Sunday, April 8, 2012

PHAN QUỲNH * VÕ VIỆT NAM

Tản Mạn Về Võ Roi Võ Gậy ViệtNam

VSNT Phan Quỳnh

Nhà võ xưa cho rằng gậy là tiền thân của các loại binh khí cầm tay cổ điển khác. Gậy vót nhọn có thể trở thành cây dáo, cây lao hay ngọn bút v.v…

Gậy còn được gọi là Roi, Hèo, Trượng, Tiên, hay Côn … và có nhiều loại dài ngắn khác nhau . Gậy dài được gọi là Gậy Bẩy hay Trung Bình Tiên, dài bẩy thước ta (khoảng 2,80 mét); gậy ngắn có tên là Gậy Ba dài ba thước ta (khoảng 1,20 mét) tiết diện tròn khoảng trên hay dưới 5cm tùy người xử dụng bằng gỗ lim, gỗ nghiến hay tre đực đặc ruột, tre bánh tẻ, hoặc bằng sắt thép.

Gậy ngắn tiết diện vuông hay chữ nhật bằng gỗ hay sắt được gọi là tay thước hay giản. (Đôi khi giản có tiết diện lục giác và có cán cầm).

Riêng roi làm bằng gỗ dẻo, bằng mây già hoặc tre đặc, to nhỏ tùy theo bàn tay người xử dụng lớn, nhỏ.

Nhiều lò võ xưa thực dụng hơn, không phân chia gậy, côn theo thước tấc như trên mà linh động căn cứ vào tầm vóc lớn nhỏ của từng người xử dụng, căn cứ vào chiều cao từng võ sinh để phân chia gậy ra nhiều loại dài ngắn với những tên khác nhau như Trường Côn, Tề Mi Côn, Trung Côn, hay Đoản Côn.

Đoản côn có chiều dài từ bả vai hay nách xuống tới đầu ngón tay người xử dụng duỗi thẳng.

Trung côn dài từ mặt đất chân đứng thẳng đến ngực người xử dụng.

Tề mi côn dài từ mặt đất đến ngang tầm mi mắt.

Trường côn dài nhất, từ mặt đất tới đầu ngón tay với thẳng của người xử dụng (được gọi là “dài một đầu một với”) .


Do đó Tề Mi Côn của người này có thể là Trung Côn của người khác.

Đánh gậy là môn võ chiến đấu và cũng là môn thể thao được hình thành rất sớm ở nước ta, và đã trở thành môn võ truyền thống.

Truyền thuyết Phủ Đổng Thiên Vương nói lên gậy đã được xử dụng nhiều và phổ biến từ hồi đầu thuở các vua Hùng dựng nước. Cậu bé đánh giặc Ân bằng ngựa sắt, roi sắt. Chưa hết, roi sắt bị gẫy, cậu bé dũng sĩ anh hùng làng Gióng đã nhổ từng khóm tre ngà làm roi quay tít hàng trăm vòng rồi quất mạnh xuống đầu giặc :

Đứa thì sứt mũi sứt tai,

Đứa thì chết nhóc vì gai tre ngà.

(Bài ca Hội Gióng)


Truyền thuyết cho biết thêm theo Thánh Gióng đi đánh giặc còn có ông Đường Ghềnh (Trung Mầu, Gia Lâm) cầm vồ đập đất, có đoàn trẻ chăn trâu Hội Xá (Gia Lâm) cầm roi, cầm khăng, có người câu cá vác cần câu đuổi giặc.

Tác giả Đào Duy Anh nghiên cứu cổ sử tại huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa phát hiện rải rác hàng trăm đền thờ Thánh Lưỡng , một nhân vật thời cuối nhà Tùy chống quân nhà Đường ở quận Cửu Chân (nay là Thanh Hóa), hàng năm nhân dân địa phương tổ chức Lễ hội cúng tế tại các đền thờ Thánh Lưỡng này, ngoài những trò vui chơi khác, lễ hội luôn luôn tổ chức biểu diễn trò đánh Trận Gậy để tưởng niệm sinh hoạt thường nhật củaThánh Lưỡng thời xưa (Đào Duy Anh, HỒI KÝ ĐÀO DUY ANH – Nhớ Nghĩ Chiều Hôm, nhà xuất bản Trẻ tái bản, tpHCM 2000, trang 122).

Gậy đã gắn liền vào sinh hoạt hàng ngày của tổ tiên chúng ta . Gia đình nào trước đây cũng có cái gậy dựng ở góc nhà. Cái then cài cửa, cái cán cuốc, cán xẻng, cái mái chèo thuyền, cái bắp cầy, đòn gánh, cần câu, v.v. … lúc biến cũng dễ dàng trở thành cây gậy ngừa phòng bất trắc.

Tới dịp hội hè đình đám, đánh gậy là môn thể thao được thanh niên trai tráng trong làng đua nhau thi sức , trổ tài . Họ lập ra những phường hội để tập dượt, để giúp nhau trau dồi tài nghệ, tinh luyện về môn đánh gậy .

Tác giả Toan Ánh nói về ngày hội thi đấu trung bình tiên xưa như sau :

” Thường tại các hội quê, khi có đấu trung bình tiên dân làng đều có treo giải như giải đánh vật hoặc giải bơi thuyền hoặc như nhiều cuộc vui xuân khác vậy. Các võ sĩ dự cuộc đấu roi, vì giải thưởng thì ít, vì tinh thần thượng võ, nhất là vì danh dự của từng lò roi thì nhiều. Hai tiếng lò roi để chỉ những tay chơi trung bình tiên xuất thân ở một xã nào, hoặc ở một nhóm nào, có người huấn luyện chỉ dẫn.

“Đánh trung bình tiên, đánh tay đôi, ai đánh trúng địch thủ vào những chỗ hiểm và đánh trúng nhiều được coi là thắng.

“Trong cuộc đấu, chiếc gậy thường được bịt giẻ ở đầu để tránh sự nguy hiểm cho các đấu thủ. Đầu bịt giẻ, được nhúng vào nước vôi trắng, để một khi địch thủ nào đánh trúng đối phương sẽ có dấu vết để lại. Vết vôi ở người mỗi địch thủ giúp cho ban giám khảo xét định hơn thua. Trận đấu gồm nhiều hợp và mỗi hợp tính theo những động tác của các đối thủ”. (1)

Năm 1258, quân Nguyên lần thứ nhất sang xâm lược Đại Việt. Khi đã chiếm được Thăng Long, bọn giặc xua quân đi càn quét, cướp phá các vùng lân cận. Tới Cổ Sở (nay là Yên Sở phía tây ngoại thành Hà Nội) , giặc bị nhân dân trong vùng dùng gậy, dùng dáo đánh cho thua to . Nói về trận đánh này, sử cũ đã ghi :” Đời Nguyên Phong (Trần Thái Tông), quân Thoát Hoan vào cướp, khi đến xã Cổ Sở ngựa không tiến được , người trong xã chống phá được giặc”.

Sử cũ cũng ghi :”Năm Mậu Tuất (1298) (đời Trần Anh Tông), mùa thu tháng tám thi đấu gậy”.

Tuy sử không thuật rõ thể thức thi đấu thế nào, song cuộc thi được kể là ở triều Trần, diễn ra sau khi đất nước đã ba lần đánh thắng giặc Mông Cổ và cuộc thi đấu có ý nghĩa khuyến khích quân sĩ và nhân dân trong nước mài sắc cảnh giác, luôn luôn tập luyện sẵn sàng đứng lên chiến đấu đập tan mọi cuộc ngoại xâm.

Một sự kiện cũng liên quan đến đánh gậy đã được Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi chép vào năm 1323: “Ông Mặc thi đấu trượng chiếm cao khoa” .

Đánh gậy là một môn võ truyền thống của dân tộc đã được nhiều người ngưỡng mộ và tập luyện. Không những thanh niên trai tráng tập luyện mà ngay cả nữ giới cũng trau dồi kỹ thuật chiến đấu này :

Ai vô Bình Định mà coi,

Đàn bà cũng biết cầm roi đi quờn (quyền).

(Ca dao)

Hoặc

Roi Thuận Truyền, quyền An Vinh

Xin mở một dấu ngoặc về truyền thuyết nguồn gốc roi Thuận Truyền thuộc xã Bình Thuận, huyện Tây Sơn, Bình Định: Roi Thuận Truyền xa nữa không rõ ông tổ là ai, nhưng võ sư Hồ Nhu được xem như một sư tổ. Ông sinh năm 1891, cha từng là một võ quan triều Nguyễn, mẹ người Huế, cũng là con nhà võ. Chuyện xưa kể, một lần do bị bức hiếp, Hồ Nhu đã đánh trả con trai một ông Hương Kiểm trong làng. Ông Hương Kiểm xách gậy đi tìm, đòi đánh ông. Mẹ ông đã giở ngay cán cuốc đánh ngược lên một thế. Vậy là cái gậy trong tay Hương Kiểm bay vù tận ngõ. Từ đó, Hồ Nhu bắt đầu theo mẹ luyện võ. Nhưng theo võ sư Hồ Sừng, hồi bé, võ sư Hồ Nhu chưa được mẹ dạy võ. Ông phải tìm học ở nhiều ông thầy khác, như học roi của Ba Đề, học nội công của Đội Sẻ, tiếp đến học roi của Hồ Khiêm, ông còn được một tạo sĩ (đậu tiến sĩ võ) truyền dạy thêm. Khi đường roi đã cứng cáp vì kết hợp tinh hoa của nhiều thầy, thấy được, mẹ ông mới tinh truyền thêm. Đường roi càng trở nên thiên biến vạn hóa, sâu hiểm khôn lường. . . .

Tháng 11 năm Mậu Thân 1788 quân Mãn Thanh xâm chiếm Thăng Long, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ, sau khi đăng quang tại Phú Xuân (Huế), vội kéo đại binh thần tốc đi Bắc phạt. Tới Nghệ An, nhà vua dừng lại đây vài ngày để mộ thêm quân và nhanh chóng tuyển dụng được trăm ngàn tân binh. Theo truyền thuyết vùng Thanh Nghệ, cả cánh rừng tre rộng lớn nơi đây đã được nhà vua trưng dụng để lấy tre làm binh khí, làm quân dụng cho đoàn tân binh nghĩa quân này. Điều đó nói lên gậy tre vót nhọn có lẽ là binh khí chủ yếu của đoàn tân nghĩa binh Tây Sơn, bởi với thời gian ngắn ngủi kỷ lục không dễ rèn đúc đủ binh khí bằng sắt thép trang bị cho cả nhiều ngàn quân.

Tới thế kỷ 19, võ gậy ở nước ta đã được phát huy tới trình độ cao. Một lần nữa, gậy được quy định rõ ràng : gậy dùng để tập và thi lúc này ngoài gậy tre còn xử dụng hai loại gậy nữa là sắt và gỗ. Gậy sắt theo qui định có loại dài hơn 6 thước 3 tấc ta (khoảng 1,50 mét) và nặng tới 40 cân ta (khoảng 25 kg); còn gậy gỗ dài 6 thước 5 tấc với chu vi 2 tấc 6 phân. Việc thi gậy thời này có hai môn : múa và đấu.

Múa gậy để biểu diễn tài khéo léo và sức mạnh.

Đấu gậy để thẩm định kỹ thuật chính xác, dũng mãnh và linh hoạt cần thiết cho chiến đấu.

Thể thức thi Hội thời nhà Nguyễn : ngoài các môn võ bắt buộc phải thi khác, riêng môn đấu gậy đầu thế kỷ 19 sử sách có nói rõ : “Thi đấu côn gỗ cứ một người thi đấu với hai người, người nào thắng luôn cả hai là hạng ưu; thắng một người và ngang sức (hòa) một người là hạng bình ; thắng một người và kém (thua) một người hoặc ngang sức hai người là hạng thứ ; không thắng là hạng liệt “. Rõ ràng đây là môn đấu đòi hỏi người thi phải có tài năng, sức lực, dũng cảm, và mưu trí. Đó là cuộc thi đấu gậy để đạt danh hiệu Cử Nhân Võ.

Còn đấu gậy trong thi Đình thì mức độ yêu cầu cao hơn. Một người phải đấu với năm người, thắng cả mới được là ưu; nếu chỉ thắng bốn ngang sức một hay thắng ba ngang sức hai là bình. Còn thắng hai ngang sức ba hoặc thắng một ngang sức bốn là thứ ; không thắng là liệt. Đó là cuộc thi đấu gậy để đạt danh hiệu Tiến Sĩ Võ.

Song dù thi Hội hay thi Đình, người thi đều phải qua cuộc thử sức bằng môn múa hai loại gậy gỗ và sắt. Yêu cầu múa phải nhanh, mạnh, khéo, gọn, … , gậy múa phải quay tít trên cao và bao kín quanh mình, không trống không hở.

XX

X

Chàng Lía, một dũng sĩ đất Qui Nhơn Bình Định nổi lên chống bất công của triều đình nhà Nguyễn, có tài đánh gậy rất khéo léo , tinh vi :

Đường côn trọn vẹn trăm bề,

Múa như giông tố tiếng nghe vù vù .

( Vè chàng Lía )

Khi quân Pháp nổ súng tấn công cướp thành Gia Định năm 1859, nhân dân Nam Bộ đứng lên dùng gậy tầm vông xông ra chống giặc Pháp cứu nước. Tinh thần chiến đấu ngoan cường của nghĩa quân dưới trướng chủ tướng Trương Định đã được cụ Nguyễn Đình Chiểu ca ngợi trong bài ” Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc “ nổi tiếng :

Ngoài cật có một manh áo vải,

Trong tay cầm một ngọn tầm vông.

Các thế võ gậy cổ truyền với những đòn miếng lợi hại mỗi địa phương trên đất nước, mỗi lò võ xưa có những cách cầm gậy, vuốt gậy khác nhau . Có lò võ thích xử dụng gậy dài, có lò chỉ chuyên luyện gậy ngắn để xử dụng những thế xuyên lâm (đâm thẳng), bổ thượng, phạt tả, phạt hữu, dóc mía dọc (đánh từ trên xuống hay từ dưới lên), dóc mía ngang (đánh từ phải qua trái hay ngược lại), thượng công hạ kích, với những thế công thế thủ khác nhau,vân vân

Về kỹ thuật cầm gậy, cầm côn, thường dùng cả hai tay nhưng cũng có thể xử dụng một tay cho gậy ngắn, và có nhiều lối nắm cầm gậy khác nhau, ½, 2/3 hay cả vòng tròn gậy tùy theo thế võ hay đấu trường rộng hẹp khác nhau, trong ngõ hẻm, trong rừng rậm, v.v. . . Thông thường có hai lối cầm gậy dài : Nhật nguyệt áp chưởngLong trảo hộ châu .

Nhật nguyệt áp chưởng là lối cầm gậy hai tay đối nhau hai bên , tay trong tay ngoài nắm chặt gậy nằm gọn ở giữa hai lòng bàn tay.

Long trảo hộ châu là lối cầm gậy bằng mười đầu móng tay và cả hai

tay đều cùng ở một phía gậy .

Tác giả Bùi Trọng Việt trong Đặc san Trúc Lâm xuân Ất Dậu 2005

trang 107 đã mô tả chi tiết về Đấu Gậy Ngày Xuân:

Chỗ tập đánh gậy thường là một bãi cỏ trống hoặc một cái sân đất rộng để học viên nhẩy múa và đập gậy cũng như thúc gậy xuống đất. Sau một thời gian tập hết các thế đánh và đỡ cũng phải cả năm. Nhưng để trở nên một tay tài nghệ đủ tiêu chuẩn để tham dự các trận đấu còn tùy thuộc vào khả năng, sở học và kinh nghiệm của học viên. Riêng những tay gậy có đủ sức tham dự những trận thư hùng trong những dịp hội hè đình đám, hoặc dịp Tết để tranh giải quán quân với thiên hạ thì ph6i là những tay điêu luyện bậc thầy. Tuy nhiên các trận đấu cũng có giới hạn tùy theo địa phương, thí dụ : tranh giải hàng Tổng (gồm có 5, 6 làng), hàng Huyện hoặc liên Huyện, hoặc liên Tỉnh, v.v. . .

Ban Giám khảo dĩ nhiên phải là những tay gậy có nghệ thuật siêu quần thuộc loại trưởng môn, tức là các ông thầy của các “lò” huấn luyện. Người trọng tài (xưa gọi là người “cầm trịch” ) không có môn sinh tham dự trong trận đấu. Thường những trận đánh qua trọng thì họ phải mời mấy người từ những tỉnh khác tới để tránh thiên vị và tăng thêm phần long trọng.

Giải thưởng ngày xưa thường bằng hiện kim hoặc bằng khen thưởng của các quan đầu Huyện hay đầu Tỉnh, nhưng phần nhiều họ lại trọng cái danh dự quán quân hơn cả.

Tiện đây chúng tôi xin kể sơ qua một trận mà chính người viết đã được mục kích.

. . . Đấu trường là một bãi đất rộng, bên cạnh một ngôi đình, chung quanh là những cây cổ thụ và một phía là những bụi tre già. Người xem đứng nghẹt ở chung quanh, ở bên ngoài hai hàng dây trão giới hạn như hình chữ U với những hàng cột cao treo hàng chục cái đèn măng-xông (manchon), sáng như ban ngày. Phía đầu chữ U là khán đài chính nơi quan huyện đại diện cho Tỉnh cùng các vị hương lý và ban trọng tài. Mấy người “cầm trịch” thì ngồi ở hai bên; trên hai chiếc ghế khá cao gần trên hàng cây bắc giống như cái chòi.

Phía sau dẫy ghế trọng tài là một bàn hương án có bầy một cái đỉnh lớn đốt trầm, khói tỏa mùi thơm phảng phất, ngay trước hương án là một tấm giấy lớn ghi tên các toán tham dự. Sau khán đài là một chiếc quan tài, đây là món quà tặng cho một tay gậy nào xấu số mà lỡ bị đánh chết bất tử thì đã có quan huyện đại diện qua đầu Tỉnh chứng kiến rồi, phe bại trận chỉ việc đem xác chết về chôn mà không có lý do để thưa kiện (chúng tôi không hiểu những người tham dự có ký kết gì không?).

Xung quanh vòng đai là những người cầm gậy giữ trật tự và bốn người ngồi trên đòn gióng cao để làm trọng tài phụ. Bên phải khán đài treo một cái chiêng lớn và bên trái là một cái trống. Hai góc phía trước khán đài là hai cái bảng đen. Một cái ghi thể lệ các trận đấu. Một cái ghi ngày tháng, trận đấu thứ mấy và lò nào đang giữ giải, gồm : hạng nhất, hạng nhì và hạng ba. Thời gian tranh giải là 10 ngày, hôm đó là ngày thứ 8 và lò gậy Thái Bình đang giữ giải. Thể lệ là lò nào cảm thấy có thể thắng cuộc thì xin vào đấu, chớ không có bắt thăm theo vòng loại như các trò chơi thể thao bây giờ. Trong vòng hai ngày nữa là mãn cuộc, nếu không có đội nào dự tranh thì đội giữ giải cuối cùng coi như thắng cuộc.

Theo thông lệ thì sau khi người đại diện đọc thể lệ cuộc đấu thì lập tức ba hồi chiêng trộng nổi lên, tiếp theo là một tràng pháo nổ thật dài. Khi tiếng pháo dứt, thì ba tiếng trống điểm, báo hiệu giờ khởi đấu bắt đầu. Lập tức hai đấu thủ ăn mặc nai nịt gọn gàng, một người thắt ngang lưng giải lục xanh và người kia mang giải lụa đỏ. Đầu mỗi người chít một khăn ngang thắt ra sau gáy thành một giải dài tới ngang vai, trông như một tráng sĩ. Mỗi người mang một cây gậy ra sân, hai người cùng múa bài “bái Tổ” thật đẹp mắt và mỉm cười chào quan khách và khán giả, rồi cùng nhau đi một bài “trảo mã” (?) và khiêm tốn chào nhau theo thủ tục Tổ truyền. Đoạn đôi kỳ phùng địch thủ chống đốc gậy tung người ra xa nhau với những đường gậy nhanh như gió. Trước còn vờn nhau để thử tài cao thập, đồng thời tìm những điểm yếu của nhau để khai thác cho đúng lúc. Rồi lập tức trổ ra những ngón nghề để hạ nhau như : đường Xuyên sơn, tức đâm thẳng đầu gậy vào người đối phương, phạt tả, phạt hữu, bổ thượng hoặc tiền xung hậu kích.

… Tiếp theo là những đòn chí tử bằng cả sức mạnh của cây gậy giáng xuống đầu nhau với đòn Bổ thượng, tức là cầm một đầu gậy đánh thật mạnh ngay giữa đầu hoặc phía tay nào mạnh của đối phương 06 làm giảm sức mạnh của nhau.

Bên đỡ chuyển ngay thế trung bình tận đưa gậy lên đỡ đòn đập thẳng xuống đầu như trời giáng của đối phương và nhanh như chớp, người đỡ đòn xoay người qua một bên lùa cây gậy quay một đường cực mạnh ngang chân dưới để trả đũa bằng một đòn “quét chợ” từ phải qua trái, nhanh đến nỗi ta không trông thấy gậy mà chỉ nghe được tiếng gió xẹt bên tai. Bên bị đòn “quét chợ” cũng chẳng kém, nhẩy bổng người lên như con sóc chống ngay đầu gậy nghiêng về một phía để đỡ đòn. Đồng thời vuốt đốc gậy tung ngay một đường phạt ngang lưng từ trái qua phải, bên bị đánh xoay người qua phải vớ thế đinh tấn, hai tay đưa gậy ra đỡ cú đánh ngang hông. Tiếng kêu chát chúa của 2 cây gậy chạm nhau chưa dứt thì người bị đánh đã vuốt ngay đốc gậy tuốt một đòn “dóc mía” thốc ngược từ dưới lên trên làn cho người đang ở thế công phải chống gậy xuống đất ở thế nghiêng theo 45 độ hai tay giữ chắc để thủ, nếu không khéo sẽ bị đánh văng ra ngoài vòng hạn định.

… khi đang quần thảo bên nhau, bỗng nhiên họ chống gậy bay người qua một bên và có khi bay qua hẳn phía sau đối phương để đánh hững đòn hiểm nghèo, nếu sơ hở thì khó tránh né được …. (trang 108)

XX
X

Để tạm kết thúc, xin đơn cử hai bài thiệu về võ gậy cổ truyền, một bài về gậy dài, bài “Lữ Vọng Tâm Côn” và một bài về gậy ngắn, bài “Hoàng Kim Giản Pháp” được lưu truyền trong dân gian hay trong các lò võ xa xưa ở nước ta :

I/ Lữ Vọng Tâm Côn

Thượng trình thọ thế lưỡng biên khai ,

Tam tấn xà thương nhất điểm lai ,

Bảo tử kinh xa hồi tọa mã ,

Kinh châu hổ cứ trấn Trung sơn ,

Điểm thủy phong đao phi chiếc dực .

Thạch bàn Lữ Vọng tọa lý ngư , (2)

Phi khứ phi lai biên quơ thảo ,

Đàng địa phi xa luyện trung thiên .

II/ Hoàng Kim Giản Pháp

Bình thân lập thế ,

Lưỡng long thủ châu ,

Khuynh thân bái tổ ,

Thiềm thử vọng nguyệt ,

Kim giản bạt sơn ,

Tiềm tàng long hổ ,

Phượng vũ xuyên lâm ,

Phi giao đoạt ngọc ,

Mãnh sư trấn động ,

Cuồng phong tảo diệp nhất,

Cuồng phong tảo diệp nhì,

Tiềm tàng long hổ ,

Phượng vũ xuyên lâm ,

Phi giao đoạt ngọc ,

Mãnh sư trấn động ,

Cuồng phong tảo diệp ,

Tiềm tàng long hổ ,

Lão tiều quải sơn ,

Thiềm thử vọng nguyệt ,

Lão tiều quải sơn ,

Vân gia hồi giản ,

Đoạt mệnh kim giản ,

Khuynh thân bái tổ . /.

PQ

____________________________________________________

(1) Toan Ánh, Nếp cũ . Hội hè đình đám. Saigon, Sao Mai xb, 1974, trang 278.

(2) Có nơi đọc là ” Thạch bàn lưỡng vọng tọa lý ngư “.

No comments: