặt biển, cách Hà Nội gần 194 km (quốc lộ 6), rộng khoảng 25 km, dài 80 km với 16000 ha đồng cỏ, mùa hè mát mẻ (20oc) mùa đông rét đậm, khô ráo, mù sương… Đây là vùng lý tưởng để nuôi bò sữa (toàn vùng đã nuôi 7200 con, công ty hò sữa Mộc Châu có 3514 con, đạt sản lượng 3200 tấn sữa tươi/năm, toàn vùng trên 7000 con đạt trên 28.000 tấn/năm, năng suất 20,5kg/con/ngày). Đây là những đồi chè nối tiếp nhau bát ngát, ta cứ ngỡ tới vùng chè Cameron Highland ở Malaysia?

Từ thị trấn nông trường, tới Tân Lập, Cờ đỏ đi vào Ngũ động bản Ôn là những sóng đồi chè xanh tươi…toàn vùng có tới 3200 ha chè (toàn Sơn La khoảng trên 4000ha) đó là chè Phiêng Khoài (Yên Châu), chè Nà Sản, Phiêng Cầm (Mai Sơn), chè Phòng Lái, chiềng pha (Thuận Châu), chè Tà Xùa (Bắc Yên); ở Mộc Châu có 6 công ty - nhà máy chè…trồng và chế biến các loại chè San Tuyết, trà Ô Long, trà Kim Tuyên…tổng số trên 3000 ha các loại, trong đó hơn 2700 ha đạt năng suất cao 74,1 tạ/ha. Mộc Châu đang là nơi du lịch lý tưởng của người Hà Nội đến với vùng khí hậu ôn đới gần nhất: 194 km, đi ô tô mất 3 giờ đồng hồ. Đó là các điểm: - Đông Sơn Mộc Hương, nằm ngay trung tâm thị trấn nông trường với diện tích 6915 mét vuông, từ quốc lộ 6 đi vào có 150 mét, qua 240 bậc tới cửa hang, di tích người xưa 3000 - 3500 năm.

- Thác Dải Yếm (thác Nàng) thuộc bản Vắt, khởi nguồn từ 2 khe nước Bó co lắm và Bó tá cháu chảy ra thành suối Vắt, qua 5 km hòa vào suối Bó Sập giáp biên giới Việt Lào chảy về phía Yên Châu tạo ra thác dải yếm mùa mưa, thác rộng 70m. - Rừng thác sải yếm đi ngược quốc lộ 43, khoảng 600 m rẽ sang 1 hẻm đi 300m là vào bản Vặt (Thái) khá phát triển nghề dệt Thổ Cẩm - ở đây có lễ hội xe chá, ẩm thực trên hồ Noong Buông.

- Thắng cảnh đỉnh núi Phiêng Luông cao 1500m (ngang Tam Đảo) trên đỉnh là 1 bãi bằng sông cỡ 10 ha tha hồ hóng gió trông mây vùng biên giới Việt Lào. - Ngoài ra còn tham quan rừng thông Mộc Châu, thác Thái Hưng, chùa Chiền Viên. Mùa xuân đẹp nào hơn vườn đào Lõng luông, hoa mơ hoa mận ở vùng Mèo Vân Hồ?

- Ẩm thực: Các cửa hàng ở thị trấn có các món “lợn cắp nách” “đặc sản gà dai” lẩu dê nấu ngải cứu - các món nướng Thái, Lẩu xá, cơm lam, xôi thơm…. Có thể nói Mộc Châu - miền xanh thẳm cao vời vợi lưng trời, 1 viên ngọc bích ở địa đầu miền Tây Bắc của Tổ Quốc đó là vùng nông thôn miền núi ngàn đời hoang sơ dân dã đang công nghiệp hiện đại hóa ở 1 trình độ cao…đến đây để ta vừa hoài niệm bâng khuâng, vừa hứng khởi trông về tương lai tươi sáng và tràn trề hi vọng….

Bài 47 NGƯỜI BẮN HỔ

Tháng 6/1963, vào huyện Sông Mã (vùng biên giới Việt Lào) và tôi được các anh ở đây kể câu chuyện “anh Sáng bắn Hổ”.


Số là hồi 1952 - 1953, vùng này là hậu địch, Việt Minh ta mới xây dựng được khu căn cứ nhỏ với 1 đội du kích tuyên truyền vũ trang…anh em phải ở lán trong rừng, luôn di chuyển để tránh địch, ăn thì nhờ lấy trộm gạo ở mả mấy người mới chết ngoài Paheo (rừng ma), đào củ mài, hái rau rừng đợ bữa qua ngày.

Trong đội có anh Lò Văn Sáng vác súng kíp vào rừng tìm con don, con dím, con lợn rừng…Thế là vào 1 đêm anh đến phục sau gốc cây bên bờ hồ, chờ lũ lợn về uống nước, khoảng 10 - 11 giờ khuya, đám lợn vài con ủn ỉn đổ về ao (hồ), 1 ông ba mươi (hổ) to đùng, cỡ con bò tháu cũng khẽ khàng bước ra “rình” vồ chú lợn choai (chắc mẩn, 1 bữa ngon), gốc cây anh Sáng nằm phục cách hổ độ 7 mét…

Đúng lúc Hổ vồ lợn thì anh Sáng cũng bất thần nổ súng…một phát xuyên táo chết tươi 2 chú Hổ và lợn. Thật là hi hữu “trời cho” may và tài, bình tĩnh chớp thời cơ… Thế là 1 tiếng “hú” đồng đội anh chay ra: người vác lợn, người khiêng hổ về căn cứ được 1 phen liên hoan xả láng… Tiếng lành đồn xa “anh Lò Văn Sáng người bắn hổ” làm vang danh tiếng tăm đội du kích, làm bọn Pháp và tay sai hết hồn mỗi khi quân ta tập kích đánh giặc trừ gian…cho đến ngày giải phóng.

Sau này, anh Sáng tham gia công tác thoát ly, hồi 1962 - 1963…anh Sáng đã trở thành Bác Lò Văn Sáng, chủ tịch ủy ban hành chính huyện Sông Mã: 1 vị chủ tịch râu tóc bạc phơ, cao ráo, cường tráng (đẹp lão) thông minh tháo vát, ung dung thư thái dẫn dắt (lãnh đạo) nông dân huyện sông Mã cùng cả nước tiến lên xã hội chủ nghĩa.

Bài 48 CÂU CHUYỆN SĂN VOI



Tháng 8/1983, sau khi đi họp Quốc hội kỳ giữa năm (tháng 6, về…bác Cầm Ngoan, chủ tịch UBND tỉnh Sơn La, phó chủ tịch Quốc hội) goi tôi (NK) ra thì thầm: anh sang bảo anh Thường (trưởng ty lâm nghiệp) 2 anh em vào sông Mã chỉ huy trạm kiểm lâm cùng đồn biên phòng đi săn lấy 1 con voi rừng để đón chủ tịch Trường Chinh sắp tới (vào dịp 2/9 lên thăm tỉnh). (1) Thế là NK tôi cùng anh Nguyễn Xuân Thường (khoảng 52 tuổi hơn NK 7 tuổi, người Mường ở Yên Lập - Phú Thọ sang công tác hậu địch xa nhà từ hồi 1950, hồi 1963 làm bí thư kiêm phó chủ tịch huyện Sông Mã, Bác Lò Văn Sáng làm chủ tịch) lên 1 xe u oát, cùng khoảng 5 kg Keo Mậu dịch quốc doanh đem theo để làm quà cho bọn trẻ các nhà thân quen (chẳng biết có đứa nào là “con gửi” của bí thư huyện ủy cũ hay không, có trời mới biết?). Đường dài 120km, qua 7 khúc suối (1 xe đi trên lòng suối), mất trên 10 tiếng đồng hồ thì tới Bản Địa bên này bờ sông Mã, vào ở nhà chủ tịch xã Nà Nghịu, cũng là trung tâm thị trấn huyện Ly.

Điện thoại réo Hạt trưởng kiểm lâm (quân của trưởng ty lâm nghiệp) và thượng úy đồn trưởng biên phòng về nhận lệnh… Xong, cả tối 2 anh em cùng chủ tịch xã, mới thêm cả phó chủ tịch huyện phụ trách nông nghiệp: 4 anh em, 2 con vịt, ít cá sông, 1 hũ rượu cần, 1 chai lẩu xiêu “hảo hán nớ” - au hảnh nớ…cạn chén bõ bao ngày xa cách (hồi tháng 6/1963, NK Tôi cách đấy 20 năm, hồi mới ra trường, xung phong vào Sông Mã làm quân anh Thường xuống chỉ đạo sản xuất ở xã Nà Nghịu…nên cả 2 anh em đều là người cũ, bạn cũ xa lâu mới về… cuộc Kin lẩu (cuộc rượu) tới khoảng 11giờ đêm thì có tiếng vó ngựa lộc cộc của hạt trưởng kiểm lâm chạy về:

Báo cáo 2 anh đã trông thấy voi. - Ừ thế thì tốt, ngồi xuống, ta au hảnh (cạn chén) vài choác để lấy khí thế… Chiều tối hôm sau, mấy anh em đang ngồi hàn huyên trao đổi xây dựng vùng cánh kiến Sông Mã, xử lý vấn đề sấy Long Nhãn của bà con khai hoang Hưng Yên nên như thế nào?... thì có tiếng xe đạp (hồi này chưa có xe máy) của thượng úy trưởng đồn biên phòng chạy về báo cáo: -

Thưa 2 anh, bọn chúng em phối hợp với kiểm lâm đã tiếp cận voi, con này voi đực, ngà còn nhỏ, cỡ 7 - 8 tạ… - Được, cứ thế mà triển khai… Sáng hôm sau: Hạt trưởng kiểm lâm cùng phó chủ tịch huyện đến: - Báo cáo 2 anh em, nếu bắn được voi bọn em dự kiến ăn chia như sau: 2 đùi sau, lá gan, vòi và ngà xin gửi 2 anh về biếu tỉnh - còn lại: một ít huyện ủy, 1 ít ủy ban, còn lại chia đều đầu người ở hạt kiểm lâm và đồn biên phòng.

- Thế cũng được; các cậu xuống tận nơi xem anh em chúng nó “săn” thế nào, phải chắc ăn đấy… Chờ 2 ngày, bặt tin Đến ngày chờ thứ 3 thì cả 2 hạt trưởng và trưởng đồn hớt hải chạy về: - Báo cáo 2 anh, voi nó đánh hơi thấy không lành, nó sợ, chạy về Lào (bên kia biên giới) mất rồi…

Ôi, thế là cụt vòi, thế là hết chiều ni voi đi mãi… Thật là vô vọng - 2 anh em (NK tôi và anh Nguyễn Xuân Thường) không ai nói với ai câu gì, chia tay huyện còn dặn với 2 chú em: - Các cậu cứ tiếp tục theo dõi bám sát trận địa, phát hiện thấy voi thì “điện” ngay ra tỉnh…

Bữa tiệc chiêu đãi chủ tịch Trường chinh lên thăm cán bộ, nhân dân tỉnh Sơn La năm ấy diễn ra bình thường, Chủ tịch tuổi đã cao, ăn kiêng, không uống rượu, tính cụ vốn là tiết kiệm (ăn uống đơn giản như Bác Hồ) nên các vị quan chức đầu tỉnh bữa ấy cũng không dám “hảo hán nớ” - “au hảnh nớ”… Và chú voi (săn hụt) chắc là đang quay vòi vung vít như nhắn sang bên của biên giới:
- Vua chúa bây giờ có ý thức bảo vê động vật hiếm quý, không ai được ăn thịt voi đâu nhé. Chuyện thật như đùa vậy! Hà Nội, 11 - 3 - 2012 NK (1)Lúc này NK đang làm Thư ký Đ/c chủ tịch tỉnh


Bài 49 XÒE THÁI


Múa xòe, còn có tên “xòe khăm khen” (múa cầm tay), có từ xưa có 32 điệu, nổi tiếng nhất là xòe phong Thổ, xòe Mường Lò. Phổ cập là điệu “khắm khen” mọi người nắm tay nhau quay vòng tròn, biểu hiện cho tình đoàn kết; điệu “khắm khăm mới lẩu” tức là nâng khăm mời rượu tỏ lòng yêu quý và mến khách; điệu “đổn hôn” tức tiến, lùi nhào về phía trước ý nói trời đất dù có bão giông, sống gió nhưng tình cảm con người với nhau thì luôn gắn chặt; Điệu “phá xí” tức bỏ bốn, tượng trưng cho 4 phương trời đoàn kết giao lưu; điệu “nhôm khăn” tức tung khăn thể hiện niềm vui mừng mùa màng thắng lợi, xây nhà mới, sinh thêm con cháu, cưới xin… Ở vùng Mộc Châu - Mai Châu (Tày Đeng) có các điệu xòe chá, xòe ồng bổng, xòe kiếm, xòe đánh máng…

Xòe ông Bổng là 1 điệu múa xưa, động tác đơn giản, mọi người cầm tay nhau nhảy nhót xung quanh đống lửa theo nhịp “hò huậy, hò huây” mừng thắng lợi giòn giã sau cuộc đi săn về hoặc xung quanh vò rượu cần mừng nhà mới. Đặc điểm xòe này: trang phục bình thường chỉ có đàn ông xòe, “nhạc” miệng là tự hô, cổ vũ người xem, vui nhộn phóng khoáng.

Điệu xòe “đánh máng” dành cho nữ giới, cứ 3 cặp mỗi cặp dùng 2 chày gỗ gõ vào máng dùng để giã gạo, tạo ra tiếng chày giòn chắc, nhịp điệu mỗi lúc 1 mạnh…cùng trống chiêng rộn rã. Các điệu xòe (xe) được các nghệ nhân dân gian xây dựng (32 điệu) luôn mang bóng dáng gần gũi với dân bản như “xe cúp” (múa nón), xe tẳng chai (múa chai), xe kếp phắc (hái rau), xe cáp (múa sạp)… Các điệu xòe vòng sôi nổi bao nhiêu thì các điệu xòe đơn, xòe tốp lại tinh tế duyên dáng bấy nhiêu - với triết lý âm dương: trời đất, nước - lửa và ý nghĩa nhân sinh cao cả ẩn chứa kỳ ảo trong các điệu xòe Thái từ xưa tới nay trong các cuộc vui liên hoan, lễ hội.

Bài 50 NHẠC KHÍ THÁI

Từ xưa người Thái đã làm “Pí” (sáo) để thổi chơi, gửi gắm nỗi niềm qua nốt nhạc tiếng sáo giữa núi rừng mênh mông đèo heo hút, là công cụ để “pay ỉn sao” nói tiếng lòng vào con tim người mà mình theo đuổi… 1, Pí tam lay (pí nốc ống) cấu trúc gồm 2 phần: phần 1 là ống phát âm nối với ống 2 làn phần khuếch thanh, ống 2 đôi khi được lắp thêm 1 gáo tre (to) để tăng độ vang của âm thanh. 2, Pí lào nọi (sáo lào nhỏ): y hệt phần 1 của pí tam lay, bằng cây nứa tép, tuy khác là 1 hàng âm 6 lỗ. Xuất xứ: từ “pí” (sáo) có lẽ từ “pép” hoặc pép phan (pép hoẵng) do tục đi săn hoẵng (từ pép đẻ ra pí cùng đồng âm). Trong đêm khuya ở rừng vẳng lên tiếng Hoẵng kêu (Hoẵng giác) đó là lúc con đực đi tìm con cái để bắt chước tiếng Hoẵng gọi bạn tình phải chăng vậy “pí” chỉ là 1 ống nứa tép mà véo von mà “bếp nhà sàn, tiếng pí thổi say mê” là thế? Ngoài sáo còn có KHÈN…

Bài 51 THƠ CA THÁI




Xứ Thái, có thể nói là xứ sở của hát thơ (khắp xư).

Vốn thơ ca cổ truyền từ các tập biên niên sử “Quắm tố mướng” hoặc sử thi “Tày pú xấc” cho đến các truyện thơ tình như Sống chụ son sao, Khun lú, Náng Ủa, Tản chụ xiết xương, sử thi chương Han….với các bài thơ, ca dao đều được dùng để “khắp” (hát)…. Bước đầu đã có làn điệu “lòng bản” và cách hát riêng cho mỗi loại bài thơ, xét theo hình thái sinh hoạt âm nhạc phân ra làm 2 hệ - theo Dương Đình Minh Sơn thì: - Hệ tín ngưỡng “hát thơ mo” do giới mo then hát khi cúng tế lễ.

- Hệ dân gian: hát kể chuyện tự sự, hát thơ tình, hát ví, hát hò trên sông, hát ru, hát đồng dao……vv…. Ở người Thái 2 chữ “thơ ca” quả là đầy đủ và ý nghĩa “Thơ để giải bầy nỗi lòng, ca (hát) để ngâm vài lời thơ gửi đến những cõi lòng ai đó”.

Thơ Thái là 1 thứ “kinh thi” bản địa, hồn quê hòa đồng với thiên nhiên trời đất. Thơ dân gian Thái có 1 khối lượng đồ sộ với các truyện thơ, sử thi như đã nói ở trên đã trở thành các tác phẩm thơ cổ điển nổi tiếng. Thơ đương đại của các tác giả Thái Sơn La (thời cách mạng xã hội chủ nghĩa) thường dùng lời thơ để hát (khắp xư) nói lên chí khí vươn lên của dân tộc mình, làm chủ bản Mường, cùng nhau đoàn kết các dân tộc anh em dưới sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng Đất nước ngày 1 giàu mạnh - xin dẫn 1 số bài mới:

HÀO QUANG KHẨU CẢ (tác giả tự dịch) Từ xa xưa ông cha đặt tên Khau cả (1) Là nói lên: - Rắn hơn sắt thép, cứng quá kim cương giống gieo trồng mọi đất xanh tươi cho lúa chín hạt, quả ngọt nuôi người. Giặc Pháp muốn mượn oai hùng của núi, đặt trung tâm thống trị tỉnh ta và thành nơi diệt nguồn anh hùng đất nước.

Nhưng: Khâu Cả là lò luyện con người gang thép chặt tan xiềng xích của thực dân, góp hun đúc những Trường Chinh, Lê Duẩn, Nguyễn Lương Bằng, Tô Hiệu và bao chiến sĩ/ những trái tim của cách mạng tỏa khắp non sông: chặt tan xiềng xích của thực dân Pháp, phong kiến/ góp phần đánh thắng hai đế quốc to. Đồi Khâu Cả cùng sóng cao cả nước giải phóng mình, xóa phu, thuế, nguột cuông. Dựng chính quyền cùng cả nước Việt Nam Độc lập - Tự do - Hạnh phúc/ hào quang khâu cả vượt chín tầng/ mây như ánh sáng soi đường cho ta bay bổng. Sơn La, 9/7/1998 Hoàng Nó (Cầm Văn Lường - 1925 đã mất)- quê Chiềng Ban, Mai Sơn.


(1) đồi Khâu Cả: ngọn núi (đồi) ở giữa thị xã Sơn La, nơi trước 1945 Pháp xây dinh công xứ (tỉnh trưởng) và nhà tù liền kề. Sau là trụ sở UBHC khu tự trị Tây Bắc, nay là trụ sở UBND tỉnh Sơn La. ĐÔI BỜ THƯƠNG NHỚ Mặt trời đi qua sàn nhà người thương Hạt nắng còn vương bên thềm cửa sổ Hoàng hôn đi mặt trời không rủ Để anh buồn trong nỗi nhớ hoàng hôn. Anh mượn gió gửi lời câu thương nhớ Mộc mạc thôi, tiếng hát tự bao giờ Mười sẽ quên và chín sẽ quên “Sông Mã cạn bằng đĩa mới quên” Chín lần quên để ngàn lần thương nhớ! Anh là con thuyền trôi trong dòng sông đôi mắt Để đôi bờ bên nhớ bên thương 6/1997 Hà Trường Giang (1950) Quê huyện sông Mã - Sơn La VÀNG VÀ THƠ Một câu thơ, một hàng vàng Cân coi thử, ai nặng hơn ai? Nem công, chả quế ăn vội Không hóc cũng cay! Cà dưa, tương ớt nhai lâu hóa ngọt Anh kiếm vàng chỉ bằng nước bọt Tôi làm thơ mệt óc, mỏi tim Cái gì giữ mãi hương thơm Vàng bằng bọt dễ tan theo bọt Thơ bằng tim, đậm mãi trong tim Cầm Biêu (1920-1997) Quê Mường Chanh - Mai Sơn LỜI MẸ Yêu nhau bằng lời nói Mẹ bảo chưa đủ Bằng mân khiêng cỗ nặng Mẹ bảo cũng chưa no Vội đón sau đón trước Cành vướng sợi tơ lòng Mẹ bảo! Hãy lấy ngày làm gang để đếm Lấy tháng làm sải để đo tấc lòng Mưa to có cùng nhau hứng? Mặt trời làm tấm gương soi Soi vào khuôn mặt Soi vào lòng dạ tim gan Ốm đau, ai tránh khỏi đôi lần Giầu nghèo có lúc cánh cửa kẹp ngón tay Đắng, ngọt, chua, cay, nhạt… Đầu lưỡi nếm cho rành Tự đáy lòng mình “cân đong” Xử sự công bằng 1983 Lò Văn Cậy (1928 - 1994) Quê Sốp Cộp - Sông Mã HOA RỪNG Thấy em lượm bông vạt nương chân núi Như đứng giữa dải ngân hà Anh vứt bó cây, chạy ngay tới Chẳng đợi em ưng ý Anh cứ mà lượm theo. Mới đầu anh lượm cây này, em lượm cây kia Rồi lượm chung cây Lượm chung cành Lượm cả tay nhau. Mặt trời bảo về, ta chưa muốn Ta trốn mặt trời dưới rặng vừng bên nương Tắm trong hương hoa vừng thơm ngát Gió ngàn ru nghiêng ngả vừng xanh Tia trời chiều vuốt ve áo hoa em lay động Hàng cúc bạc long lanh Ngực em mười đôi cúc bướm Có mười đôi bóng anh lẫn mười đôi bóng hoa vừng Ngực rực hồng tia nắng Ngực ngấn đầy hương hoa. Vương Trung (1938) ÁNH CHỚP TRỜI XA Mưa rơi trên núi Giảng? Chớp lóe sáng chân mây! Ai phơi gì sàn ngoài quên dọn. Mau dọn! Cụ bà vừa nhắc cháu vừa than: - Tháng 5, tháng trời buồn, không buồn Tháng 6, lặng mưa dông - Sao dông (1) “Rồng chọi rồng” ngày đêm không ngớt. Cất tiếng cười hai cháu cầm tay - Ánh lửa hàn nhà máy, Bà ơi! (1) Tục ngữ: Tháng 5: trời buồn Tháng 6: trời kiêng mưa Sơn La 19 - 5 - 1979 Lò Văn E (1933 - 1995) Quê Sốp Cộp - Sông Mã NHỚ CON Có điều gì sánh được Mẹ nhớ con Thương từ những lỗi lầm Mưa lâm thâm mà lòng mẹ thành bão Nắng lên rồi nỗi nhớ hóa là mây Tình yêu của mẹ là trái chín trên cây Để cho con bốn mùa hương vị ngọt thật đắm say 11 - 1992 Cầm Thị Phụi (Phó chủ tịch HĐND tỉnh) ĐÊM HỘI MÚA XÒE Tiếng trống, tiếng cồng vang giục giã Như chắp cánh niềm vui bay cao Cả “Khuống” mường bỗng dưng nghiêng ngả Với vòng xòe nhún nhẩy say sưa Đôi chân thon thon quen theo lối nương. Đôi chân bè đạp mòn lối ruộng Quyện bên nhau rập rình “Khắm xéo” quàng trên áo cóm Tất cả rung lên, cả rừng hoa chao đảo Cái dùi gỗ băm trên mặt trống Rền như giông, như sấm “Họa…họa…Huệ…Huệ…” Cả vòng xòe cuồng lên Theo nhịp trống, nhịp tim Tung chân nhảy hết mình, hết sức “Đàn bướm” cúc muốn bay khỏi ngực Chiếc mũ nồi, cũng chực bay theo Vòng xòe quay, quay mãi không ngừng Lương Văn Tộ (1946) Quê Sông Mã - Sơn La CÂY BAN TRÊN RỪNG (Tác giả tự dịch) Ào ào bãi xoáy Đá lăn, cây đổ Thân sâng, gốc sở ngổn ngang Một cây Ban đứng điềm nhiên Cạnh lối lên nương làm cỏ Hỏi giông, hỏi gió Sao Ban kia vẫn bình yên phận thường? Cây ban rằng: “hòa tình yêu” Trắng trong tuổi trẻ Chung thủy tận già Lửa mường đất gốc, chưa thành than (thì không thể chết Gió dập thân, cành, chưa tan tành em vẫn tươi xanh) Một cây Ban Đứng trên nương Lò Xuân Thương (1936) Quê Púng Tra - Thuận Châu CHIỀU BẾN VẠN (1) Bến cũ đâu hỡi sông? Bến ở trong lòng nước Miệt mài ngày đêm chảy Về Hòa Bình khơi xa. Bản tình ca bất tận Gập ghềnh đá nơi đâu? Ở trong lòng nước ấy Với biển hồ phẳng lặng Xóa những dòng vách ngăn. Và mai lên Ngược xuôi Thuyền đánh cá Và chiều buông Sương giăng tròn Trăng xóa Còi tàu vang xa, vang xa Bến Vạn Yên 1995 Hoàng Bạch Long 1949 Quê Huy Thượng - Phù Yên (1) Bến Vạn Yên: Phố nhỏ Vạn Yên, bên bến Sông Đà, xã Tân Phong, Phù Yên ….xưa là Sông Đà ghềnh thác, nay là Hồ Thủy điện mênh mông. KHOẢNG XANH Gió Lào mang hơi lửa Hun sém cả trưa hè Cháy khét tiếng ve Rừng tre trơ trụi lá Con chim vội vã sà xuống khe trốn Sợi nắng muốn chăng đan mặt cỏ Nhưng chẳng sao, chẳng sao cả Trái đất đã quen mùi khắc nghiệt!

Đến con kiến cũng còn phải ung dung thư thái Miệt mài tha mồi về tổ Ai như quả bứa chín vàng mơ Trong trẻo giữa trưa hè Thời gian nhòa vào im lắng Một khoảng không trống vắng Vỗ ào vào cánh xanh Lò Vũ Vân 1943 Quê Bắc Yên - Sơn La XUÂN BẢN THÀN Tết Ở bản Thàn Cái vui Sôi lên từ hũ rượu cần Bụng trống Vú chiêng Rung lên Cả mái sàn chao đảo Đỉnh núi cao lúc lắc cái đầu Măng vầu Măng sặt Dỏng tai đón mưa rơi Xuân 1996

Lò Vũ Vân BIỂN Ở THẢO NGUYÊN Ở độ cao một nghìn năm mươi mét Rất xa biển nên thèm nghe sóng biển Mượn gió ngàn làm sóng vỗ lao xao Ước có biển nên gom mây về làm biển Biển Thảo Nguyên biển trắng vỗ mênh mông Đảo là những ngọn thông, chóp núi Cho thuyền chim đi về neo đậu Thảo nguyên xanh đắm mình trong màn huyền ảo Đưa ta về thời xưa cổ tích Dưới đại dương lộng lẫy thủy cung? Biển Thảo Nguyên chỉ trong trưa khoảnh khắc Bỗng chốc tan - biển biến về đâu? Ánh nắng vàng chuốt ngọc lên lá Lại trong veo, ngời sắc Thảo Nguyên. Thảo Nguyên Mộc Châu hè 1997 Lò Vũ Vân NHỚ VỀ PHỐ VẠN Chúng tôi dân tứ xứ Gặp nhau ở nơi đây Dựng nên một Phố nhỏ Phố Vạn Yên, Vạn Yên (1) Anh Phúc Kiến, Quảng Đông (2)

Tôi Mường Bi, Mường Động (3) Còn chị hay mơ mộng Theo chồng lên nơi đây Là dân Nam Định đó (4) Một dãy phố nhỏ thôi Bao dòng đời đã chảy Tụ về Phố nhỏ này Nhớ bến Vạn thuở ấy Thuyền đuôi én ngược xuôi Ai đi xuống chợ Bờ Ai ngược dòng Đà Giang Lên Mường Chiên, Mường Ét Dòng sông vẫn êm trôi Nối phố nhỏ của tôi Với bao bờ thương nhớ Ơi bến Vạn, phố Vạn Phố của chúng tôi đó Mùa đông heo hút gió Tết về câu đối đỏ Tiếng pháo lại rộ vang Tiếng chuông điểm đình Ang (7) Tiếng trống vang đình Hán Hồn thiên cổ bay về Bản làng trong khói hương Mùa hè nóng rát bỏng Những cây phượng trước ngõ Lại cháy đỏ màu hoa…

Nay phố đã đi xa Chìm đáy nước sông Đà Ôi phố núi nho nhỏ Phố của chúng tôi đó Vẫn cháy màu phượng đỏ Trong lòng mỗi chúng tôi Rồi một ngày không xa Hoa phượng lại rực đỏ Trên phố mới nguy nga Tôi lại viết bài ca Về bến Vạn, phố Vạn Phố của hoa phượng đỏ Thắm mãi bên sông Đà 6/1996 (1) Bến phố Vạn Yên (Tân Phong, Phù Yên) (2) 2 tỉnh của quê gốc người Hoa (3) Thuộc Hòa Bình quê người Mường (4) Chợ Bờ (Hòa Bình), nay chìm dưới hồ (5) Thuộc Quỳnh Nhai (6) Đình Ang, Đình Hán là 2 ngôi đình thuộc xã Tâm Phong Nhà thơ Đinh Tân (1942) Dân tộc Mường Quê Tân Phong, Phù Yên, Sơn La CÁC DÂN TỘC Ở SƠN LA Điều tra dân số 1/4/1999: Toàn tỉnh có 882.077 người (đến 1/4/2009 có 1.08.641 người). Có 12 dân tộc anh em. Thái 482.985 Người chiếm 54,7 % Kinh 153.646 Người chiếm 17,42% Hmông 114.578 Người chiếm 13,00% Mường 71.906 Người chiếm 8,15% Các dân tộc khác
Người chiếm 6,73% Trình độ dân trí tính đến 2002: Tỉ lệ biết chữ 70,8% Học sinh phổ thông 220.430 em Giáo viên 10.209 người Thầy thuốc (y, bác sỹ) 26 người/1 bệnh viện

LỜI CUỐI SÁCH

“Sơn La ký sự” gồm 51 bài tùy bút, hồi ức, thơ, sưu tầm, ghi chép về xứ Thái một thời NK đã sống, nhằm để con cháu, bạn bè, ai đó đọc xong “ờ Sơn La, người Thái nó là như thế…” để thêm yêu cái xứ sở “Sơn La âm u núi khuất trong sương mù” rồi “nước Sơn La, ma Hòa Bình” ngày xưa nó bí ẩn, lạ lẫm, đáng sợ làm sao? Năm 1962 (vừa tái lập tỉnh) Sơn La mới có 18 vạn dân, chủ yếu là người Thái, sau 1975, nhất là sau 1986 người xuôi (Thái Bình, Hưng Yên…) lên ồ ạt, đến nay 2009 dân số toàn tỉnh 10.080.641 trong đó dân tộc Thái trên 48 vạn người. Mọi phong tục tập quán kể cả tiếng nói chữ viết Thái đang bị “hòa nhập” hòa tan, bị lai ghép đã dần mai một. SOS là thế… Để kết cuốn sách này, có lẽ hay hơn là nhờ Chế Lan Viên nói hộ: “Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ Nơi nào qua lòng lại chẳng yêu thương? Khi ta ở chỉ là nơi đất ở Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn!”

Góc thành nam Hà Nội 11.3.2012 NGUYỄN KHÔI

MỤC LỤC Số
Trang 1 Lời thưa
2 Bản quê yêu dấu
3 Cơm Bản (Văn)
4 Cơm Bản (thơ)
5 Canh Bon (thơ)
6 Ngủ Bản
7 Sơn La xưa
8 Sông Chó
9 Đám cưới Thái
10 Cầu vào Bản
11 Tiếng mõ trâu (thơ)
12 Núi Mường Hung - Dòng sông Mã
13 Bóng núi (thơ)
14 Nhớ Mường Hung (thơ)
15 Xuân biên cương
16 Chiều bản nhỏ (thơ)
17 Tắm ở bản
18 Lễ Tằng Cẩu
19 Tục đẻ ngồi
20 Nhà sàn bếp lửa (thơ)
21 Sông Đà hùng vĩ
22 Bến Tạ Bú (thơ)
23 Cây đào Tô Hiệu - Ai trồng?
24 Nhà sàn Thái
25 Gái Thái
26 Pí pặp (thơ)
27 Tên một số món ăn
28 Lẩu xá
29 Đường lên Tây Bắc
30 Cây Mắc Chai
31 Hoa Ban
32 Lịch sử nguồn gốc Thái
33 Mường trời, Mường người
34 Xửa cỏm, Váy Thái khăn Piêu
35 Quắm tố Mướng
36 Lời ăn tiếng nói
37 Táy Pú xấc
38 Thiết chế xã hội Thái
39 Khu tự trị Thái Mèo
40 Luật tục Thái
41 Quan chức và trí thức
42 Tang lễ Thái
43 Cổ tích
44 Đèo Pha Đin
45 Suối mó nước nóng
46 Lễ hội Lung ta
47 Du lịch Mộc Châu
48 Người bắn Hổ
49 Câu chuyện săn Voi
50 Xòe Thái
51 Nhạc Khí Thái
52 Thơ Ca Thái

No comments: