Tuesday, April 10, 2012

TIN NGOẠI QUỐC * KINH TẾ VIỆT NAM



Doanh nghiệp nước ngoài 'đang rời VN'
Cập nhật: 10:38 GMT - thứ hai, 9 tháng 4, 2012

Lạm phát đang giáng vào doanh nghiệp nước ngoài và công nhân làm việc tại đây

Tạp chí kinh doanh Forbes của Mỹ mới có bài đánh giá về thực trạng kém hấp dẫn của Việt Nam trong con mắt của giới đầu tư nước ngoài.

Bài viết mở đầu bằng câu chuyện về một doanh nhân Đài Loan mở nhà máy chế biến gỗ tại ngoại ô TP HCM từ năm 2003.

Với lao động rẻ và địa điểm gần với khách hàng của mình, ông David Lin nghĩ Việt Nam hẳn là thị trường tốt, đặc biệt trong bối cảnh từng có doanh thu khoảng 6 triệu đôla hàng năm trước đây.

Nhưng nay ông Lin đang lên kế hoạch chuyển sang các nước châu Á khác bởi chi phí sản xuất tăng và thực trạng đình công đòi tăng lương khiến hoạt động kinh doanh bị ảnh hưởng.

Việt Nam từng được giới đầu tư nước ngoài coi là sự lựa chọn thay thế cho Trung Quốc do chi phí sản xuất tại Trung Quốc tăng.

Tuy nhiên lạm phát tại Việt Nam, thuộc hàng cao nhất châu Á, là một trong các trở ngại lớn.

Cam kết đầu tư trực tiếp của nước ngoài giảm từ 19,9 tỷ đôla (2010) xuống 14,7 tỷ đôla (2011) mặc dù Bộ Kế hoạch Đầu tư nói lượng giải ngân thực tế lại tăng 35% lên mức 11 tỷ đôla vào năm ngoái.

"Họ đổ lỗi cho khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 hơn là thực trạng tham nhũng, nổ bong bóng tài chính và bất động sản, quyết định đầu tư kém cỏi của các doanh nghiệp nhà nước và quản l‎ý vĩ mô yếu kém của chính phủ."

Jonathan Pincus, Hiệu trưởng Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright (Tp HCM)

Tuy nhiên tạp chí Forbes nói hiện nay số doanh nghiệp nước ngoài rời Việt Nam nhiều hơn số công ty tới đây làm ăn.

Ngoài lạm phát và đình công (987 cuộc năm 2011 so với 541 cuộc năm 2007), doanh nghiệp nước ngoài còn nói tới điều kiện đường xá kém tại các khu công nghiệp gây khó khăn cho vận tải hàng hóa và tình trạng cắt điện.

Nghiên cứu hàng năm của Ngân hàng Thế giới về “Làm kinh doanh” tiếp tục hạ điểm của Việt Nam.

Báo cáo năm 2012 xếp Việt Nam đứng hàng 98 trên tổng số 183 nước, giảm 11 bậc so với năm 2008.

“Quí vị hỏi tôi là có nên tới Việt Nam vào lúc này hay không thì câu trả lời của tôi là không nên”, ông Bruce Lee, Tổng giám đốc công ty chế tạo máy Elma Vietnam Industrial của Đài Loan được Forbes dẫn lời.

“Trông có vẻ rẻ nhưng giá cả tăng mạnh và thị trường nội địa cũng kém khởi sắc”, ông Lee nói thêm.

'Rời dần'

Việt Nam đang trả giá khi dồn vốn cho doanh nghiệp nhà nước đầu tư tràn lan vào bất động sản.

Trong khi đó ông Leo Chiu, nhà tư vấn thuộc Hội đồng Phòng Thương Mại Đài Loan (với 3.000 hội viên) nói sẽ không có làn sóng rút khỏi Việt Nam hàng loạt nhưng các công ty sẽ chủ động rời đây dần dần.

Trong khi đó giới chức Việt Nam lại tảng lờ về độ nghiêm trọng của các vấn đề nội tại của kinh tế.

“Họ đổ lỗi cho khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 hơn là thực trạng tham nhũng, nổ bong bóng tài chính và bất động sản, quyết định đầu tư kém cỏi của các doanh nghiệp nhà nước và quản l‎ý vĩ mô yếu kém của chính phủ”, ông Jonathan Pincus, hiệu trưởng Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright tại TP HCM được dẫn lời nhận xét.

Tuy nhiên bài của Forbes cho hay trong khi một số công ty cắt giảm đầu tư tại Việt Nam vào năm ngoái thì các nhà sản xuất của Hong Kong lại chuyển đầu tư từ Trung Quốc sang Việt Nam.

Các công ty Nhật duy trì mức đầu tư không đổi và đang tìm kiếm đặt cơ sở sản xuất sau thảm họa động đất và sóng thần tại Nhật cũng như việc hàng trăm nhà máy bị ảnh hưởng do lũ lụt tại Thái Lan vào năm ngoái.

Hiện Nhật cam kết số vốn đầu tư lớn thứ hai tại Việt Nam (2,44 tỷ đôla), chỉ đứng sau Hong Kong

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/business/2012/04/120409_forbes_vn.shtml.


Việt Nam đang hụt hơi?
Vũ Hoàng, phóng viên RFA
2012-04-08

Mới đây 2 tờ báo uy tín của Anh “The Economist” và của Mỹ “The Forbes” có những bài viết nhận xét về tình hình kinh tế Việt Nam thời gian gần đây.

RFA photo

Sàn giao dịch bất động sản BECAMEX tại Hà Nội.

Qua đó, những kết luận cho thấy vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam bị giảm sút và Đảng Cộng sản Việt Nam gắn quá chặt với những nguyên tắc của mình khiến nền kinh tế bị chững lại. Ghi nhận lại thông tin, Vũ Hoàng có bài tổng hợp sau đây.

Với tiêu đề “Việt Nam: Từ anh hùng trở thành số không” trên tạp chí The Economist hôm 31/3, tác giả nhận xét rằng, chỉ vài năm trước đây, Việt Nam là một trong những nước đang phát triển hút tầm ngắm của cả thế giới, vậy nhưng hôm nay Việt Nam lại tụt hậu thê thảm. Trong đó, bài báo chỉ ra lạm phát của Việt Nam xếp hàng cao nhất Châu Á, hàng ngàn doanh nghiệp bị phá sản, giá bất động sản lao dốc và hàng loạt doanh nghiệp Nhà nước chới với vì những khoản nợ xấu. Qua cách đánh giá của bài báo, người ta nhận thấy một Việt Nam với những thay đổi đột ngột theo chiều hướng xấu đi, mặc dù, giới lãnh đạo đã thấy được điều đó, nhưng đi từ sự nhận thức cho đến phải làm gì là quãng đường quá xa.

Mất niềm tin

doanh-nghiep-250.jpg
Hàng chục ngàn doanh nghiệp giải thể hay ngừng hoạt động riêng trong quí 1/ 2012. RFA/AFP photo.
Trong khi đó, một báo cáo khác của hãng đánh giá kinh doanh quốc tế Grant Thorton cho biết, 3 tháng đầu năm nay, niềm tin doanh nghiệp ở Việt Nam bị giảm mạnh bất chấp đã có những chuyển biến vĩ mô. Lời nhận xét này rơi vào đúng thời điểm khi niềm tin doanh nghiệp trên phạm vi toàn cầu bắt đầu khởi sắc. Ông Kent Atkinson, giám đốc Grant Thorton thừa nhận, thật không vui khi thấy xu hướng niềm tin doanh nghiệp ở Việt Nam không cùng chiều với cải thiện của thế giới, các hoạt động hỗ trợ vốn vay, tình trạng thiếu lao động kỹ năng, quan liêu và đặc biệt là khả năng tiếp cận tài chính vẫn là những rào cản đối với niềm tin doanh nghiệp tại Việt Nam.

Sau gần một năm thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, nhưng lạm phát chốt lại cuối năm ngoái vẫn ở mức 20%. Lãi suất cho vay ra tại các ngân hàng đã có lúc được đẩy lên tới xấp xỉ 25%, và với chi phí kinh doanh đó thì khó có một doanh nghiệp nào có thể trụ nổi. Từ đó dẫn tới các doanh nghiệp khai phá sản hoặc tạm ngưng hoạt động là khó tránh khỏi, và con số gần 80,000 vẫn là nỗi ám ảnh với nhiều chủ doanh nghiệp Việt Nam.

Mặc dù, bước sang quí 1 năm nay, với động thái giảm 1% lãi suất, được coi là nỗ lực linh hoạt từ phía Chính phủ, nhưng các doanh nghiệp vẫn cho rằng “liều thuốc” này không thể cứu được họ. Chỉ trong vòng 3 tháng đầu năm, lại có đến gần 12,000 doanh nghiệp xin phá sản hoặc ngưng nộp thuế kinh doanh. Trong cuộc họp thường kỳ hôm 1/4 của Thủ tướng với các thành viên chính phủ, Bộ trưởng – Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam phải thừa nhận việc có nhiều doanh nghiệp giải thể hoặc phá sản phần nào cũng thể hiện sản xuất, kinh doanh gặp khó khăn nhất là với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Trao đổi với chúng tôi, TS Nguyễn Minh Phong, Trưởng phòng Nghiên cứu, Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế – Xã hội Hà Nội cho rằng trở ngại nhất đối với các doanh nghiệp Việt Nam, khiến tình trạng doanh nghiệp phải đóng cửa vẫn là vốn tín dụng, ông nói:

Rõ ràng đó là một dấu hiệu không tốt, chúng tôi đã đưa ra nhiều bài phân tích nói về những tín hiệu đáng báo động, đúng hơn là những tín hiệu lo ngại về khu vực doanh nghiệp đặc biệt là xu hướng các doanh nghiệp dừng hoạt động hoặc không nộp thuế.

TS Nguyễn Minh Phong

“Rõ ràng đó là một dấu hiệu không tốt, chúng tôi đã đưa ra nhiều bài phân tích nói về những tín hiệu đáng báo động, đúng hơn là những tín hiệu lo ngại về khu vực doanh nghiệp đặc biệt là xu hướng các doanh nghiệp dừng hoạt động hoặc không nộp thuế. Theo giải trình của Bộ Đầu Tư, đó chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ, một số doanh nghiệp gắn liền với hoạt động ở ngành thủy sản.

Tôi cũng đồng ý rằng, trong nửa đầu năm 2012, các doanh nghiệp Việt Nam đang ở tình trạng khó khăn nhất trong nhiều năm gần đây, sự chịu đựng đã kéo dài, sự hỗ trợ của doanh nghiệp đã đến hạn. Doanh nghiệp Việt Nam đang phải tiếp nhận nguồn vốn chi phí cao nhất thế giới, trên dưới 20% là quá sức chịu đựng của doanh nghiệp và đây là nguyên nhân quan trọng nhất khiến các doanh nghiệp gặp khó khăn, vì thế số lượng các doanh nghiệp gặp khó khăn cũng như không hoạt động đang có xu hướng tăng lên.”

Mặc dù vậy, TS Phong cho rằng Việt Nam cũng nhận thức được khó khăn của các doanh nghiệp, do đó, Chính phủ đang lên kế hoạch giảm, chậm hoặc miễn thuế và áp trần cho vay để các doanh nghiệp được tiếp cận nguồn vốn rẻ hơn.

Đó là khối doanh nghiệp vừa và nhỏ, vậy còn với doanh nghiệp Nhà nước thì sao? Quay trở lại bài viết “Việt Nam: Từ anh hùng trở thành số không” tác giả chỉ ra những tồn tại như hiện tượng tham nhũng, sự thiếu minh bạch và tình trạng lãng phí của khối doanh nghiệp Nhà nước vẫn là những căn bệnh kinh niên. Người viết nhắc lại vụ ra tòa của Vinashin hôm mới đây 27/3, theo đó, một doanh nghiệp Nhà nước lớn bậc nhất của Việt Nam, từng được các chính trị gia khuyến khích và mở rộng, nhưng cuối cùng ban điều hành bị kết tội quản lý yếu kém, gây hậu quả kinh tế nghiêm trọng và bị trừng phạt với bản án cao nhất 20 năm tù cho ông Phạm Thanh Bình, nguyên tổng giám đốc.

Đang mất dần sức hút

Một công ty sản xuất đế giày phải đóng cửa, may móc để phơi nắng phơi mưa. Photo Nam Duong
Một công ty sản xuất đế giày phải đóng cửa, máy móc để phơi nắng phơi mưa. Photo Nam Duong.

Dưới bình diện dòng vốn trực tiếp nước ngoài (FDI) đổ vào Việt Nam, tờ báo uy tín của Mỹ The Forbes mang tựa đề Việt Nam đang mất dần sức hút, bài viết cho thấy một bức tranh ảm đạm về tình hình FDI tại Việt Nam, trong đó tổng số vốn được thực thi cả năm vừa rồi sụt giảm đến 35% so với năm trước đó, dừng lại ở mức hơn 11 tỉ đô la. Và nguyên nhân chính được tác giả chỉ ra là do lạm phát, giá nhân công tăng và chuyện đình công. Bài báo mô tả, kể từ khi Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa năm 1987, đã có hàng ngàn doanh nghiệp nước ngoài đến đây làm ăn, thế nhưng, môi trường kinh doanh ngày càng trở nên khó khăn, từ năm 2008 cho tới nay, lạm phát đã trở thành nỗi ám ảnh.

Hơn nữa chi phí lao động của Việt Nam từng được coi là lợi thế rẻ đã không còn là sức hút giới đầu tư nước ngoài, khi những cuộc biểu tình đòi tăng lương của người lao động tăng đột biến theo cấp số nhân trong vòng 3 năm trở lại đây, nếu năm 2009 chỉ khoảng 200 vụ, năm 2010 là hơn 400 vụ, thì 2011 là gần 1,000 vụ. Thậm chí, trong báo cáo năm 2012 của Ngân hàng Thế giới có tên Doing Business, môi trường kinh doanh của Việt Nam còn bị tụt 11 bậc so với năm 2008, xuống vị trí 98 trên tổng số 183 quốc gia trong bảng xếp hạng.

Nhận xét chung về môi trường đầu tư Việt Nam thời gian gần đây, TS Lê Đăng Doanh không ngạc nhiên với những gì đang diễn ra:

Các nhà đầu tư nước ngoài đang hoạt động ở Việt Nam đã nêu lên nhiều kiến nghị về môi trường đầu tư và kinh doanh tại Việt Nam không những không được cải thiện mà còn xấu đi.

TS Lê Đăng Doanh

“Việc thực thi các dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã có sự chậm trễ rõ rệt do năng lực của nhà đầu tư, năng lực thực hiện của phía Việt Nam hay là khả năng giải phóng mặt bằng… Các nhà đầu tư nước ngoài đang hoạt động ở Việt Nam đã nêu lên nhiều kiến nghị về môi trường đầu tư và kinh doanh tại Việt Nam không những không được cải thiện mà còn xấu đi theo như họ nói, lạm phát tăng cao, các chi phí đầu vào tăng lên và một loạt các quy định đối với nhà đầu tư của chính phủ được đưa ra mà không có sự tham khảo của các nhà đầu tư, người ta đã viện dẫn một loạt các quy định như là hạn chế các cảng để nhập khẩu, như là khâu thủ tục về lao động nước ngoài…”

Dường như màu tối là gam chủ đạo cho bức tranh doanh nghiệp tại Việt Nam thời gian qua, với cái bóng của lạm phát bao trùm. Nhưng phải chăng lạm phát là nguyên nhân duy nhất? Câu trả lời là không, vì lạm phát chỉ là sản phẩm của cả một quá trình ra quyết định từ các cấp điều hành. Theo ông Jonathan Pincus, một chuyên gia giảng dạy chương trình kinh tế Fullbright tại Việt Nam cho rằng, đối với các vấn đề kinh tế, Việt Nam thường có xu hướng cho rằng đó là ảnh hưởng của toàn cầu thay vì thừa nhận những nguyên nhân nội tại như tham nhũng, quyết định đầu tư tồi của các doanh nghiệp nhà nước và năng lực quản lý kinh tế vĩ mô.

Lời giải cho bài toán kinh tế Việt Nam sẽ phải bắt đầu từ gốc gác đó là quá trình ra quyết định quản lý từ cấp trung ương, thế nhưng việc này cũng không dễ dàng thực hiện vì quyền lợi trong kinh doanh và quyền lực trong chính trị phải chăng vẫn luôn đi kèm?
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/does-vietnam-lose-its-luster-vhoang-04082012125845.html

Nhiều tiệm vàng sẽ bị đóng cửa
2012-04-09

Việt Nam ban hành Nghị Định 24 hồi tuần trước, nhắm tới việc thu hẹp và dễ dàng kiểm soát thị trường vàng trong nước hơn. Quyết định này có đặt ngành kinh doanh vàng nội địa vào sự khó khăn và nguy cơ nào không?

RFA photo

Một tiệm mua bán vàng ở Hà Nội, ảnh minh họa.

Nhà nước sẽ độc quyền

Với mục đích dễ quản lý hơn khi thu hẹp thị trường vàng, Nghị Định 24, được chính phủ Việt Nam ban hành tuần trước, sẽ có hiệu lực ngày 25 tháng Năm tới đây. Theo nội dung của nghị định 24, doanh nghiệp kinh doanh vàng miếng cần hội đủ những điều kiện như phải có vốn điều lệ từ một trăm tỷ đồng trở lên.

Riêng đối với các tổ chức tín dụng thì phải có vốn điều lệ từ ba ngàn tỷ đồng trở lên. Bên cạnh đó, muốn kinh doanh vàng miếng thì phải có hơn hai năm kinh nghiệm trong việc mua và bán vàng, trong hai năm liên tiếp có số thuế nộp cho chính phủ mỗi năm từ năm trăm triệu hoặc hơn và phải có giấy chứng thực của Cơ Quan Thuế Vụ, có mạng lưới chi nhánh hoặc địa điểm kinh doanh ở ba thành phố trực thuộc trung ương.

Tin trên báo Thanh Niên Online cho thấy rất ít tiệm vàng trong nước đáp ứng đủ điều kiện kinh doanh như yêu cầu của Nghị Định 24, dẫn tới sự việc có thể hàng loạt tiệm vàng sẽ đóng cửa tháng tới, chưa kể những nguy cơ khác mà ngành kinh doanh vàng miếng phải đối diện trong nay mai.

Tiến sĩ Vũ Đình Ánh, chuyên gia nghiên cứu giá cả thị trường hàng đầu của Việt Nam, nói rằng ông tán thành và ủng hộ Nghị Định 24. Hai vấn đề ông Vũ Đình Ánh phân tích rõ ở đây:

"Tôi ủng hộ các nội dung của Nghị định 24 bởi vì then chốt của nó là thứ nhất giải quyết cái việc nhà nước sẽ độc quyền về vấn đề sản xuất, xuất nhập khẩu vàng nguyên liệu, tránh chuyện biến độc quyền nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp.

Vấn đề thứ hai, đối với các điều kiện về phân phối, tức hệ thống mua bán vàng miếng, tôi cho rằng các điều kiện như thế cũng phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam, phải coi vàng miếng như một loại tiền tệ đặc biệt. Do đó, những người làm nhiệm vụ kinh doanh cái tiền tệ đặc biệt ấy là phải có qui định có chuẩn mực của nó, tương tự các chuẩn mực về trong hệ thống ngân hàng khi kinh doanh tiền tệ."

Nhà nước sẽ độc quyền về vấn đề sản xuất, xuất nhập khẩu vàng nguyên liệu, tránh chuyện biến độc quyền nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp.

Tiến sĩ Vũ Đình Ánh

Một điểm khiến tiến sĩ Vũ Đình Ánh băn khoăn và cho rằng cần được cụ thể hoá và cần được xử lý ngay:

"Thứ nhất liên quan tới chuyện khi đã phát luật SJC (Saigon Jewelry Company Limited) là loại vàng đóng vai trò là nhà nước độc quyền sản xuất, thì cần phải có những hướng dẫn để chuyển đổi từ các loại vàng miếng khác sang vàng SJC, thì cái này cần phải làm nhanh.

Thứ hai, phải triển khai hệ thống cũng như các qui định nêu trong Nghị Định 24, để làm sao tạo ra một thị trường vàng thông suốt trong cả nước.

Điểm thứ ba, mà tôi cho rằng Nghị Định chưa đề cập rõ,là cơ chế trong việc huy động và sử dụng vàng miếng như thế nào bởi vì đây cũng là nguồn lực tài chính quan trọng.

Điểm thứ tư mà tôi cho rằng tới đây phải xử lý tiếp, là liên quan tới cái gọi là vàng tài khoản hay các loại chứng chỉ liên quan tới vàng, cái đó cũng phải triển khai."

Ổn định thị trường

VANG-1-250.jpg
Vàng nữ trang và vàng miếng SJC bày bán trong một cửa hàng vàng ở HN. RFA photo
Về mặt cơ bản, ông Vũ Đình Ánh nhấn mạnh rằng những điểm vừa nêu cần phải sớm được triển khai và làm rõ nếu muốn có một thị trường vàng hợp lý và thông suốt trên cả nước.

Với câu hỏi Nghị định 24 liệu có khả dĩ đặt thị trường vàng nội địa trước một hay những nguy cơ nào không, ông Vũ Đình Ánh trả lời:

"Tôi cho là sẽ không có nguy cơ nào cả bởi thực ra mục tiêu chính của Nghị Định 24 này là giảm thiểu và đi tới xoá bỏ những nguy cơ những rủi ro vốn tồn tại trong thị trường vàng Việt Nam thời gian vừa qua. Nội dung này là nội dung để khắc phục nguy cơ hơn là tạo ra nguy cơ."

Có một vấn đề cần quan tâm, tiến sĩ Vũ Đình Ánh khuyến cáo, là khoảng cách từ chính sách cho tới chuyện triển khai và thực hiện chính sách đó trong thực tế. Đôi khi chính sách, chủ trương và đường lối không sai, ông nói tiếp, thế nhưng trong khi triển khai và thực hiện mà nếu có những sai sót quá lớn thì sẽ làm giảm hiệu lực của chính sách.

Ông Trần Thanh Hải, tổng giám đốc Công Ty Cổ Phần Đầu Tư Kinh Doanh Vàng Việt Nam, gọi tắt là VGB, cho rằng chỉ các ngân hàng và các công ty lớn mới đáp ứng được những điều kiện của Nghị định 24. Từ việc này, vẫn theo nhận định của ông Trần Thanh Hải, các doanh nghiệp kinh doanh vàng có quan hệ từ một đến hai ngân hàng sẽ có khả năng lách qua qui định bằng cách ẩn thân vào trong các cơ sở được phép kinh doanh vàng trong thời gian tới.

Liệu điều này có phải một viễn ảnh không mấy hay một khi nhà nước muốn thiết lập một thị trường vàng thông suốt trên cả nước? Tiến sĩ Vũ Đình Ánh giải thích:

"Ý kiến đó hoàn toàn hợp lý. Bởi nếu không có sự kiểm tra, giám sát, tổ chức và thực hiện tốt thì chắc chắn người ta sẽ lợi dụng những kẽ hở, thậm chí vận dụng để lách qua những qui định đấy, kể cả những qui định nghiêm khắc nhất.

Để khắc phục thì vấn đề quan trọng là như tôi đã nói đầu tiên là tổ chức, triển khai, thực hiện một cách nghiêm túc. Khâu thứ hai là giám sát, kiểm tra, phải coi thị trường vàng miếng ở Việt Nam là một loại tiền tệ đặc biệt, phải thanh tra chặt chẽ y hệt như với thị trường tiền tệ ngân hàng hiện tại ở Việt Nam. Thậm chí còn phải hoàn thiện hơn để tránh trường hợp lách qua các qui định như vừa nêu."

Mục tiêu chính của Nghị Định 24 này là giảm thiểu và đi tới xoá bỏ những nguy cơ những rủi ro vốn tồn tại trong thị trường vàng Việt Nam thời gian vừa qua.

Tiến sĩ Vũ Đình Ánh

Thêm một vấn đề khác mà báo chí trong nước đưa ra và cho rằng cần phải dự liệu là thời gian giao dịch vào khi thị trường vàng miếng bị thu hẹp lại.
Trước giờ, Việt Nam có nhiều tiệm vàng trải đều trên cả nước, hoạt động bảy ngày một tuần, từ sáng sớm đến chiều tối chứ không mở cửa từ tám hoặc chín giờ sáng và đóng cửa lúc bốn hoặc năm giờ chiều như ngân hàng hoặc công ty nhà nước. Chính vì thế đang có sự quan ngại là người dân có nhu cầu khẩn cấp trong việc mua bán trao đổivàng thì sẽ gặp khó khăn trong hai ngày cuối tuần, tạo điều kiện cho sự nảy nở không tránh khỏi của những mạng lưới chợ đen, tức mạng giao dịch chui hay giao dịch ngầm.

Xem ra mọi chuyện còn trong vòng chờ đợi, chí ít cho đến khi nhà nước thực sự áp dụng, triển khai cũng như giám sát một cách nghiêm túc ngành kinh doanh vàng miếng trên thị trường nội địa đúng theo tinh thần và nội dung của Nghị Định 24 sắp trở thành hiệu lực trong hơn một tháng nữa.
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/decree-downsize-gold-market-tt-04092012152618.html

Hỗn loạn thị trường vàng tại Việt Nam

Thị trường vàng ở Việt Nam được mô tả là gần như hỗn loạn trong ngày hôm nay (8/8) khi giá vàng thay đổi 10 lần trong buổi sáng đạt mức hơn 44 triệu đồng 1 lượng.

VnExpress đưa tin người dân và nhà đầu tư vàng ở Hà Nội chen chúc đi mua bán vàng. Nhiều người bán vàng vì được lời nhiều, do giá vàng ở Việt Nam hiện nay cao hơn giá thế giới tới mức 2 triệu 300 ngàn 1 lượng.
Công ty Bảo Tín Minh Châu đã phải ngừng giao dịch trong một tiếng vào sáng nay vì giá vàng được xem là nhảy múa điên loạn. Các công ty kinh doanh vàng của Việt Nam cho rằng, vàng nội địa đang bị làm giá dù giá thế giới có tăng ảnh hưởng việc Hoa Kỳ bị hạ mức tin cậy tín dụng.
Thời Báo Kinh tế Saigon Online trích lời chuyên gia cho rằng, cần sự liên thông kịp thời để bình ổn giá vàng trong nước. Ông Trần Trọng Quốc Khanh, Giám đốc Trung tâm vàng Ngân hàng ACB được trích lời nói rằng, giá vàng nhảy múa phần lớn do nguồn cung cấp vàng bị thiếu hụt, trong khi thị trường trong nước không liên thông với thị trường thế giới và do điều gọi là hiệu ứng tâm lý đám đông.
Song hành với giá vàng vượt qua mức 44 triệu đồng một lượng, hôm nay giá đô la Mỹ (USD) cũng được các ngân hàng thương mại điều chỉnh mạnh lên tới 20.800 đồng đổi 1 đô la. Ở thị trường tự do tỷ giá USD tiền đồng đạt mức 20.900 đồng/1 USD
Báo chí Việt Nam trích lời một viên chức cao cấp Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam nói rằng, giá USD tăng mạnh là do cung cầu thị trường.
Theo giới chuyên gia, khi tỷ giá đô la tăng, sẽ dẫn tới việc các doanh nghiệp vay đô la để nhập khẩu sẽ đẩy mạnh mua đô la để trả nợ, đề phòng tỷ giá cao hơn nữa.
Tuy Ngân Hàng Nhà nước loan báo dự trữ ngoại hối đã tăng thêm 4 tỉ đô la từ đầu năm tới nay, nhưng với tình trạng nhập siêu kinh niên ở Việt Nam, nhiều chuyên gia dự báo giá đô la có thể tăng lên mức 21.500 đồng trong vòng vài tháng sắp tới.



http://www.rfa.org/vietnamese/vietnamnews/vn-gold-market-in-turmoil-08082011094708.html


No comments: