Tuesday, April 24, 2012

TRẦN ĐỨC ANH SƠN * HUẾ, TRÒ CHƠI VÀ THÚ TIÊU 1

TRẦN ĐỨC ANH SƠN

TRÒ CHƠI VÀ THÚ TIÊU KHIỂN
CỦA NGƯỜI HUẾ


NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
2008
2
MỤC LỤC
Trang
TỔNG QUAN 5
I. Trò chơi và thú tiêu khiển mang tính cộng đồng 9
- Ðua ghe 9
- Vật võ 11
- Ðu tiên 13
- Thả diều 15
- Bài chòi và các trò chơi từ bộ bài tới 17
II. Trò giải trí và thú tiêu khiển mang tính hội nhóm 25
- Các thi xã và việc ngâm vịnh, đối họa thi văn 25
- Thưởng thức ca nhạc Huế 26
- Thú uống trà 29
- Thả thơ 35
- Ðố thơ 38
- Ðầu hồ 40
- Ðổ xăm hường 47
- Cờ tướng và các biến thể của cờ tướng 50
- Các trò đỏ đen khác 53
III. Trò giải trí và tiêu khiển mang tính cá nhân 57
- Chơi non bộ 57
- Thú chơi hoa kiểng 60
- Thú ngủ đò 61
PHỤ LỤC 65
PL1. Một số bài bản ca Huế phổ dụng ở Huế 66
PL2. Một số đề thả thơ 77
PL3. Một số đề đố thơ 84
PL4. Những bộ đầu hồ xưa 111
PL5a. Hai bộ xăm hường xưa 115
PL5b. Bảng tính điểm trò chơi xăm hường 120
3
TRÒ CHƠI VÀ THÚ TIÊU KHIỂN
CỦA NGƯỜI HUẾ
4
TỔNG QUAN
Sau hơn 1,5 thế kỷ được các chúa Nguyễn chọn làm thủ phủ của Ðàng
Trong, đến cuối thế kỷ XVIII, Huế trở thành kinh đô vương triều Tây Sơn
(1788 - 1802) và sau đó là kinh đô của vương triều Nguyễn (1802 - 1945). Ở
một nơi từng được tán tụng “... mặt đất thì non sông tươi đẹp, biển cả thì
sóng nước mênh mông... đàn ông khá cương cường, đàn bà hơi mềm mại, trai
thì trọng đức dũng cảm tài lương, gái thì quý nết đoan trang cần kiệm...”1, lại
được tiếp nhận những tinh hoa của đất nước tụ hội về bởi vị thế của một kinh
đô, xứ Huế2, trong khoảng thời gian từ giữa thế kỷ XVI đến đầu XX, xứng
đáng là chốn đô hội của cả nước. Việc nhà Nguyễn chọn Huế để định đô trong
gần 1,5 thế kỷ đã làm nảy sinh nơi đây lớp người thượng kinh và theo đó là
một lối sống kinh kỳ. Ðiều này góp phần tạo nên những nét đặc sắc trong lối
sống, cách ứng xử, cũng như trong việc thưởng ngoạn và tiêu khiển của người
dân xứ Huế.
Sự tồn tại và phát triển của các trò chơi và thú tiêu khiển ở Huế bắt
nguồn từ sự du nhập các trò chơi và thú tiêu khiển truyền thống của cư dân
đồng bằng Bắc Bộ rồi cải biên cho phù hợp với điều kiện địa lý, môi trường
và hoàn cảnh lịch sử ở vùng đất mới. Nhiều trò chơi dân gian của người dân
Ðại Việt xưa, đã theo bước chân của những lớp dân Nam tiến, có mặt ở Huế
ngay từ khi mảnh đất này còn là “Ô châu ác địa”. Trong giai đoạn đầu, những
trò chơi ấy vẫn mang đậm dấu ấn từ những trò vui của cư dân châu thổ sông
Hồng. Ðó là những trò chơi gắn với các lễ hội dân gian, được nhà nước đứng
ra tổ chức để mua vui cho thiên hạ trong các dịp lễ lượt như: đua ghe, đấu vật,
đu tiên... Ðiều này thể hiện khá rõ qua một đoạn ghi chép của Nguyễn Khoa
Chiêm trong sách Nam triều công nghiệp diễn chí: “Lại kể năm Cảnh Trị thứ
10, Nhâm tý, tháng 2 (đúng ra là năm Dương Ðức thứ nhất, 1672 - T.Đ.A.S.)
chúa Hiền (Nguyễn Phúc Tần - T.Đ.A.S.) nhàn hạ, triệu trai gái xã Hạ Lan
tới trước gác Quyển Bồng, bày cuộc chơi đùa làm vui: đánh cờ người, đá cầu,
xích đu. Có thể nói là một thắng hội. Khi ấy các quan liêu, dân bách tính trai
già gái trẻ, dắt con ôm cháu, cùng tới xem chơi, không thể đếm xiết”3.
1 Dương Văn An, Ô châu cận lục (Bản dịch của Trịnh Khắc Mạnh và Nguyễn Văn Nguyên), Nxb
Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1997, tr. 44
2 Các địa danh: Huế, xứ Huế có trong tiểu luận này được sử dụng để chỉ vùng đất trước kia là thủ
phủ của cả xứ Đàng Trong trong hơn 1,5 thế kỷ (1636 - 1788), sau đó là kinh đô của hai vương
triều: Tây Sơn (1788 - 1802) và Nguyễn (1802 - 1945), trải dài từ Nam Quảng Trị đến Bắc Hải Vân
(vùng đất này gần như tương ứng với địa giới hành chính của tỉnh Thừa Thiên Huế hiện nay), chứ
không bó hẹp trong phạm vi thành phố Huế đương đại, với tư cách là một đơn vị hành chính của
tỉnh Thừa Thiên Huế.
3 Dẫn theo Lê Nguyễn Lưu, “Nhân tố và đặc điểm của văn hóa Huế”, Huế đẹp Huế thơ (Nhiều tác
giả), Nxb Thuận Hóa, Huế, 1998, tr. 21.
5
Về sau, nhiều thú vui xuất xứ từ nơi thôn dã, được tầng lớp trên trong
xã hội mới tiếp nhận và cải biên cho phù hợp với lối sống quyền quý của họ.
Từ đó tạo nên những các trò chơi và thú tiêu khiển theo lối Huế, được đánh
giá là phong phú, độc đáo và mang sắc thái riêng, khi so sánh với những các
trò chơi và thú tiêu khiển ở các vùng khác của Việt Nam. Mặt khác, tầng lớp
trên trong xã hội cũng là những người khởi xướng các các trò chơi và thú tiêu
khiển mới như: thưởng thức ca nhạc cung đình, thả thơ, uống trà... Giới quý
tộc và quan lại ở cố đô Huế đã học hỏi, bắt chước những trò chơi được ghi
chép trong sách vở viết về đời sống cung đình Trung Hoa, rồi cải chế ít nhiều,
tạo thành những trò chơi hay thú tiêu khiển mới để phục vụ cho nhu cầu giải
trí của giai cấp mình như: đầu hồ, xăm hường... Theo thời gian, nhiều trò chơi
cung đình đã vượt khỏi chốn cung cấm, lan ra phố phường và thôn xóm ngoại
thành, được tầng lớp bình dân tiếp nhận, rồi cải biên hoặc bổ sung một vài chi
tiết cho phù hợp với địa vị và lối sống của họ. Cũng có những thú vui không
rõ do ai khởi xướng nhưng lại được người Huế, từ sang đến hèn, chấp nhận
thưởng thức.
Ðến thời thuộc Pháp, nhiều trò chơi có nguồn gốc châu Âu, được du
nhập vào Huế như: domino, billard, bài tây... cùng tồn tại với những trò chơi
có từ trước. Ngoài ra, một số trò chơi truyền thống cũng có những thay đổi
cho phù hợp xu thế của thời đại: ví dụ trò thả thơ, thay vì dùng thơ chữ Hán
các đời Ðường - Tống - Minh bên Tàu, người ta chuyển sang dùng thơ chữ
Nôm của Trần Tế Xương, Tản Ðà, Ưng Bình, Nguyễn Khoa Vy... để thả thơ;
hay như trò tài bàn, mạt chược, vốn du nhập từ Trung Quốc, nguyên thủy chỉ
có 136 quân cờ, sau phát sinh thêm bốn “bộ hoa”, gồm các quân cờ: mai-lancúc-
trúc; xuân-hạ-thu-đông; tổng-đồng-vạn-sách; hoa-nguyên-hỷ-hợp, nâng
tổng số quân cờ thành 152.
Trò chơi và thú tiêu khiển ở Huế luôn có hai thuộc tính: dân dã và bác
học; dân gian và cung đình.
Chẳng hạn như trò thả diều: con diều Huế vốn gốc gác từ con những
diều đơn sơ của đám con nít nơi thôn quê; về sau được người lớn phát triển
thành con diều có hình dáng phức tạp hơn; cuối cùng, nó được lớp người
thượng kinh biến thành những nhân vật của bộ môn “múa rối trên không”,
dựa theo nhân vật trong các tích tuồng xưa, với kỹ thuật tinh xảo và lộng lẫy
sắc màu. Hay như trong bộ môn ca Huế, có khi ca từ bắt nguồn từ những bài
ca dao, những bài vè trong dân gian, nhưng cũng có những làn điệu, những
khúc ca có ca từ là những bài thơ do các thi sĩ chuyên nghiệp, hay các bậc
thức giả sáng tác như bài Phẩm tiết, do công chúa Mai Am sáng tác, bài Tứ
đại cảnh, do vua Tự Ðức đặt ra. Có nơi, có lúc mặt này trội hơn mặt kia,
nhưng rất khó tách bạch rõ ràng, ngược lại, các mặt này thường đan xen, bổ
sung cho nhau, tạo nên những nét đặc thù trong các trò giải trí ở Huế.
6
Những thú vui ở Huế, ngoài mục đích tiêu khiển, giải trí, còn nhằm để
khoa trương tài nghệ, óc thẩm mỹ tinh tế, sự tinh xảo, khéo léo và cả tri thức,
học vấn của người dự cuộc. Ðể thỏa mãn thú đỏ đen hay thử vận hên xui,
ngoài những trò cờ bạc diễn ra trong các sòng tổ tôm, tứ sắc... người Huế còn
tìm đến các trò thả thơ, đố thơ, nơi mà sự uyên bác trong học vấn quyết định
sự thắng thua chứ không phải là tính sát phạt. Tương tự, người ta tìm đến các
hội bài chòi, bài thai là để được thưởng thức những câu hò, giọng hát, để đắm
mình trong không khí rộn ràng của cuộc vui hơn là để thử vận may rủi.
Một đặc điểm khác trong các trò chơi và thú tiêu khiển ở Huế là
dường như có một sự phân định vô hình trong việc tổ chức và thưởng ngoạn
giữa những lớp người có địa vị khác nhau trong xã hội: đầu hồ là một trò chơi
phổ biến trong cung vua, phủ chúa, nhưng không thấy lan truyền trong dân
gian. Người ta cũng chỉ thấy trò thả thơ, đố thơ xảy ra nơi các vương phủ và
thành phần tham dự đều là những bậc phong lưu, có học vấn chứ không phải
là những tay trọc phú lắm tiền ít chữ. Cũng chưa bao giờ có một quan chức
nào, dù là võ quan, so tài trong các sới vật đầu năm ở các hội làng, cho dù họ
là người đã từng tỉ thí trong các kỳ thi võ do triều đình tổ chức. Ðiều này là hệ
quả của sự khác biệt địa vị, học vấn và tình hình kinh tế của từng bộ phận dân
cư trong xã hội.
Ở Huế có những thú vui dành cho đám đông như: đua ghe, thả diều,
đấu vật... song cũng có nhiều thú giải khuây chỉ dành cho một nhóm người,
thậm chí một người như: uống trà, đánh cờ hay sưu tầm cổ ngoạn… Có
những trò chơi nhằm phô diễn sức mạnh cơ bắp như: đua ghe, đấu vật…; có
thú vui dùng trí như đánh cờ, hay khoe tài học vấn như thả thơ, đố thơ…; có
trò chơi thể hiện sự khéo léo như chơi đầu hồ, hay khoe sự sáng tạo như làm
diều và thả diều; nhưng có thú vui lại thể hiện một ước mơ về học vấn cho
bản thân và gia đình như đổ xăm hường hay thể hiện một khát vọng liên lạc
giữa cõi dương với cõi âm, giữa hư với thực như trò cầu tiên.
Thú vui xứ Huế không chỉ phong phú về dạng thức, loại hình mà còn
hợp thời, hợp cảnh. Dương Văn An trong Ô châu cận lục từng viết: “Xuân
sang thì mở hội đua thuyền với nhiều trai thanh gái lịch, hạ đến thì bày cuộc
viếng thăm với nhiều chốn múa nơi ca”4. Không ai thả diều hay du thuyền
trên sông Hương trong vào những ngày mưa dầm gió bấc, cũng như các cuộc
trà chỉ thực sự mang đến cho ẩm khách cảm giác khinh khoái trong những
ngày đông giá rét, chứ không phải trong những trưa hè oi bức. Thiên nhiên và
thời tiết vừa giúp vào việc sản sinh ra các trò chơi và thú tiêu khiển ở Huế,
đồng thời, vừa ảnh hưởng trực tiếp đến thời điểm diễn ra các cuộc vui ấy.
4 Dương Văn An, Ô châu cận lục (Bản dịch của Trịnh Khắc Mạnh và Nguyễn Văn Nguyên), Nxb
Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1997, tr. 47.
 7
Có một cảm nhận khác khi tìm hiểu về các trò chơi và thú tiêu khiển ở
Huế là có nhiều trò vui gắn liền với những dòng sông. Ðó là dòng Hương
Giang ở Huế; là sông Bồ Ðiền ở Quảng Ðiền, là dòng Ô Lâu ở Phong Ðiền, là
vùng đầm phá Tam Giang, Cầu Hai, Lăng Cô... ở vùng duyên hải phía đông.
Những trò đua ghe, đua trải, các cuộc vui trong các cuộc lễ cầu ngư; thú đi
câu, ca Huế trên sông, ngủ đò... đều gắn liền với sông nước và cả những trò
vui, tuy trên cạn, nhưng lại có gốc gác gắn bó với sông nước như hát tập chèo,
hò bả trạo... Ngay như thú thả diều cũng thế. Ðừng tưởng cánh diều bay lượn
trên bầu trời kia thì không có quan hệ gì với sóng nước của những dòng sông
xứ Huế. Vị trí được các tay chơi diều ưa thích là những bãi đất ven sông, vì ở
những nơi này mới có một khoảng không thoáng đãng để nâng bổng cánh
diều. Dòng sông xanh, bầu trời xanh và cánh diều đủ màu sắc đang vi vu giữa
hai tấm phông xanh tự nhiên kia sẽ trở nên lộng lẫy hơn, quyến rũ hơn.

Vì thế
mà trong những trưa hè cháy bỏng, ngang qua cầu Trường Tiền hay cầu Phú
Xuân, người ta thường thấy những cánh diều chao lượn trên bầu trời, in bóng
xuống dòng Hương trong xanh. Sông Hương đã đọng lại trong tâm thức người
dân xứ Huế một tình cảm dịu dàng, quyến rũ, thì cũng in dấu lên những trò
tiêu khiển ở Huế như nguồn cội của niềm hứng khởi và lạc thú, mà thiếu nó,
hẳn những thú vui của miền đất này sẽ không trọn vẹn và phong phú đến vậy.
Theo tôi, có thể tạm phân các trò chơi và thú tiêu khiển ở Huế thành
ba nhóm nhỏ, dựa trên quy mô tổ chức và số người tham dự cuộc tiêu khiển.
- Những trò chơi và thú tiêu khiển mang tính cộng đồng như các trò:
đua ghe, vật võ, đu tiên...
- Những trò chơi và thú tiêu khiển mang tính hội nhóm như: thú ngâm
vịnh, đối họa thi văn, thưởng thức ca nhạc Huế, thú uống trà; các trò chơi:
thả thơ, đề thơ trên lồng đèn, đổ xăm hường, đầu hồ, hay các trò cờ bạc khác
như: tứ sắc, bài xẹp; tổ tôm, kiệu, tài bàn, mạt chược...
- Những trò giải trí và tiêu khiển mang tính cá nhân như: thú chơi non
bộ, vườn đá, chơi hoa kiểng, thú ngủ đò...
Tuy nhiên, sự phân định này chỉ có tính tương đối vì có những thú vui
xếp vào nhóm này hay nhóm kia đều được. Ví dụ: uống trà có thể là thú vui
của một người nhưng khi có một nhóm người thường xuyên tụ họp để thưởng
trà, bình thơ thì thú vui đã mang tính tập thể, hội nhóm; hay như trò chơi đầu
hồ, khi một người chơi thì ngoài mục đích thư giãn, đó còn là việc tập luyện
tính kiên trì, khéo léo của cá nhân, nhưng khi có hai hay ba người cùng tham
gia thì trò này đã mang tính hội nhóm và cần phải có luật chơi để phân định
thắng thua...
8
I. TRÒ CHƠI VÀ THÚ TIÊU KHIỂN MANG TÍNH CỘNG ĐỒNG
ÐUA GHE
Trò đua ghe, đua trải diễn ra ở hầu hết các địa phương trong tỉnh
Thừa Thiên Huế. Ðó là một trong những là trò chơi và cũng là môn thể thao
tồn tại lâu đời, có mặt ở Thuận Hóa từ buổi đầu người Việt theo chân các
chúa Nguyễn vào Nam mở cõi và vẫn tiếp diễn trong các lễ hội, các dịp kỷ
niệm hàng năm hiện nay. Những ghi chép của các tác giả: Dương Văn An, Lê
Quý Ðôn, Nguyễn Khoa Chiêm về vùng đất Thuận Hóa xưa đều có nói về
việc người dân nơi đây tổ chức đua ghe trong các dịp xuân về hay trong các lễ
hội, hoặc do phủ chúa đứng ra tổ chức nhân một dịp đại lễ nào đó. Sau này,
việc tổ chức đua ghe ở Huế thường gắn liền với các lễ hội nông nghiệp hay
ngư nghiệp. Người dân ở các làng quê thường tổ chức đua ghe trước khi bước
vào vụ mùa mới, như là một phần của những hoạt động mang tính tâm linh
nhằm cầu cho mưa thuận gió hòa, cho mùa màng được phong đăng hòa cốc.
Chiếc ghe đua xứ Huế thường là loại ghe thân dài; lườn ghe đan bằng
cật tre; mũi và lái cong vút. Ngày trước, thân ghe chỉ được phủ lớp dầu rái
màu nâu để chống thấm nước. Về sau, chiếc ghe đua được sơn vẽ nhiều màu
hơn. Hầu như mỗi thôn, làng đều có chiếc ghe đua và một đội đua, tuyển chọn
từ những tráng đinh khoẻ mạnh, dẻo dai nhất. Vài tuần trước khi diễn ra cuộc
đua, đội đua được tập trung để bắt đầu tập luyện nhằm đạt đến sự nhuần
nhuyễn của toàn đội và tăng cường sức bền bỉ, dẻo dai cho từng thành viên.
Việc luyện tập chủ yếu vào ban đêm và thực hiện ở trên cạn, thường là nơi
đình làng. Thời gian này cũng là lúc người ta hạ thổ chiếc ghe có từ những
mùa đua trước, bấy lâu vẫn được cất giữ ở nơi cao ráo trong đình, để sửa
chữa, tu bổ hay trang trí lại, chuẩn bị cho cuộc đua mới.

 Khi việc luyện tập trên cạn đã khá nhịp nhàng, người ta hạ thủy chiếc ghe vừa tu sửa xong để đội
đua tập chèo trên sông, trên phá một vài lần, trước khi vào hội. Với dân
chúng, sự thú vị của trò đua ghe đã bắt đầu ngay từ những ngày tập luyện này.
Họ kéo đến xem đội đua luyện tập, phụ họa theo tiếng hô giữ nhịp của đội
đua. Mấy người phụ nữ còn lo việc nấu các món ăn, úy lạo đội đua để bồi bổ
sức khỏe cho họ. Người ta luôn luôn làm một lễ cúng ghe rất trang trọng trước
khi đưa ghe gia nhập hội đua. Ngày đua đến, những chiếc ghe đủ màu sắc, từ
các thôn làng tập hợp về một quãng sông, cùng những đội đua mặc đồng
phục, sẵn sàng bước vào cuộc tranh tài. Hai bên bờ sông, dân chúng tụ tập
đông đúc, luôn miệng hò reo cổ vũ cho đội nhà trong tiếng trống dồn dập, náo
nức. Cuộc đua thường diễn ra từ sáng sớm, đến giữa trưa thì chấm dứt. Mỗi
lượt tranh tài, đội đua phải bơi đủ “ba vòng, sáu tráo” trên một khúc sông
được giới hạn bởi hai cọc tre tươi làm cọc tiêu, gọi là vè, trước khi lái chính
9
tháo mái chèo mang lên bờ nộp cho ban giám khảo. Mỗi cuộc đua thường có
bốn giải thưởng:

Ảnh 1: Chuẩn bị đua ghe - Ảnh Đào Hoa Nữ

Ảnh 2: Đua ghe trên sông Hương - Ảnh Đào Hoa Nữ
- Giải cúng: là giải thưởng cho đội thắng trong lượt đua đầu tiên vào
buổi sáng. Phần thưởng của giải cúng là một mâm cau trầu và một chai rượu.
- Giải phá: là giải thưởng cho đội thắng trong lượt đua cuối cùng vào
buổi chiều. Phần thưởng của giải là một lá cờ đỏ, không có hiện vật kèm theo.
Lá cờ này vốn là biểu tượng của cuộc đua, sẽ được đội thắng mang về treo
trong đình làng như một niềm vinh dự của đội đua làng ấy.
10
- Giải tam liên thắng: là giải thưởng dành cho đội nào về nhất ba lần
trong một cuộc đua. Phần thưởng thường là một con bò để xẻ thịt ăn mừng
- Giải nhất, nhì, ba: là giải thưởng dành cho ba đội có thành tích cao
nhất trong cuộc đua. Phần thưởng bằng tiền mặt, tùy theo thứ hạng mà số tiền
mặt được thưởng nhiều hay ít.
Ðua ghe là một trò giải trí mang tính đồng đội cao, vừa giúp vào việc
rèn luyện sức khỏe, vừa để giúp vui cho cộng đồng. Ðó cũng là một phần
trong các hoạt động lễ hội thể hiện tín ngưỡng nông nghiệp của người dân xứ
Huế. Một số làng ngư nghiệp ven phá Tam Giang như các làng: Thai Dương
Thượng thượng giáp (xã Hải Dương), Thai Dương Thượng hạ giáp (xã Thuận
An), Hòa Duân (xã Phú Thuận)... cũng tổ chức các cuộc đua ghe trong dịp lễ
cầu ngư. Hiện nay, vào các dịp chào mừng ngày giải phóng tỉnh nhà (26/3) và
Quốc khánh (2/9), chính quyền thường tổ chức đua ghe trên sông Hương và
đó là một hoạt động thể thao, giải trí luôn thu hút sự chú ý của công chúng.
VẬT VÕ
Một trong những nơi có truyền thống vật võ nổi tiếng nhất ở tỉnh Thừa
Thiên Huế là làng Sình, tên chữ là Lại Ân (nay thuộc xã Phú Mậu, huyện Phú
Vang). Làng Sình nằm bên ngã ba sông, nơi con sông Bồ hợp lưu với sông
Hương trước khi xuôi về phá Tam Giang để thông ra biển. Ðây là một làng
nghề, chuyên làm tranh mộc bản để thờ cúng. Ðối diện làng Sình, bên kia
sông là làng Thanh Phước, nơi có ngôi đền, thờ một phù điêu Champa, từng
được triều Nguyễn sắc phong là Kỳ Thạch phu nhân chi thần. Nơi đây còn có
vết tích một trại thủy quân thời các chúa Nguyễn.

Khi mới đến Ðàng Trong,để tăng cường sự phòng thủ mặt đông cho thủ phủ,
chúa Nguyễn đã lập nơiđây một xưởng đóng thuyền và một trại thủy binh đêm ngày luyện tập võ
nghệ và nghề sông nước. Những hoạt động của trại thủy binh đã mang đến
cho vùng này một truyền thống vật võ còn lưu truyền đến nay. Trước tiên,
người ta tổ chức đấu vật trong lực lượng thủy binh nhằm tuyển chọn những
người có sức khỏe, để lên rừng tìm gỗ đóng thuyền, để đương đầu với kẻ thù
lúc cận chiến. Sau thời các chúa Nguyễn, các sới vật ở làng Sình được tổ chức
hàng năm nhằm tuyển chọn và tưởng thưởng những thanh niên có lòng can
đảm, sức mạnh và mưu trí, để lên rừng lấy cây vang, cây hòe về chế màu;
xuống biển lấy vỏ sò, vỏ điệp về nung thành bột, đem trộn với hồ, quét lên
giấy dó để in tranh.
Hội vật tổ chức ngày mồng 10 tháng Giêng hàng năm. Sới vật được
đắp bằng đất, ngay trước sân đình. Tuy diễn ra ở làng Sình nhưng hội vật thu
hút nhiều võ sĩ đến từ những vùng phụ cận như: Vĩnh Lại, Quy Lai, Dương
Nỗ, Thanh Phước... Có cả những võ sĩ từ các làng quê ven biển như Thuận
An, Hải Dương... đến đua tài.
11

Ảnh 3: Vào hội vật Sình (xã Phú Mậu, huyện Phú Vang) - Ảnh Trần Tuấn Anh

Ảnh 4: Miếng khóa đối phương ở hội vật làng Sình - Ảnh Trần Tuấn Anh
12
Hội vật diễn ra trong một ngày. Sau khi vị tiên chỉ trong làng đọc lời
khai cuộc và công bố luật lệ hội vật, người ta đốt lửa trong một chiếc đèn
thăng thiên làm bằng vải theo nguyên lý hoạt động của một khinh khí cầu, rồi
thả nó bay lên trời, báo hiệu hội vật bắt đầu.
Sau hiệp đấu khai hội mang tính nghi thức của hai bậc lão trượng
trong làng là cuộc đua tài của thiếu nhi, kế đến mới là các hiệp đấu của người
lớn. Người nào thắng liên tiếp ba đối thủ thì được dự vòng bán kết buổi chiều.
Buổi chiều ai thắng được ba trận thì sẽ được vào vòng chung kết. Người vật
bị đối phương nhấc bổng lên hoặc làm cho “lấm lưng trắng bụng” thì thua
trận và bị loại trực tiếp, không được tham dự trận đấu thứ hai mà phải đợi đến
sang năm mới được so tài trở lại.
Ngoài hội vật làng Sình, trên địa bàn Thừa Thiên Huế hiện nay còn có
hội vật ở làng Thủ Lễ (thị trấn Sịa, huyện Quảng Điền) cũng là nơi quy tụ khá
nhiều tay vật từ các địa phương khác đến dự hội. Mỗi địa phương có một
trường phái, một phong cách đấu vật riêng, chứng tỏ xứ Huế là một nơi giàu
truyền thống vật võ. Truyền thống đó vẫn được duy trì tới nay, như là một
hoạt động thể thao và là trò giải trí được công chúng ưa thích.
ÐU TIÊN
Ðu tiên là một trò vui có gốc gác từ miền Bắc, được du nhập vào
Thuận Hóa từ rất sớm. Sách Ðại Việt sử ký toàn thư cho biết: “Ất tị, năm thứ
8 niên hiệu Ðại Trị đời Trần Dụ Tông (năm 1363 - Tác giả)... mùa xuân,
tháng Giêng, người Chiêm Thành đến bắt dân ở châu Hóa. Hàng năm, cứ đến
mùa xuân tháng Giêng, con trái, con gái họp nhau đánh đu ở Bà Dương.
Người Chiêm Thành khoảng tháng Chạp năm trước, nấp sẵn ở nơi đầu nguồn
của châu Hóa, đến khi ấy ụp đến cướp bắt lấy người đem về”.5 Chuyện này
xảy ra chỉ sau khi người Chiêm cắt đất Ô, Lý cho Ðại Việt chưa đầy 60 năm,
mà lại thành lệ đến nỗi người Chiêm biết mà phục sẵn chờ bắt người mang về,
chứng tỏ trò chơi này rất hấp dẫn dân chúng và được tổ chức thường xuyên
ngay từ buổi đầu họ đặt chân đến đây.
Ở nhiều vùng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, đánh đu là một trò chơi
phổ biến trong những ngày Tết với rất nhiều loại cây đu và lối chơi đu khác
nhau. Song phổ biến nhất vẫn là hình thức đu đôi, vẫn được gọi là đu tiên,
gồm một cặp thanh niên nam nữ cùng lên đu so tài. Bên cạnh cây đu, người ta
treo một chiếc khăn hồng ở độ cao xấp xỉ chiều cao giá đu. Người dự cuộc
phải đưa cánh đu bay cao, giật cho được chiếc khăn kia, mới được coi là
5 Ngô Sĩ Liên, Ðại Việt sử ký toàn thư (Bản dịch của Viện Sử học), Q.7, Tập II, Nxb. Khoa học Xã
hội, Hà Nội, 1967, tr. 150.
13
thắng cuộc. Ngoài việc đu cao, họ còn phải nhún sao cho đẹp mắt, thì mới
được tán thưởng như trong câu ca:
Nhún mình như thể nhún đu
Càng nhún càng đẹp, càng đu, càng mềm6

Ảnh 5: Đu tiên ở làng Phước Yên (xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền)*
Những cuộc đu tiên ở Huế vẫn được tổ chức cho đến trước năm 1945.
Trong các dịp lễ lượt quan trọng, chính phủ Nam triều thường tổ chức các
cuộc đu tiên ở trước Phu Văn Lâu để mua vui. Mỗi dịp như thế, người ta
thường dựng từ hai đến ba cây đu. Thời này, giá đu đã làm bằng gỗ, rất vững
chắc, nhưng cánh đu và đòn đu thì vẫn làm từ những gốc tre đực. Cánh đu và
đòn đu liên kết với nhau bằng những đoạn tre đập dập và được bện lại nhằm
tăng độ đàn hồi cho đòn đu, giúp động tác nhún mềm mại và uyển chuyển
hơn. Giải thưởng trong các cuộc đu lúc này là bằng tiền và người ta không
còn treo chiếc khăn hồng cho các tay đu đoạt lấy như trước.

Phần lớn các tay đu bấy giờ là nam giới, hiếm khi có nữ giới tham gia,
vì phụ nữ Huế lúc ấy đãtheo nếp gia phong Nho giáo, khác với phụ nữ thời các
 chúa Nguyễn, say tròđu tiên đến độ bị người Champa đến rình bắt mà không hay biết. Vì thế mà
tính chất lãng mạn, quyến rũ của trò đu tiên đã phôi pha dần.
6 Nguyễn Thành Luông - Nguyễn Thị Thanh Bình, Văn hóa dân gian cổ truyền.
Những phong tục lý thú, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1992, tr. 65.
* Các ảnh không có chú thích là ảnh do Trần Đức Anh Sơn chụp.
14
Ngày nay, trò đu tiên đã được tái hiện trở lại ở một số địa phương
trong tỉnh Thừa Thiên Huế. Tại xã Phong Hòa (huyện Phong Điền) và tại xã
Quảng Thọ (huyện Quảng Điền) cứ vào dịp Tết Nguyên đán đến, người dân
địa phương thường tổ chức đu tiên trong các ngày mồng Ba, mồng Bốn và
mồng Năm Tết
THẢ DIỀU
Thả diều là một trong những trò giải trí có sức sống lâu đời ở Huế.
Cũng như ở miền Bắc, chơi diều lúc đầu chỉ là một trò chơi của trẻ em. Bọn
trẻ đã tạo ra những con diều cung, diều phên hay diều dơi rất đơn giản. Chúng
dùng giấy vàng mã hay giấy dó dán lên những khung tre hình cánh cung, đính
vào đấy hai dãi giấy để làm đuôi. Vậy là đã có một con diều để tung lên trời
cao với bao niềm mơ ước và đam mê thơ dại của chúng. Người ta không biết
được những người lớn ở Huế đã tham gia vào trò chơi này từ khi nào, cũng
như vì sao từ những con diều đơn giản về cả tạo hình lẫn màu sắc, bỗng nhiên
ở Huế, dưới thời Nguyễn, lại xuất hiện những con diều công, diều phụng rực
rỡ, được chế tác bằng các chất liệu khác trước với một trình độ cao về nghệ
thuật tạo hình cũng như kỹ thuật thả diều.
Ông Cottenceau Philippe, một người Pháp chuyên nghiên cứu về diều
và là hội viên Câu lạc bộ diều Au fil de Vents, sau nhiều năm đi tìm tòi, khảo
cứu và học kỹ thuật làm diều ở Pháp, Trung Quốc, Malaysia, Singapore,
Indonesia, Nhật Bản và Việt Nam, đã cho rằng nghệ thuật diều Huế bắt nguồn
từ Trung Hoa. Có thể những viên quan nhà Nguyễn trong các chuyến đi sứ
sang Trung Quốc đã tiếp thu kỹ thuật chế tác và cách thức trang trí các con
diều của Trung Quốc rồi truyền dạy cho những người chơi diều ở Huế. Tuy
chưa tìm được những tư liệu lịch sử nói về vấn đề này nhưng khi so sánh các
con diều thời Thanh còn lưu lại ở Trung Hoa với các con diều Huế, người ta
thấy có sự tương đồng về kỹ thuật, chất liệu và hình thức trang trí.

 Chỉ riêng những con diều làm theo đề tài hiện đại như diều máy bay, diều tên lửa... thì
mới có sự khác biệt. Trong khi đó, con diều Huế lại khác xa với con diều ở
đồng bằng Bắc Bộ ở tất cả các phương diện: tạo hình, trang trí, chất liệu...
Ðiều này góp phần làm sáng tỏ câu hỏi: tại sao trong suốt mấy trăm năm tồn
tại, con diều Việt ở đồng bằng Bắc Bộ, dù của trẻ con hay của người lớn,
cũng gói gọn trong vài kiểu dáng đơn giản và dường như không được tô màu,
trong khi chỉ trong mấy chục năm cuối thời Nguyễn, con diều Huế đã có
những bước phát triển nhảy vọt về tạo hình, màu sắc và đề tài trang trí.
Dưới thời Bảo Ðại (1926 - 1945), Phủ Doãn Thừa Thiên thường tổ
chức những cuộc thi diều trong các dịp lễ hàng năm. Bấy giờ trong làng diều
Huế đã xuất hiện những tên tuổi nổi tiếng như: Nguyễn Văn Bân, Ðoàn
15
Chước, Trần Văn Ðông, Ưng Sừng, Ưng Hạng... Những người này đã dùng
các loại chất liệu mới để cải tiến con diều và nâng cao nghệ thuật thả diều:
dùng vải thay cho giấy để phủ cánh diều; dùng vải bện dây thả diều thay cho
dây bện bằng cật tre trước đây. Ngoài ra họ còn tham khảo các loại sáo diều
từ miền Bắc để chế nên các bộ sáo cho con diều Huế. Vào thời điểm này, con
diều Huế đã được vẽ màu, chủ yếu là hai cặp màu: xanh trắng hoặc đỏ vàng.
Vào những năm 1935 - 1940, nghệ nhân Ưng Sừng là người đầu tiên tạo ra
những con diều bướm nhiều màu sắc, hiện vẫn còn phổ biến ở Huế.
Những người chơi diều ở Huế đã tập hợp nhau lại trong một tổ chức
có tên là Hội Cầu Phong. Năm 1973, hội này được đổi tên thành Hội Thừa
Phong. Sau ngày đất nước thống nhất, Hội Thừa Phong chấm dứt hoạt động
nhưng những thành viên trong hội vẫn tiếp tục chơi diều riêng lẻ. Ðến năm
1983, Câu lạc bộ diều Huế ra đời, thành phần chủ yếu là những hội viên của
Hội Thừa Phong trước đây, tiếp nối nghệ thuật chế tác và kỹ thuật thả diều
của các lớp nghệ nhân tiền bối.



Ảnh 6: Nghệ nhân làm diều Nguyễn Văn Bê - Ảnh Lê Quang Hoàng
Diều Huế phong phú về màu sắc và hình dáng: diều bướm, diều công,
diều phụng, diều rồng, diều rít (rết), máy bay, tên lửa... Có cả những con diều
được làm ra dựa theo các điển tích xưa như: đại bàng cắp công chúa (truyện
Thạch Sanh), các nhân vật trong truyện Tấm Cám, gà chọi, chèo bẻo đánh
quạ, phượng hoàng sinh con... Những con diều này do một người hoặc một
nhóm người phối hợp thả lên không trung rồi dùng dây điều khiển để chúng
diển tả các tích tuồng như những nhân vật trong một vở múa rối. Các nghệ
16
nhân đã biến thả diều từ một trò giải trí bình thường thành bộ môn nghệ thuật
độc đáo, được nhiều người tôn vinh là “nghệ thuật múa rối trên không”.

Ảnh 7: Diều Đại bàng cắp công chúa - Ảnh Đào Hoa Nữ
Chơi diều ở Huế là một thú vui được nhiều người hưởng ứng. Trẻ em
thì chơi những con diều đơn giản do chúng tự làm nên; còn người lớn, đặc
biệt là lớp người quyền quý thường bỏ tiền thuê các nghệ nhân làm những con
diều đẹp, cầu kỳ để chơi hoặc để biểu diễn trong các dịp lễ lượt hội hè. Thú
vui ấy nay vẫn được tiếp tục và trở thành một nét văn hóa đặc sắc của xứ Huế.
BÀI CHÒI VÀ CÁC TRÒ CHƠI TỪ BỘ BÀI TỚI
Tết đến, thú vui được người Huế nói riêng, người Việt nói chung,
quan tâm nhiều nhất là các trò cờ bạc, đỏ đen, dưới nhiều hình thức khác
nhau. Một trong những trò chơi đó là bài chòi.
17
Bài chòi có mặt ở nhiều tỉnh miền Trung trong những ngày Tết và mỗi
nơi có một lối chơi riêng, mang truyền thống của từng vùng đất. Ở Huế, lối
chơi bài chòi có nét khác biệt so với lối chơi bài chòi ở Bình Ðịnh và Quảng
Nam. Sự khác biệt ấy thể hiện ở nội dung câu hò, điệu hò, ở số người tham dự
và số lần chơi trong một cuộc bài. Người ta đến với bài chòi trong dịp năm
mới không phải vì say mê trò sát phạt, mà chỉ là dịp để thử vận hên xui trong
ngày đầu năm và để được đắm mình trong không khí rộn ràng, đầy lạc thú từ
những điệu hò dí dỏm, những giọng cười sảng khoái và cả niềm hy vọng
thắng cuộc nho nhỏ mà trò chơi này mang lại.
Trò chơi bài chòi dựa trên một bộ bài gồm 30 cặp quân bài mà người
Huế quen gọi là bài tới. Cũng như những nơi khác ở miền Trung, bộ bài tới ở
Huế có ba pho: văn, vạn, sách và ba cặp bài yêu. Pho văn gồm các con bài:
gối, trường hai, trường ba, voi, rún, sáu tiền, liễu, tám tiền, xe. Pho vạn có
các con bài: học trò, tám cẳng, ba đấu, xơ, quăn, nhọn, bồng, thầy. Pho sách
có các con bài: nọc đượng, nghèo, gà, gióng, dày, sáu hột, sưa, tám giây, đỏ
mỏ. Ba cặp bài yêu là: ông ầm, thái tử, bạch tuyết.
Các con bài được in trên giấy bản dài 12cm, rộng 3cm, rồi phết lên
giấy cứng một mặt nhuộm xanh hoặc đỏ. Tên gọi và hình vẽ các con bài rất lạ
lùng và kỳ bí. Có người cho là các hình vẽ này vừa mang dấu ấn của bùa chú,
vừa phảng phất nét u uất của văn hóa Champa, lại vừa pha phách những kiểu
thức trang trí của người Thượng. Người ta khắc hình lên khuôn gỗ, bôi mực
lên và in. Ðó cũng là một lối in tranh trên giấy dó mà người dân ở làng Sình,
một làng ngoại ô ở phía đông bắc kinh thành Huế, dùng để in tranh thờ cúng,
bán trong các dịp lễ Tết, cúng giỗ. Nhiều ý kiến cho rằng bộ bài tới và lối chơi
bài chòi có gốc gác từ Bình Ðịnh, nơi trò chơi này rất phổ biến và các điệu hò
bài chòi vô cùng phong phú.
Tết đến, trên khoảng sân rộng trước đình làng hay ở nơi họp chợ của
một làng quê, người ta dựng lên mười một cái chòi bằng tranh tre. Chính giữa
là một chòi lớn hình lục giác dành cho những người tổ chức cuộc chơi, gọi là
chòi trung ương. Hai bên chòi trung ương có mười chòi nhỏ, mỗi phía năm
chòi, là nơi các chân bài ngồi dự cuộc chơi. Vào cuộc chơi, một người trong
ban tổ chức giữ chân chạy cờ, thường được gọi là anh hiệu, gióng một hồi
trống, dõng dạc mời các tay chơi lên chòi, cùng lúc ban nhạc gồm kèn, trống,
đàn nhị, sênh... cử một bản hòa tấu mở đầu cuộc chơi. Anh hiệu buông dùi
trống, vội vàng đem cờ ngân - cờ thay thế cho số tiền đặt cược trong một hội -
đi bán cho mỗi chủ chòi. Bán xong cờ ngân đến lượt hai người phụ việc mang
một ống tre đựng các con bài đến các chòi để mời chủ chòi lấy năm con bài.
Người ta dùng bộ bài tới gồm 56 con bài (không sử dụng hai cặp bạch tuyết
và nọc đượng). Các con bài được dán vào một thẻ tre có phần trên to và dẹp,
phần dưới nhỏ và tròn. Mỗi chòi, kể cả chòi trung ương đều được 5 thẻ, còn
18
một thẻ dùng cho anh hiệu đi chợ - mở đầu cuộc chơi. Phát xong bài xong,
người chạy cờ đằng hắng một tiếng rồi hô: “Hai bên lẳng lặng mà nghe con
bài đi chợ: con...” Anh ta xướng tên con bài đi chợ bằng tiếng ngân dài chen
lẫn tiếng trống gõ, tiếng đàn cò réo rắt. Người nào có con bài thứ hai đúng với
tên con bài đi chợ vội vã hô lên và rút kèm một con bài khác đưa cho anh
chạy cờ. Rồi một câu hò khác được vang lên. Cứ như thế cho đến khi có
người gõ lên cái mõ tre treo cạnh chòi mình, miệng hô lớn: “Tới rồi! Tới
rồi!”, để thông báo con bài mà anh hiệu vừa hò trùng với con bài cuối cùng
trên tay mình, nghĩa là đã có người thắng cuộc, thì ván bài kết thúc. Người
chạy cờ vội vã mang đến cho chòi của người vừa tới một lá cờ đuôi nheo, giắt
lên mái chòi, để cho nó bay phần phật trong làn gió xuân ấm áp, rồi bắt đầu
ván khác. Người ta chỉ chơi 10 ván là xong một hội. Phần tiền của ván thứ 11
là phần thưởng cho ban tổ chức. Kết thúc một hội, người ta mang các lá cờ
ngân đến bán lại cho chòi trung ương để lấy tiền. Ðược một cờ coi như huề
(hòa) vốn. Hai, ba cờ trở lên coi như vận đỏ đầu năm đã đến gõ cửa. Cái hấp
dẫn của thú chơi bài chòi là ở giọng hò của anh hiệu. Ðó phải là một người
thật vui, thật tếu, giỏi ứng đối mới điều khiển nổi trò vui này. Anh ta là linh
hồn của cuộc vui, vừa là người bày trò, kiêm luôn diễn viên hát tuồng để mua
vui cho mọi người. Vì lẽ đó mà sân đình khi có hội bài chòi luôn đầy ắp tiếng
cười, tiếng nhạc vang xa đến tận thôn cùng ngõ hẻm, đủ sức hấp dẫn các cụ
ông cụ bà, đám trẻ con, người lớn đến với cuộc vui này.
Ảnh 8: Pho văn trong bộ bài tới
19






20

Một biến thể của trò chơi bài chòi là bài ghế, hiện rất phổ biến trong
các hội xuân ở những làng quê phụ cận Huế. Bài ghế chơi tương tự bài chòi,
nhưng người ta không làm từng chòi nhỏ mà làm một cái trại lớn, hay có thể
sử dụng hội quán, đình làng để tổ chức, rồi xếp ghế thành hình chữ U. Ban tổ
chức ngồi ở đáy chữ U. Hai cánh chữ U là hai phe. Mỗi phe 5 người. Sau khi
phát các con bài cho các thành viên trong cuộc chơi, anh hiệu lấy một con bài
bất kỳ để đi chợ và tiến trình cuộc chơi diễn ra tương tự lối chơi bài chòi.
Nhưng sau đó ai tới thì ván sau họ được quyền “đi chợ”. Người ta chỉ chơi có
8 ván trong một hội bài. Hai ván còn lại dành cho ban tổ chức. Có một điều
khác với bài chòi là ở trò chơi này người ta sử dụng tất cả 60 quân bài. Con
nọc đượng tượng trưng cho dương vật của đàn ông và con bạch tuyết ám chỉ
âm vật của phụ nữ cũng được sử dụng và chúng có những câu hò rất độc đáo
và dí dỏm. Những câu hò ấy luôn là động lực hấp dẫn người dự cuộc.
Người Huế còn sử dụng bộ bài tới để sáng tạo nên nhiều trò chơi khác
nhau như: bài thai; bài nọc; bài đôi, bài phu...
- Bài thai: So với chơi bài chòi, bài thai ít rộn rã hơn, nhưng cũng
không kém phần thú vị. Ðó cũng là một trò chơi mượn giọng hò làm phương
tiện mua vui như bài chòi. Ðiệu hò này gọi là hò thai. Trò chơi do một người
đứng ra tổ chức gọi là nhà cái. Nơi chơi bài thai thường là một ngã tư giữa hai
lối xóm. Người tổ chức chơi bài thai đem một chiếc chiếu bông trải dưới bóng
21
gốc cổ thụ đầu xóm. Giữa chiếu có đặt một tấm giấy rộng, dán trên bìa cứng,
kẻ 30 ô vuông. Trong mỗi ô vuông là một con bài lấy từ một nửa bộ bài tới.
Nhà cái giữ lại nửa kia, cũng 30 con giống như những con bài trên ô vuông.
Vào cuộc chơi, nhà cái bí mật đặt một con bài thai vào một cái dĩa, lấy chén
úp lên trên rồi bắt đầu hò thai. Câu hò có nội dung liên quan đến tên con bài
thai, để các tay chơi theo đó mà đặt cược. Ðợi người chơi đặt cược xong, nhà
cái mở cái chén, trình con bài thai ra, giải thích ý nghĩa câu hò ứng với con
bài đã hò. Ai đoán trúng sẽ được số tiền gấp 8 lần số tiền đặt cược.

 Nếu sai sốtiền đó thuộc về nhà cái. Cái hay của bài thai là ở những câu hò, tuy ứng tác
nhưng rất thâm trầm, ý nhị khiến người chơi phải có trí thông minh, biết xét
đoán câu hò để đặt cược cho trúng. Mỗi con bài phải được chuẩn bị vài ba câu
hò khác nhau để đánh đố người chơi, song chúng phải hợp lý khi giải thích
cho tên con bài thai. Ví như khi thai con bài liễu, nhà cái sẽ hò: “Thiếp đừng
nhắc cảnh gia đình mà trăm hờn ngàn giận. Chàng ra đi cũng muốn lui về
thăm con viếng vợ, nhưng chàng về chưa được vì mặt trận đương dàn. Em ở
nhà nuôi thầy dưỡng mẹ, cứ tạm gác một thời gian. Ðợi ngày quân thù rút
hết, nước lặng thành yên chàng về”. Câu hò này cũng nói về nỗi day dứt của
kẻ chinh phu vì không gánh vác việc nhà, để người vợ nơi hậu phương phải
đem thân bồ liễu đảm đương việc gia đình. Nhà cái đã mượn chữ bồ liễu
thường dùng để chỉ phận nữ nhi, ấy để thai con bài liễu. Hay như khi thai con
bài xơ, nhà cái sẽ hò: “Thương nhớ dạng chồng ruột như tơ vày một trăm
múi, chàng ra đi em nuôi thầy dưỡng mẹ, em cứ nguyện một lòng vô cúi ra
lòn. Thương khuyên cùng chàng đừng có ham chơi chốn gác tía lầu son.

Nhớ cảnh quê nhà làm thuê cắt mướn chớ để vợ con tồi tàn”. Câu hò nói đến cảnh
bần hàn, xơ xác của một gia cảnh có chồng ham rượu chè, đàn đúm, tức ám
chỉ con bài xơ. Cũng nhờ sự hấp dẫn của những câu hò trí tuệ như thế nên
đám bài thai không mấy lúc thưa người.
- Bài nọc: Nếu bài thai, bài chòi mượn câu hò để giải trí trên phương
tiện là những quân bài trong bộ bài tới, thì bài nọc lại sử dụng ngay cái vỏ vật
chất là những hình trang trí trên các quân bài để chơi. Bài nọc là một trò chơi
có tính may rủi, do vậy nó mang nặng tính sát phạt nhất trong các trò giải trí
từ bộ bài tới. Lối chơi này thường được các cụ già ưa thích. Bởi lẽ họ không
còn đủ sức để ra đến đình làng hò reo với đám chơi bài chòi, nên yên phận ở
ngay trong nhà, cùng với các ông bạn vong niên, nay cũng đã gần đất xa trời,
kiếm trò vui xuân. Chơi bài nọc rất đơn giản. Thông thường có từ sáu đến tám
người tham gia, trong đó có một người làm nhà cái. Các con bài được xếp một
nọc ở giữa chiếu rồi mọi người lần lượt bốc. Nhà cái bốc sau cùng. Ai được
điểm cao hơn nhà cái thì được nhà cái chung tiền gấp đôi số tiền đặt cược.
Trên các con bài tới hoàn toàn không có số, vì vậy người ta qui định các nút
trong đầu chim, đầu người, đồng tiền... là một điểm. Ðiểm cao nhất cho mỗi
22
lần chơi là 9 điểm, quá 9 điểm là bù; thấp nhất là 6 điểm, ai chưa đủ 6 điểm
mà không bắt thêm bài thì bị phạt tiền.
- Bài đôi: Bài đôi cũng là một trò chơi sử dụng bộ bài tới, được người
dân làng Triều Thủy (xã Phú An, huyện Phú Vang), một ngôi làng nhỏ nằm ở
đông nam thành phố Huế, thường tổ chức vào những ngày xuân.
Có nhiều cách giải thích khác nhau về tên gọi bài đôi: một số ý kiến
cho rằng tên bài đôi xuất phát từ chữ đôi bài hay cặp bài, vì khi chơi, người ta
sử dụng bộ bài gồm 24 đôi/cặp và một con bài lẻ; một số người cao tuổi thì
cho rằng tên bài đôi xuất phát từ chuyện se duyên đôi lứa trong những cuộc
chơi, rồi sau đó nhiều đôi trai gái nên vợ thành chồng.
Ðể chơi bài đôi, người ta sử dụng 49 con bài, gồm 24 cặp: ầm, tử, mỏ,
bồng, hương, gối, xe, tuyết, tám giây, tám tiền, liễu, giày, sưa, sáu hột, sáu
tiền, rún, gióng, voi, gà, nghèo, trường ba, trường hai, trò, nọc đượng và chỉ
một con bài quăn. Số bài này được chia đều cho 7 người chơi. Một ván bài
được tính từ khi chia bài đến khi xuất hết 7 con bài.
Bài đôi là loại bài đối kháng tập thể, do đó cần phải xuất bài sao cho
khéo léo từ nước thứ nhất cho đến nước cuối cùng của một ván bài để giành
thắng lợi. Theo quy ước, bài đôi được tính từ lớn xuống bé: cao nhất là con
ầm, giá trị là 12 điểm (hay nút); kế đến là tử (11 điểm/nút); mỏ (10 điểm/nút);
các con bài: gối, xe, bạch tuyết (đều 9 điểm/nút); các con bài: tám giây, tám
tiền (đều 8 điểm/nút); các con bài: liễu, giày, sưa (đều 7 điểm/nút); các con
bài: sáu tiền, sáu hột (đều 6 điểm/nút); rún (5 điểm/nút); các con bài: voi,
gióng (đều 4 điểm/nút); các con bài: trường ba, gà, nghèo (đều 3 điểm/nút);
trường hai (2 điểm/nút); các con bài: trò, bồng, hương, nọc đượng, quăn (đều
1 điểm/nút). Các con bài có số nút bằng nhau sẽ được tính ngang nhau, nhưng
nếu tay cái hoặc tay trên (được tính theo chiều ngược chiều quay của kim
đồng hồ) xuất bài thì xem như con bài đó được tính thắng.
Trong bài đôi, vì con ầm là quân bài lớn nhất nên phải đi theo luật, tức
là phải đi theo các nước thứ 1, thứ 3, thứ 5 và nước cuối. Nhưng muốn xuất
con ầm ở nước thứ 5 thì nước tiếp sau nó phải có một đôi. Còn các con bài
khác thì xuất nước nào cũng được.
Bài đôi có hai kiểu đối chọi: đối chọi theo từng đôi hoặc theo từng con
bài một, tùy theo nhà cái thách đối. Nhưng dù đối chọi theo kiểu nào thì số
nút của con bài vẫn là điểm căn cứ để phân thắng bại.
Ðể chọn người thách đối trong ván bài đầu tiên, các tay chơi để úp bộ
bài ra giữa hội và tổ chức bốc cái. Người bốc được con bài lớn nhất sẽ cầm
cái, được chia bài cho hội và có quyền thách đối. Cuối mỗi ván bài, tay chơi
nào có con bài nổi sau cùng sẽ cầm cái cho ván bài kế tiếp.
23
Cách tính thắng bại của một ván bài đôi:
+ Tay chơi nào có một quân bài nổi thì xem như ván bài đó hòa.
+ Tay chơi nào có hai quân bài nổi thì thắng được một tay chơi khác.
+ Tay chơi nào có ba quân bài nổi thì thắng hai tay chơi khác.
+ Ăn trắng: Khi một trong các tay chơi có cả 7 quân bài nổi và mỗi tay
chơi bị thua ít nhất hai quân bài. Số điểm thắng sẽ được tính gấp đôi.
+ Ăn xúc: Khi người thách đối xuất thành công đôi hương, được tính
gấp đôi ăn trắng.
+ Ăn đền: Khi tay chơi xuất quân bài ầm không đúng luật để cho đối
phương ăn xúc thì tay chơi này phải chịu thua cả hội bài.
- Bài phu: Bài phu cũng dùng các con bài trong bộ bài tới để chơi,
nhưng chỉ sử dụng tối đa là 16 cặp bài. Trước khi chơi, người ta lựa ra 16 cặp
bài, theo thứ tự từ lớn đến nhỏ, gồm: ầm, tử, mỏ, xe, gối, liễu, tám tiền, tám
giây, sáu hột, sáu tiền, gióng, giày, sưa, voi, trường ba, trường hai.
Theo luật chơi bài phu, nếu có đủ bốn người chơi thì sử dụng cả 16
cặp bài này. Nếu chỉ có ba người chơi thì bỏ bớt các cặp: sáu tiền, gióng, giày
và sưa, để cho mỗi tay chơi luôn có 8 con bài.
Chơi bài phu giống như như chơi bài tam cúc, tức là ra bài theo ba
cách: bộ ba, cặp đôi và nước một. Bộ ba thì có ‘bộ ba thượng’ gồm các con
bài: ầm, thái tử, đỏ mỏ; ‘bộ ba xe’ gồm: xe, liễu, tám tiền và ‘bộ ba đất’ gồm:
voi, trường hai, trường ba. Cặp đôi thì cứ hai con giống nhau là kết thành một
đôi. Mấy con bài dư ra thì đánh nước một. Ai ra bài lớn thì ‘ăn’ các người
khác và được giành quyền làm cái. Nếu bài ra giống nhau thì người làm cái
được ăn. Hết ván bài, ai có nhiều bài ăn sẽ giành phần thắng. Nếu chơi bài
chòi hay bài tới thường chỉ nhờ vào sự hên xui, thì chơi bài phu phải tính toán
cao thấp rất nhiều.
Từ bộ bài tới chung cho cả vùng đất miền Trung, người Huế đã sáng
tạo nhiều trò chơi, mỗi trò mỗi vẻ, làm phong phú thêm cho những trò vui
ngày Tết.
 24
II. TRÒ GIẢI TRÍ VÀ THÚ TIÊU KHIỂN MANG TÍNH HỘI NHÓM
CÁC THI XÃ VÀ VIỆC NGÂM VỊNH, ĐỐI HỌA THI VĂN
Là kinh đô nên Huế là nơi gặp gỡ của nhiều văn nhân, thi sĩ từ khắp
mọi miền đất nước. Bản thân các ông vua nhà Nguyễn như vua Thiệu Trị, vua
Tự Ðức cũng là những thi sĩ có bút lực đáng kinh ngạc. Vua Thiệu Trị từng
nổi tiếng với Thần kinh nhị thập cảnh thi vịnh (神 京 二 十 景 詩 咏), viết
về hai mươi cảnh đẹp hàng đầu của kinh đô Huế. Hoặc như vua Tự Ðức, sinh
thời từng viết đến 4.000 bài thơ chữ Hán, 600 bài văn, khoảng 100 bài thơ
chữ Nôm. Trong các ông hoàng, bà chúa nhà Nguyễn, Tùng Thiện Vương
Miên Thẩm, Tuy Lý Vương Miên Trinh và ba cô em gái của hai ông là Trọng
Khanh, Thúc Khanh, Quý Khanh, là những gương mặt sáng giá trong làng thi
ca Huế hồi thế kỷ trước. Những người này cùng với các thi hữu, vốn là quan
lại đương triều hay nho sinh các tỉnh tụ hội về, đã lập nên các thi xã để cùng
sinh hoạt văn chương thi phú. Những thi xã như Tùng Vân thi xã (do Tùng
Thiện Vương sáng lập), Ðông Sơn thi tửu hội (do Ðoàn Hữu Trưng sáng lập),
Hương Bình thi xã (do Ưng Bình Thúc Giạ Thị sáng lập)... là những thi xã nổi
tiếng được đời sau biết đến. Gắn liền với những thi xã là những địa danh như
Ký Thưởng viên, Thỉnh Nguyệt đình, Lộc Minh đình... là nơi lui tới thường
xuyên của các bậc văn nhân, thi sĩ chốn thần kinh. Từ những buổi sinh hoạt
văn chương ấy, nhiều tập thơ danh tiếng đã ra đời như Thương Sơn thi tập
(của Tùng Thiện Vương), Diệu Liên thi tập (của công chúa Mai Am, tức Thúc
Khanh), Lộc Minh thi tập (của Ưng Bình Thúc Giạ Thị)...

Ngay như Cao BáQuát, tác giả hai câu thơ: “Ngán thay cái mũi vô duyên.
 Câu thơ thi xã, con thuyền Nghệ An” để chê thơ của các thi hữu trong Tùng Vân thi xã, về sau,
cũng tham gia thi xã này và để lại nhiều bài thơ cả Hán lẫn Nôm, đặc biệt là
văn ca trù. Ðiều này chứng tỏ sinh hoạt thơ văn, đối vịnh trong các thi xã là
một hoạt động tiêu khiển được giới thi sĩ và các bậc học thức bấy giờ ưa
chuộng. Họ tập hợp nhau lại, chọn những chủ đề lý thú rồi cùng làm thơ theo
lối xướng họa. Một trong những bài thơ tiêu biểu cho cách làm thơ này là bài
Hòa Lạc ngâm do ba anh em Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương, Tương An
Công cùng sáng tác. Bài thơ có đoạn mở đầu như sau:
Trời nam vừa thuở thanh bình
Non hùm bặt dấu, biển lành lặng tăm
Ngày hôm rằm, tiết hè đương tạnh
Vâng chiếu rồng, tuần hạnh Thuận An
Pháo đài bảy tiếng sấm vang
Thuyền chèo tách nước, cờ phan cuối trời...
25
Trong đó, hai câu đầu là của Tùng Thiện Vương, hai câu tiếp do Tuy
Lý Vương sáng tác còn hai câu sau là của Tương An Công. Cứ thế mà tiếp
diễn đến hết bài thơ.
Một chuyện khác, cũng nói lên nét độc đáo, thú vị trong sinh hoạt của
các thi xã. Ðó là vào năm 1951, xuất phát từ ý tưởng của Ưng Bình Thúc Giạ
Thị, chủ nhân ông của Hương Bình thi xã, lúc này đã 75 tuổi: “Sao không làm
thơ điếu lúc còn sống mới được thưởng thức hết chứ”7, những thi hữu trong
thi xã đã tổ chức một lễ sanh điếu (lễ tế sống) thi ông Ưng Bình Thúc Giạ. Họ
làm thi phú, văn tế, câu đối mang đến phúng điếu Ưng Bình Thúc Giạ Thị nơi
đình Lộc Minh suốt cả mùa xuân năm ấy.8

THƯỞNG THỨC CA NHẠC HUẾ
Một trong những thú vui tiêu biểu của xứ Huế, có từ thời Nguyễn, nay
vẫn tồn tại và phát triển là thú thưởng thức ca nhạc Huế.
Huế là kinh đô của hai triều đại phong kiến, trong đó thời gian trị vì
của nhà Nguyễn kéo dài gần 1,5 thế kỷ nên dấu ấn mà triều đại này để lại cho
Huế quá lớn; không chỉ là cung điện, lăng tẩm, đàn miếu mà cả trong lĩnh vực
văn nghệ và thưởng thức văn nghệ, trong đó có ca nhạc Huế.
Ngày trước, trong hoàng cung Huế, triều đình thành lập ban nhạc cung
đình để phục vụ trong các dịp lễ lượt; lập ra những nhà hát như Duyệt Thị
Đường, Minh Khiêm Đường... với các đội ca múa cung đình để phục vụ nhu
cầu giải trí của vua chúa và đình thần. Ngoài việc thưởng ngoạn các vở tuồng
hay các điệu múa cung đình trong các nhà hát triều đình, vốn được coi là một
món “độc quyền” của vua chúa bởi quy mô và mức độ tốn kém của chúng,
Huế còn có một thú vui khác rất được những người thuộc tầng lớp thượng lưu
tán thưởng. Ðó là thú thưởng thức ca nhạc Huế.

Ca nhạc Huế là sự kết hợp của nhã nhạc và ca Huế. Ðó “không phải là
loại nhạc dân gian, vì nó chỉ được giới quyền quý hoặc trong cung đình sử
dụng..., là loại quan nhạc chứ không phải dân nhạc” (Nhận xét của GS. Trần
Văn Khê).



9 Nhiều vị vua, nhiều ông hoàng bà chúa và quan lại trong triều như
vua Tự Ðức, Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương, Tương An Công, Mai Am
công chúa, Ưng Bình Thúc Giạ Thị, Nguyễn Công Trứ... đã đặt nhạc, viết ca
từ cho các điệu ca Huế. Những người này trực tiếp góp phần vào việc sản sinh
ra một thú giải trí được công chúng lớp trên yêu thích và thời ấy, cũng chỉ có
7 Tôn Nữ Hỷ Khương. Hồi ức về cha tôi: Ưng Thúc Bình Giạ Thị,
Nxb Văn nghệ Thành phố Hồ
Chí Minh, 1996, tr. 73-74.
8 Tôn Nữ Hỷ Khương, Sách đã dẫn, tr. 74.
9 Dẫn theo: Tôn Nữ Hỷ Khương. Hồi ức về cha tôi: Ưng Thúc Bình Giạ Thị, Nxb Văn nghệ Thành
phố Hồ Chí Minh, 1996, tr. 74.
26
họ mới có đủ điều kiện tài chính và có đủ trình độ để thưởng thức thứ quan
nhạc giàu tính bác học này.

Ảnh 12: Thưởng thức ca Huế trên sông Hương
Thú vui này xuất phát từ trong cung, trước hết, dành riêng cho vua và
hoàng gia, sau lan ra các phủ đệ của các ông hoàng bà chúa và những chức
sắc cao cấp, rồi mới trở thành một thú vui của các bậc tao nhân mặc khách
trước khi phổ biến rộng rãi trong công chúng như hiện nay. Ca nhạc Huế có
thể được tổ chức trong các phủ đệ theo kiểu ca nhạc thính phòng hay trong
các khoang đò trên sông Hương trong những đêm trăng thanh gió mát.
Ðêm ca nhạc Huế thường diễn ra ở một vương phủ hay một tư dinh
nào đó. Chủ nhân mời một ban nhạc gồm năm, sáu nhạc công với bốn, năm ca
nhi đến đàn ca xướng hát trong một thính phòng nho nhã, xinh xắn, có bày
biện đối liễn, thi họa, hoa và cây kiểng; có rượu, trà và vài món đồ nhắm cùng
của dăm bảy khán giả am tường và đam mê ca nhạc Huế.
Thú vị nhất là được thưởng thức ca nhạc Huế trên sông Hương. Người
ta thuê một con đò, hoặc nếu đông người thì dùng hai con đò ghép thành một
chiếc bằng, trải chiếu hoa, mời ban nhạc, ca sĩ và bằng hữu xuống đò trong
một đêm trăng. Con đò ngược dòng Hương, rời khỏi chốn thị thành ồn ào,
huyên náo, đi tìm một bến nước bình yên, tĩnh lặng mới buông neo để bắt đầu
một đêm vui. Phần đầu chương trình, các nhạc công và ca sĩ thường biểu diễn
những bài bản thuộc điệu Bắc với giai điệu rộn ràng, tươi vui như: Phú lục,
Cổ bản, Lộng điệp, Lưu thủy... Sau đó là những bài bản trang trọng, uy
27
nghiêm như Long ngâm, hay những bản nhạc không buồn, không vui như Tứ
đại cảnh. Ðêm càng về khuya, không gian càng yên tĩnh, sâu lắng, ấy là lúc
những điệu: Nam ai, Nam bình, Quả phụ, Tương tư khúc... ai oán, buồn
thương nhưng gợi cảm được cất lên giữa trời đêm lồng lộng. Cái cảm giác
bồng bềnh, chơi vơi trên sóng nước, được lời ca, tiếng đàn chắp cánh, lại có
chút men rượu kích thích khiến tâm hồn người nghe như đang phiêu lãng đến
tận cung Hàn. Thi thoảng, theo yêu cầu của khán giả, ca sĩ biểu diễn một khúc
chầu văn trong âm thanh réo rắc của cây đàn nhị, đàn tranh; trong tiếng gõ
lách cách của cặp sênh; tiếng rung leng keng của những chiếc tách trà trong
tay ca sĩ, khiến không gian trong khoang đò chợt nhuốm màu ma thuật, đồng
bóng, còn hồn người thì ngất ngây, nửa như say, nửa như tỉnh. Cái đam mê
huyền hoặc mà người ta cảm nhận được từ thú vui này phát sinh từ bầu không
khí đặc biệt ấy. Ðôi khi, người ta cũng biểu diễn những điệu lý, điệu hò dân
gian để đêm ca nhạc trên sông Hương được thêm phần phong phú, hấp dẫn.

 
 
Ngày nay, thú nghe ca Huế không còn là trò giải trí “độc quyền” của
lớp trên mà trở thành một thú vui hấp dẫn nhiều du khách đến thăm Huế.
Hàng đêm, những con thuyền đầy ắp lời ca tiếng nhạc vẫn xuôi ngược trên
dòng Hương, như là một hình ảnh đáng yêu của đời sống văn hóa nơi miền
đất sông Hương, núi Ngự.
28
THÚ UỐNG TRÀ
Người Việt Nam ở vùng nào cũng biết uống trà. Uống trà dịp để bằng
hữu tụ họp với nhau đàm đạo văn chương, luận bàn thế sự, hay chỉ để tán
ngẫu những chuyện vui buồn đã qua. Có khi, cuộc trà được bày ra trước một
cuộc vui như là một nghi thức giao tiếp. Ðôi lúc, nó là phần kết của một tiệc
rượu, vừa để giải khát, vừa để giải tửu (tiền tửu, hậu trà). Ở Huế, việc uống
trà, tuy chưa phải một thứ tôn giáo như Trà đạo của Nhật Bản, hay được nâng
thành một thứ nghệ thuật giàu triết lý như ở Trung Hoa, nhưng nó thực sự là
một thú vui tao nhã, cầu kỳ và công phu.
Nhiều người Huế coi việc uống trà không chỉ để giải khát, theo họ đó
thực sự là một lạc thú tinh thần. Dưới thời Nguyễn, trong nhiều gia đình
quyền quý, việc uống trà được nâng thành một thú tiêu khiển. Người ta có
nhiều cách uống trà tuỳ vào thời điểm, địa điểm và tính chất của một cuộc trà.
Với người Huế, uống trà cũng là một nghệ thuật giàu chất trí tuệ, thẩm mỹ và
biểu cảm. Ngày xưa, người ta đã từng đánh giá tính cách, quan niệm sống,
trình độ và khả năng nhận thức thẩm mỹ cũng như tâm trạng hay tình cảm của
con người qua việc uống trà.
Xứ Huế đã một thời là kinh đô của một quốc gia phong kiến. Trong
cái bề dày văn hóa phủ trên mảnh đất Thuận Hóa xưa có một phần là sản
phẩm của giai cấp phong kiến. Thú uống trà nằm trong phần đó! Không ai
trong chúng ta xa lạ với việc uống trà, bởi vậy nước ta là một trong những nơi
sản sinh ra cây chè - loại cây quyết định việc hình thành thú vui thanh đạm và
tao nhã này. Người ta đã tìm ra trên 40.000 cây chè hoang mọc trên những
vùng đất “mây trắng vờn chân ngựa, nhấp nhô đá tai mèo” ở Hà Giang, Lào
Cai... nơi có những cây chè đại thụ, thọ trên 300 tuổi mà vẫn rừng rực nhựa
sống, vẫn đủ sức tạo cho đời những búp chè thanh tân, quý giá để làm tăng sự
hấp dẫn của thú uống trà. Ở đâu, người ta cũng “biết” uống loại trà: Hồng
Đào, Thanh Tân, Phú Thọ, Bắc Thái, trà tuyết Hà Giang...

Song hầu như chỉ ở Huế, chuyện uống trà của người Việt mới được nâng thành một cái thú tiêu
khiển. Điều này có căn nguyên của nó. Bấy giờ, vì là đất thượng kinh, xứ Huế
đã sản sinh một tầng lớp quý tộc. Họ là những người trong hoàng tộc hay lớp
nho sĩ phong kiến hoá, tức là những quan chức trong triều Nguyễn cùng con
cháu của họ. Tầng lớp này đã tạo ra những thú vui vừa khác với dân gian lại
vừa không giống với những thú vui tương đồng của giới quý tộc ở Bắc Hà
trước đây. Có chuyện này là do bấy giờ, giai cấp phong kiến nhà Nguyễn cố
tạo ra những khác biệt về văn hóa, chính trị, xã hội... so với các triều đại
trước, nhất là đối với triều đại Lê - Trịnh. Nhưng sự khác biệt này lại dựa trên
những chuẩn mực của Trung Hoa, tuy có cải biến đôi phần cho phù hợp với
phong thổ và con người xứ Huế. Chính điều này khiến việc uống trà nói riêng,
văn hoá nghệ thuật nói chung ít nhiều mang ảnh hưởng từ Trung Hoa. Tuy
29
nhiên giữa lối uống trà Huế và lối uống trà Tàu vẫn có những dị biệt, từ quan
niệm, phong thái uống trà đến cách thiết trí trà thất và nghi thức thực hiện.
Người Huế cũng chú ý đến khía cạnh y học và lạc thú trong uống trà,
song không lấy đó làm điều câu nệ. Uống trà theo kiểu Huế thể hiện lối ứng
xử, hành vi giao tiếp và cả ân tình giữa người với người. Người Huế uống trà
trong trà thất nho nhã, ấm cúng; uống trong phòng khách, cũng có thể uống
trà giữa những vườn cây trĩu quả mà bất kỳ lúc nào, ẩm khách cũng có thể với
tay hái một vài loại quả để nhấm nháp hay tận hưởng mùi hương của vô vàn
loại hoa quanh họ. Cao hứng trà chủ có thể vừa cầm chén trà, vừa mời khách
đi dạo trong vườn để vãn cảnh, ngắm hoa. Thi thoảng, chủ và khách còn tức
cảnh vịnh thơ hay ngâm nga đôi câu thơ của tiền nhân mà họ tâm đắc. Nếu
người Nhật coi trọng việc tổ chức trà thất, người Trung Hoa chú ý việc chọn
trà, coi đó là những yếu tố quyết định tính hấp dẫn, lôi cuốn của thú uống trà,
thì người Huế lại đặt những điều đó xuống hàng thứ yếu. Tùy khách, tùy thời
mà người ta có những lối uống trà thích hợp. Một cuộc trà là một dịp gặp gỡ
để đàm đạo văn chương, luận bàn thế sự, để hàn huyên và nhắc lại những sự
kiện vừa đi qua đời họ.

 
30
 
Điều đặc biệt là trong uống trà của Huế luôn luôn có kèm các thức ăn
nhẹ. Người Huế uống trà với mứt gừng, kẹo mè xửng, mạch nha, kẹo đậu
phụng... có khi chỉ với một cục đường phèn. Vị chát của trà sẽ có thêm vị
ngọt, vị bùi của đường và mứt bánh bổ khuyết. Hương trà hòa quyện với mùi
thơm của đậu phụng, gừng, mạch nha khiến nó đậm đà hơn, quyến rũ hơn.
Phụ nữ Huế vốn khéo tay trong nghệ thuật làm mứt bánh nên việc mời khách
dùng trà với các sản phẩm do họ làm ra, ngoài việc tỏ sự quý khách còn để
phô bày tài nghệ nữ công gia chánh của họ.

Ngày xưa, tầng lớp quý tộc ở Huế uống trà cầu kỳ và công phu lắm.
Họ tạo ra và tuân thủ một cách nghiêm ngặt những nghi thức rườm rà và vô
cùng quan trọng. Một cuộc trà gọi là đầy đủ và đúng điệu phải đủ các yếu tố:
Phòng trà, đồ trà, trà và nước trà, tuần trà và thời gian uống trà.
- Phòng trà: Buổi mạn trà thường được tổ chức trong một trà thất xinh
xắn, trang nhã. Đó là một gian phòng biệt lập hay một khoảng không gian yên
tĩnh và trang trọng nhất trong gia đình. Trên tường là vài bức tranh thủy mặc,
dăm ba bài thơ chữ Hán hay vài đôi câu đối khuôn mình trong những bức
liễn, một kệ sách, vài pho tượng cổ. Chính giữa trà thất được trải chiếu và kê
một cái trường kỷ, cạnh bên là vài chậu hoa hay đôi giò phong lan treo lủng
lẳng cửa sổ để tăng thêm sự thi vị cho cuộc trà. Đôi lúc, buổi uống trà được tổ
chức trong vườn, dưới tán một cây lớn. Bộ đồ trà bày trên một bàn đá lớn ở
31
giữa, xung quanh là những đôn sứ dành cho ẩm khách. Một bên là bể cá kiểng
có những hòn non bộ được tạo dáng lạ lùng, kỳ bí, một bên là những vườn
hoa với những nụ hồng, cẩm chướng, đồng tiền... đang khoe sắc. Tất cả như
một bức tranh nhiều màu, nhiều vẻ, ở đó, sự hài hòa của cảnh vật sẽ hội nhập
với không khí buổi mạn trà và cái thần của con người để tạo ra một thực cảnh
rất ngoạn mục.
- Đồ trà: Dụng cụ cần thiết cho một cuộc trà bao gồm hỏa lò, siêu nấu
nước, hũ đựng nước lạnh, ấm trà và bộ đồ trà hoàn chỉnh có đủ bốn món: dầm
(dĩa bàn nhỏ đựng chén tống); bàn (dĩa đựng những chén tốt); tống (còn gọi là
chén tướng, là loại chén lớn để chuyên trà); tốt (hay gọi quân, chén nhỏ để
uống) chiếc ấm đất, hũ đựng trà, than củi, trầm hương. Với người sành điệu,
chắc chắn không thể thiếu bình thuốc lào với dĩa đèn dầu phụng. Cũng cần
phải nói thêm rằng, ấm chén trà vốn đa dạng và tùy lúc, tùy cảnh mà chọn lựa
và sử dụng cho phù hợp. Mùa xuân dùng xuân ẩm, mùa hạ có hạ ẩm, mùa thu
thì nhường chỗ cho thu ẩm, đông về lại cần đông ẩm. Hoặc uống một người
thì có độc ẩm, hai người thì có song ẩm và “đại trà” thì phải dùng đến ngưu
ẩm. Song chẳng mấy khi có cuộc trà ngưu ẩm, bởi “cái thú uống trà ... không
thể ồn ào được. Lối giao du của cổ nhân đạm bạc chứ không huyên náo như
bây giờ. Chỉ có người tao nhã, cùng một thanh khí mới có thể cùng nhau ngồi
bên một ấm trà...”.10

10 Nguyễn Tuân, Vang bóng một thời, Nxb Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 1996, tr. 124.
32
Từng bộ đồ trà được vẽ vời, trang trí theo những điển tích riêng như
đồ trà Tô Vũ mục dương, Nhất chẩm tùng phong... Đặc biệt ở Huế có bộ trà
nổi tiếng - đồ trà Mai hạc. Bộ đồ uống trà làm bằng sứ ký kiểu, có vẽ hình
con chim hạc đứng bên gốc mai già và hai câu thơ:
Nghêu ngao vui thú yên hà
Mai là bạn cũ, hạc là người quen
Tương truyền đó là bộ ấm chén mà Nguyễn Du mang từ Trung Quốc
về nhân lần ông đi sứ sang Trung Quốc vào năm Quý dậu (1813). Về sau
người ta đã dựa theo motive này để trang trí cho hàng loạt đồ sứ men lam
Huế. Chén trà Huế làm theo kiểu “mắt trâu - lật đật”, có đáy tròn và nặng nên
có ngoại lực tác động vào thì chúng dao động như con lật đật nhưng cuối
cùng luôn trở lại vị trí thăng bằng. Người ta cho rằng việc các vua chúa nhà
Nguyễn và tầng lớp quý tộc ở Huế thích dùng đồ trà “mắt trâu - lật đật” là vì
họ có ý coi chúng là biểu tượng sự vươn dậy và lớn mạnh của dòng họ
Nguyễn trước mọi biến cố thăng trầm của dòng họ và lịch sử.
- Trà và nước pha trà: Trước hết xin nói về trà. Người Huế xưa tuy
không công phu trong việc chọn trà như người Trung Quốc, song cũng có
những loại trà được pha chế, chọn lựa thật tinh tế, cầu kỳ, như trà tước thiệt,
trà cạp quần, trà ướp Tĩnh Tâm - một trong hai mươi thắng cảnh của đất thần
kinh. Vào buổi chiều tà, người ta sai gia nhân chèo thuyền trên hồ Tĩnh Tâm,
mang trà bỏ vào những nụ sen rồi lấy dây buộc lại. Mờ sáng hôm sau, người
ta lại chèo thuyền đến, lấy trà ra rồi đem pha uống. Thật là cầu kỳ làm sao.
Trong dân gian cũng có nhiều loại trà: Chính Thái, Sinh Thái, B’lao, Mai
Hạc... mỗi loại uống vào mỗi giọng khác nhau bởi cách thức sao tẩm và các
loại hương vị phụ gia dùng trong pha chế.
Nước để pha trà xem ra cũng lắm công phu. Vua chúa nhà Nguyễn
thường sai nô tỳ chèo thuyền trên các hồ sen lúc sáng sớm để hứng các giọt
sương đêm còn đọng trên lá đem về làm nước pha trà, hay lấy nước trong
những mạch nước đá ngầm trên núi cao, nếu không thì cũng dùng loại nước
mưa hứng giữa trời để pha trà.
- Tuần trà: Bước vào một cuộc trà, chủ nhân ngồi về bên phải để tiện
việc pha trà và khách được xếp ngồi ở phía trái. Công việc nhóm lò luôn được
chủ nhân đảm nhiệm và được coi là công việc thích thú nhất. “Những lúc ấy,
chủ nhân phải tự tay mình chế nước, nhất nhất cái gì cũng làm lấy cả, không
dám nhờ đến người khác, sợ làm thế thì mất hết cả thành kính”11. Lúc nhóm
lò, người ta bỏ thêm ít trầm. Sau vài phút, than bốc lửa, quyện với khói trầm
làm căn phòng trở nên u tịch, ấm cúng. Siêu nước được đặt lên và những câu
chuyện bắt đầu nở như ngô rang. Trà chủ tự tay pha trà, đó cũng là cái thú
11 Nguyễn Tuân, Vang bóng một thời, Nxb Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 1996, tr. 128.
33
riêng của những kẻ tự nhận là trà nô. Nước trà được rót vào chén tống, để cho
lóng cặn rồi mới chuyên ra chén tốt mời khách. Khi chuyên trà, không bao giờ
được rót cạn nước mà luôn giữ lại trong bình một phần nước cốt dành cho ấm
sau. Nhờ đó mà luôn giữ được đậm đà cho đến nước cuối. Lúc tuần trà đầu
tiên được nâng chén cũng là lúc bình thơ, vịnh cảnh bắt đầu. Hương trà cùng
mùi trầm, mùi thơm của mứt bánh hòa với nhau làm hấp dẫn trà hữu, vừa làm
cho tinh thần họ sảng khoái, trí óc minh mẫn và thi hứng nồng nàn chợt đến.
Người xưa có nhiều cách uống trà: uống một người gọi là u (trầm mặc); uống
hai người gọi là thắng (vui tươi); uống ba người gọi là thích (thích thú); uống
bốn người gọi là tứ (ban ân). Thời gian uống trà không cố định, có thể buổi
sớm, cũng có khi vào buổi chiều và lâu mau tùy ý. Uống trà là một thú vui
thanh đạm và cầu kỳ của người Huế xưa. Nó được hình thành từ lối sống
thượng kinh và được tiếp nối bởi nhiều thế hệ mà thành nếp, thành một thú
tiêu khiển thanh cao và là một nét son trong văn hóa ẩm thực xứ Huế.

Người Huế uống trà không chỉ để thưởng thức hương vị của trà. Họ
còn lưu tâm đến nội dung các cuộc mạn trà và nét đẹp nghệ thuật của loại
hình, dáng kiểu, hoạ tiết trang trí trên đồ trà và phong cách bài trí trà thất. Vua
quan nhà Nguyễn đã sai người sang Trung Quốc đặt làm những bộ đồ uống
trà nổi tiếng bằng sứ men lam như bộ đồ trà Giáp tí niên chế do các sứ thần
34
mang về năm 1804; đồ trà Tự Đức niên chế... Và trong cái thú uống trà, còn
có cái thú chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nét bút tài hoa trên ấm chén, bình thơ văn
và nghiền ngẫm sự tích lưu lại trên đó. Mới hay cái chuyện “trà dư, tửu hậu”
ở Huế cũng công phu, cầu kỳ và hấp dẫn nhường nào!

THẢ THƠ
 Thả thơ cũng là một trò giải trí tao nhã của tầng lớp trí thức ở kinh đô
 Huế thuở trước. Ðó là lối đánh bạc bằng trí tuệ, bằng sự nhanh trí và vốn kiến
thức uyên thâm của tầng lớp nho sĩ đất thần kinh, xứng danh là trò đánh bạc
bác học. Tham dự trò này chủ yếu là giới trí thức, quan lại có học vấn. Gọi là
thả thơ hay đánh thơ đều được. Bởi chỉ cùng một chuyện cờ bạc bằng thi ca,
nhưng nhìn vào động tác thực hiện thì gọi là thả, mà xét đến tính chất đỏ đen
thì gọi là đánh. Huế là đất văn vật nên người ta thích dùng từ thả thơ để gọi
tên trò chơi này.
Cái hay của thú thả thơ là người ta dùng văn chương để giải trí. Người
thắng cuộc là những kẻ có hai niềm vui cùng một lúc: vui vì được bạc và vui
vì đã khoe được với thiên hạ tài thi phú và vốn hiểu biết sâu sắc của mình.
Tuy nhiên, trò đời cũng lắm cái trớ trêu. Có khi, những kẻ ít chữ hơn, mới tập
tễnh bước vào giới văn chương chữ nghĩa lại là kẻ thắng cuộc. Họ thắng cuộc
bằng sự suy đoán thơ ngây, thô lậu của mình nhưng lại được vận may trông
đến. Còn những bậc thức giả, do quá tự tin vào tài năng và sự suy đoán của
mình nên lắm lúc thua đau. Ðó cũng chính là cái độc đáo, cái thú vị đầy tréo
ngoe của thú thả thơ.
Ngày trước, ở Huế, một số địa chỉ như: phủ Tuy Lý Vương, phủ bà
Chúa Nhứt (Mỹ Lương công chúa), Quốc Sử Quán... là những nơi tao ngộ của
những bậc phong lưu đam mê chuyện “sát phạt lịch thiệp” này. Ðó là những
nơi thả thơ tài tử, không chuyên nghiệp nên các câu thơ dùng để thả không
phải do họ đích thân chuẩn bị, mà thường mua của những người chuyên làm
các câu thơ đố ấy. Một trong những nơi thường bán các câu thơ thả là phủ Lạc
Biên bên Gia Hội. Lá thơ để thả rất thô sơ, được làm từ giấy bổi, cỡ 10cm x
35cm. Trên mảnh giấy đó người ta ghi theo thứ tự từ dưới lên trên. Ðầu tiên là
câu thơ thả. Ðây là một câu thơ không trọn vẹn, vì có một chữ không được
viết ra mà thay vào đó là một vòng tròn. Chẳng hạn, người ta chọn câu thơ
Ðường: Bạch nhật y sơn tận (白 日 依 山 盡) làm câu thơ thả và chữ thả là
chữ tận (盡), thì câu thơ sẽ được viết thành: Bạch nhật y sơn O (白 日 依 山
O). Tiếp theo là các chữ dành cho người chơi chọn lựa để thay vào vị trí còn
để trống, gọi là chữ thả. Thường có 5 chữ thả. Ðó là những chữ có cùng một
chức năng ngữ pháp với chữ đã thay bằng dấu O nhưng khác nghĩa, khi thay
vào câu thơ thả sẽ làm câu thơ có một nghĩa khác. Trong trường hợp trên,
35
những chữ được ghi có thể là: lạc (落), xuất (出), nhập (入)... và chữ tận (盡)
của câu thơ gốc. Và trên cùng là chữ giải, tức là đáp án, chỉ một chữ duy nhất,
được lấy từ câu thơ thả (chẳng hạn trong ví dụ trên là chữ 盡). Những mảnh
giấy sau khi được ghi chép đầy đủ như trên sẽ được cuốn vào một que tre,
cuốn từ dưới lên, sao cho chữ giải phải nằm trong cùng, chỉ lộ ra khi nhà cái
công bố. Người ta bó những chiếc “que thơ” này thành từng bó để bán cho
người tổ chức cuộc thả thơ.

 Người ta thường thả thơ vào ban đêm, trên một chiếc chiếu trải nơi
hiên của một phủ đệ, nha sở nào đó. Phía trên có một, hai chiếc đèn lồng,
ngay giữa chiếu là nhà cái, ngồi cùng bó que thơ. Khách đánh thơ thì tụ tập
ngoài sân và không hạn chế số người. Gọi là thả thơ, nhưng thường thì người
ta để câu thơ thả trên chiếu và mở ra một cách chậm rãi vì sợ thả mạnh thì chữ
giải sẽ lộ mất. Thơ được chọn thường là Ðường thi, Tống thi, hay Minh thi,
nhưng phần nhiều là Tống thi và Minh thi, vì Ðường thi có nhiều người biết.
Những câu thơ được chọn phải có xuất xứ rõ ràng và nhà cái thường phải
mang theo các tập thi tuyển có câu thơ được chọn, để chứng minh tính chính
xác của chữ giải, mỗi khi có người thắc mắc. Tỷ lệ đặt cược là đặt một ăn ba.
Thả xong câu này thì rút câu khác. Phía trước những nơi thả thơ thường có
hàng quán bán đồ ăn thức uống phục vụ khách chơi. Ðôi khi những người dự
cuộc cũng góp tiền để nhờ người trong phủ lo giùm đồ ăn thức uống để có
chút bồi dưỡng sau những cuộc vui khuya khoắt.
36
Những người đứng ra tổ chức cuộc thả thơ, tức nhà cái, thường là
những nho sĩ nghèo, nhàn nhã, muốn dùng tri thức của mình để kiếm tiền, để
giải trí và kết thêm tình bằng hữu với những nhà nho tứ xứ. Vài tháng họ tổ
chức thả thơ một lần do yêu cầu của bạn bè, hoặc do muốn khuây khỏa tinh
thần. Nhưng cũng có những người thả thơ chuyên nghiệp. Họ là những tay
giang hồ, “tay cầm bầu rượu túi thơ” đi “phiêu lãng tang bồng” khắp nơi.

 Có khi họ đi một mình, có khi đem theo vợ con hoặc tình nhân rày đây mai đó.
Ðến những nơi thích hợp, họ mượn huyện đường hay tư dinh của những chức
sắc địa phương để tá túc và tổ chức thả thơ, khi xong việc, lại đi nơi khác.


 Thú vị nhất, có lẽ, là những đêm thả thơ trên sông Hương. Thường thì
vào những đêm trăng thanh gió mát, người ta dùng đò kết thành những chiếc
bằng lớn, đủ chổ cho vài chục người lên xuống, tụ tập vui chơi. Trên bằng có
rượu, trà, hoa trái và cả một ban ca kỷ phục vụ ca Huế. Nhà cái trải chiếu ở
giữa bằng, đốt thêm dăm dĩa đèn dầu phụng để các “con bạc” quan sát cho
tường, rồi mở túi thơ bên mình bốc ra một câu. Ban nhạc hòa tấu khúc ca
thuộc điệu Bắc, bắt đầu một đêm thả thơ trong sự rộn rã, vui tươi.
Trước khi có cuộc thả thơ, những nhà cái chuyên nghiệp thường bỏ
hàng tháng trời để chuẩn bị. Họ lục lọi trong mớ sách cũ, lựa vài cuốn thơ của
những thi sĩ nổi tiếng Trung Hoa và Việt Nam, rồi đọc một cách chậm rãi, kỹ
lưỡng. Họ đọc liên tục từ ngày này sang ngày khác, chọn những câu thơ hay
và ghi vào cuốn sổ, cạnh đó họ ghi thêm những chữ sẽ được dùng để thả sau
37
này. Khi cuốn sổ đã dày đặc nhưng câu thơ chọn, người ta không đọc nữa,
quay sang nghiền ngẫm ý tứ từng câu, từng chữ rồi duyệt lần cuối cùng trước
khi viết vào mảnh giấy bổi. Trong chuyện chọn thơ để thả, nhà cái có nhiều
ngón nghề. Họ thường chọn những bài thơ ít ai biết đến của các tác giả nổi
tiếng để ra đố. Sở học mênh mông như biển, mấy ai đọc hết thơ của thiên hạ
để dự cuộc đánh bạc bằng văn chương. Người ta cũng chọn những câu thơ có
cách dùng chữ không đắt để ra đề nhằm để “trị” những tay chơi sành sỏi và
uyên thâm. Hạng người này có tài thi phú, thuộc nhiều thơ văn nhưng lại mắc
chứng ngông của nhà nho, chỉ chăm chú vào những từ rất đắt để thả, mà bỏ
qua những chữ tầm thường. Kết quả là đôi khi những kẻ thi tài kém cõi hơn
nhưng lập dị, không thích dự vào những chữ người ta đánh nhiều quá nên
chọn chữ khác để thả và “trúng quả”, trong khi bao bậc anh hào vì chủ quan
nên cháy túi. Cái thú vị của trò thả thơ là ở chỗ ấy. Ðó là chưa kể mỗi khi
tiếng thơ được mở, kẻ được bạc cứ ngâm lui, ngâm tới câu thơ thả, giờ đã đầy
đủ ý nghĩa, như để nhấm nháp niềm vui thắng lợi, còn người thua tiền thì lại
tạm lui vào một góc, nhâm nhi chén rượu, lắng nghe vài khúc cổ nhạc hay
một điệu ca Huế để giải khuây chờ ván khác.
ÐỐ THƠ
Có một trò khác cũng liên quan đến chuyện thi văn, nhưng sự thắng
thua không dựa trên học vấn uyên thâm và thi tài của người dự cuộc, mà nhờ
vào óc suy luận và sự láu lĩnh của người chơi. Ðó là trò chơi đố thơ. Trò chơi
này thường do các phú hộ, các hiệu buôn khởi xướng. Ðó vừa là một trò giải
trí, vừa là cách để người ta quảng cáo thương hiệu và uy thế của gia tộc mình.
Trò chơi này có gốc gác Trung Hoa, thường được các đại gia trong khu phố
Tàu bên Gia Hội tổ chức.
Vào ngày đầu tháng hay nhân dịp khai trương một tiệm buôn nào đó,
chủ hiệu đem treo trước ngõ một chiếc lồng đèn có đề thơ và ra điều kiện: sau
một tháng ai giải được câu thơ (hay bài thơ) ấy sẽ được thưởng. Nếu sau một
tháng, không ai có lời giải đúng, chủ nhân sẽ giải đáp và thay vào đó một
chiếc lồng đèn có câu thơ khác, tiếp tục mời người dự giải.
Những người tham gia trò này thường không phải là những nhà người
có học vấn cao hay những người sở đắc “túi thơ” của thiên hạ, vì rằng câu thơ
đề trên chiếc lồng đèn kia, tuy là thơ của một đại thi hào, nhưng lại được sử
dụng cho mục đích khác, xem ra rất ngô nghê, thô lậu. Ðã mang danh kẻ sĩ,
mấy ai chấp nhận cái trò đoán mò vớ vẩn ấy. Vì thế kẻ thắng trong các cuộc
đố thơ như thế thường là những người có trí thông minh nhưng bị người đời
coi là khôn vặt.
38


Dưới đây là hai trong số những câu thơ từng được đề trên lồng đèn để
đố mà một nhân chứng của thuở ấy còn nhớ được.
- Nhất bộ nhất bái đáo Hàn sơn (一 步 一 拜 到 寒 山). Ðố là con gì?
Câu thơ này gợi lại tích Hồng Hài Nhi, vì ngoan cố không chịu quy
phục, nên bị Ðức Quan Thế Âm phạt tội, bằng cách đi một bước, phải lạy một
lạy, cho đến núi Hàn sơn. Hình ảnh này giống như con tôm đang di chuyển,
vừa búng vừa nhảy, nên lời giải của nó là con tôm.
- Nhân diện bất tri hà xứ khứ (人 面 不 知 何 處 去). Ðố là con gì?
Ðây là hai câu kết trong bài thơ Ðề tích sở kiến xứ của Thôi Hộ, đời
Ðường. Hai câu này được giải thích như sau: Nhân diện bất tri hà xứ khứ, có
nghĩa là có kẻ có mặt giống người, không biết đã đi đâu. Trong môn số đề, là
một trò đánh bạc ăn theo trò chơi xổ số, cây đào và con khỉ lại chung với nhau
một con số, nên cây đào cũng chính là con khỉ. Kẻ có khuôn mặt giống người
cũng ngụ ý con khỉ. Vậy lời giải của câu này là con khỉ.
39


 Với cách ra đố và giải đố như thế, những kẻ chính danh khó mà tham
dự trò này. Nhưng đó cũng là một trò chơi được ưa thích ở Huế xưa vì trong
thiên hạ có kẻ này, người khác, chẳng ai giống ai. Trí lực và sở thích của họ
cũng vậy.
ÐẦU HỒ

Ðầu hồ (投 壺) là một trò chơi có nguồn gốc từ Trung Hoa. Đầu (投)
nghĩa là ném; hồ (壺) nghĩa là cái bình. Trò chơi này được mô tả khá chi tiết
(cùng với 20 hình vẽ minh họa) trong cuốn Nhật dụng bách khoa toàn thư
xuất bản tại Ðài Loan năm 1935.12 Theo sách này, bộ dụng cụ chơi đầu hồ
gồm một chiếc bình cao cổ làm bằng đồng, đường kính miệng khoảng 3 tấc 13
cao khoảng 1 thước đựng đầy hạt đậu nhỏ, hai bên miệng bình có gắn hai cái
tai, là những chiếc ống nhỏ, không có đáy và một bộ tên gồm 12 chiếc, mỗi
12 Nhật dụng bách khoa toàn thư (chữ Hán), Thương vụ ấn thư quán phát hành, Ðài Bắc, 1935, tr.
5330-5335.
13 Kích thước dùng trong sách này theo hệ thống đo lường Trung Hoa: 1 thước = 10 tấc = 40cm.
40
mũi tên dài 2 thước 4 tấc. Người chơi đứng cách chiếc bình một khoảng bằng
2,5 chiều dài mũi tên và tìm cách ném những mũi tên lọt vào miệng bình.
Ngày trước, mỗi người chơi chỉ được ném tối đa là 4 mũi tên. Về sau, luật có
thay đổi, nếu người chơi ném trúng một lượt tên thì giữ quyền ném mũi tên kế
tiếp, đến khi nào ném trật ra ngoài thì mới ngưng lượt. Nếu một người ném
trúng 12 lần liên tiếp thì gọi là toàn hồ, được tôn là hiền (giỏi). Nếu không
vào trọn 12 mũi tên một lượt thì ai đạt 120 điểm trước sẽ là người thắng cuộc.
Nếu có nhiều người cùng đạt 120 điểm thì người nào còn tên nhiều sẽ thắng.


Một nghiên cứu của Isabelle Lee đăng trên nguyệt san The Oriental
Ceramic Society, tựa là Touhu: Three Millennia of the Chinese Arrow Vase
and the Game of Pitch-Pot14 (Đầu hồ: Ba thiên niên kỷ của chiếc bình đựng
14 “Touhu: Three Millennia of the Chinese Arrow Vase and the Game of Pitch-Pot”, Lecture given
by Isabelle Lee on October 8th 1991, Transactions of The Oriental Ceramic Society. Volume 56.
1991-1992. The Oriental Ceramic Society in Association with Azimuth Editions London, 1993, pp.
13-27.
41
mũi tên Trung Hoa và trò chơi ném tên vào bình), cho biết trò chơi đầu hồ
xuất hiện ở Trung Hoa vào thời nhà Chu (1122 - 249 trước CN); trở nên phổ
biến vào thời kỳ Xuân Thu (770 - 476 trước CN) và liên tục phát triển và cách
tân bởi nhiều triều đại Trung Hoa, cho đến đời Thanh (1644 - 1911) mới
chấm dứt. Đây là trò chơi có nguồn gốc lâu đời và tồn tại dài nhất trong lịch
sử Trung Hoa.
Nhiều nguồn sử liệu thời thượng cổ của Trung Hoa như: Lễ ký, Sử ký,
Tả truyện, Tấn thư, Hậu Hán thư...; nhiều tác phẩm điêu khắc, tranh vẽ, thi
phú, khảo cứu… của các tác giả vô danh và hữu danh trong lịch sử Trung Hoa
đã phản ánh và miêu tả trò chơi nổi tiếng này.
Theo sách Lễ ký, được viết ngay sau khi nhà Chu kết thúc, đầu hồ là
trò chơi ở các tiệc rượu trong giới quý tộc và chư hầu của nhà Chu. Thay vì tổ
chức thi bắn cung trong khi uống rượu, họ đã phát minh ra trò ném những mũi
tên vào những chiếc bình, trước đó, dùng để đựng rượu. Ai ném lọt nhiều mũi
tên vào miệng bình thì được quyền mời rượu người khác. Ai không ném trúng
thì phải chịu phạt, không được từ chối lời mời uống rượu của người chiến
thắng. Theo sách Lễ ký, đầu hồ thường xuất hiện trong các đại tiệc của triều
đình. Nơi tổ chức cuộc chơi thường là sân chầu. Nếu thời tiết không thuận lợi
thì chơi trong nhà. Thời điểm chơi đầu hồ thường vào buổi tối. Lễ ký chép
rằng chơi đầu hồ là một cách thể hiện đức hạnh.
Từ Trung Quốc, trò chơi đầu hồ lan truyền sang Nhật Bản vào thời
nhà Đường (618 - 906); sang Triều Tiên vào thời kỳ Joseon (1290 - 1910) và
sang Việt Nam vào thời Nguyễn (1802 - 1945). Hiện tại, Bảo tàng Shoso-in
(ở Nara, Nhật Bản); Bảo tàng Cố cung và Bảo tàng Hoam6 (ở Seoul, Hàn
Quốc); Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế (ở Huế, Việt Nam) đều đang trưng
bày những bộ đầu hồ cổ, làm bằng nhiều chất liệu khác nhau.
Vào thời Nguyễn, đầu hồ là trò chơi khá phổ biến rất được giới vương
giả, quyền quý ưa chuộng. Richard Orband, nguyên công sứ Trung Kỳ thời
thuộc Pháp, đã có một bài viết trên BAVH vào năm 1917 giới thiệu về những
chiếc đầu hồ bằng pháp lam ở lăng Tự Ðức và xem đó là những cổ vật độc
đáo, hiện thân của các trò tiêu khiển trong cung đình Huế xưa.15 Theo Richard
Orband, trò chơi này thường được tổ chức trong hoàng cung Huế hay các phủ
đệ của những hoàng thân, quan lại triều Nguyễn.
Khác với cách chơi đầu hồ của người Trung Hoa, người Nhật Bản và
người Hàn Quốc, cách chơi đầu hồ ở Huế không ném mũi tên trực tiếp vào
miệng bình mà ném gián tiếp thông qua một vật bằng gỗ, thường gọi nôm na
là con ngựa (có người gọi là con cóc), đặt ở khoảng trống giữa người chơi và
15 R. Orband, “Les Ðâu Hô du tombeau de Tu Ðuc”, BAVH, No. 2, 1917, p. 105.
42
chiếc bình. Như vậy, cách chơi đầu hồ ở Huế khó hơn rất nhiều so với cách
chơi nguyên thủy ở Trung Hoa, Nhật Bản và Triều Tiên.

 Người Huế, khi chơi đầu hồ, cần có sự tính toán chính xác để mũi tên
phải gõ vào con ngựa, rồi mới bật ngược để lọt vào miệng bình nhờ lực đàn
43
hồi. Một bộ dụng cụ chơi đầu hồ ở Huế xưa gồm ba món chính: chiếc bình,
những mũi tên và con ngựa.

- Chiếc bình: Bình không đáy, dáng như một chiếc nậm đựng rượu, có
thể làm bằng đồng, bằng sứ hay bằng gỗ. Chiếc bình được đặt trên một chiếc
đế có 4 chân, trong lòng chiếc đế này có đặt chiếc trống nhỏ, bịt da một mặt,
để khi mũi tên lọt vào miệng bình, rơi xuống đáy thì đầu mũi tên sẽ gõ lên
mặt trống, phát ra những tiếng: binh! binh! báo hiệu thắng lợi. Trong một vài
trường hợp, người ta còn gắn thêm vào hai bên cổ chiếc bình lớn hai chiếc
bình có hình dáng tương tự nhưng nhỏ hơn, bên trong những chiếc bình nhỏ
này có chứa một ít hạt ngũ cốc phòng khi tên lọt vào sẽ cắm xuống lớp ngũ
cốc mà không bật trở ra. Trong khi ở các nước Trung Quốc, Nhật Bản và
Triều Tiên, chiếc bình chơi đầu hồ chỉ được làm bằng đồng thì chiếc bình
chơi đầu hồ ở Huế được làm bởi nhiều chất liệu khác nhau. Bảo tàng Cổ vật
Cung đình Huế hiện đang trưng bày hai chiếc đầu hồ làm bằng gỗ, hai chiếc
làm bằng pháp lam nạm ngọc và một chiếc bình bằng sứ ký kiểu vẽ rồng năm
móng. Đây là những hiện vật luôn có sức hấp dẫn đặc biệt đối với du khách
tham quan bảo tàng.
44

Ảnh 25a: Du khách chơi đầu hồ trong chương trình Đêm Hoàng Cung
Ảnh 25b: Du khách chơi đầu hồ trong chương trình Đêm Hoàng Cung
- Mũi tên: Tên làm bằng thứ gỗ chắc và dẽo, dài khoảng 65cm - 80cm,
một đầu tròn, một dầu dẹp, ở giữa thon nhỏ, nên có sự đàn hồi. Bộ tên trong
trò chơi đầu hồ ở Huế gồm 12 chiếc, tượng trưng cho 12 tháng trong năm.
45
- Con ngựa: Là một mảnh gỗ hình bầu dục, dài 40cm, rộng 25cm, cao
5cm. Ðây là vật để những mũi tên sẽ gõ vào rồi bật ngược lên, trước khi bay
về phía miệng bình.
Ngoài ra, còn có thêm cái ống gỗ đựng những thẻ nhỏ để tính điểm
cho những lần ném thẻ lọt vào miệng bình. Có bao nhiêu mũi tên thì có bấy
nhiêu thẻ.
Vào dịp xuân về hay những lúc rảnh rỗi, các quan lại, hoàng thân triều
Nguyễn thường tổ chức chơi đầu hồ nơi các phủ đệ. Sau một tuần rượu, lúc
bầu không khí đã trở nên hứng khởi, thì trò chơi đầu hồ được bắt đầu. Chủ
nhân cuộc rượu, cũng là người tổ chức cuộc vui, ngỏ lời: “Thưa quý khách,
sau khi được mời quý khách dùng chén rượu nhạt đầu xuân, nay chúng tôi
dâng lên một cái bình xấu xí và vài ba mũi tên cong queo để quý vị giải trí”.
Thông thường, khách cũng ý nhị đáp lại: “Kính thưa quý chủ nhân, chúng tôi
đã được dùng rượu ngon và những món ăn tuyệt trần, nay lại được tham dự
một trò giải trí tao nhã và quý phái, hẳn vinh dự đó lớn quá. Chúng tôi không
dám nhận lời”. Gia chủ khiêm nhường và kiên nhẫn nhắc lại lời mời cho đến
lúc tất cả cùng cử tửu chúc sức khỏe, coi như chấp thuận lời mời. Ấy là lúc trò
chơi bắt đầu.
Sau khi công bố cách thức và thể lệ cuộc chơi, mỗi người dự cuộc đều
nhận được bốn mũi tên, làm bằng gỗ táo hay gỗ dâu, có một đầu dẹp, đầu kia
thon tròn, có sức đàn hồi rất lớn. Người chơi đứng cách con ngựa gỗ chừng ba
bước chân rồi lần lượt ném bốn mũi tên, sao cho nó phải gõ vào con ngựa, bật
lên, rồi bay lọt vào miệng bình là được một điểm và được nhận một chiếc thẻ
tính điểm. Người nào chưa có lệnh mà ném tên đi hoặc đứng không đúng chỗ
quy định sẽ không được tính điểm và không phát thẻ. Người nào được ba thẻ
là thắng cuộc. Họ sẽ được quyền mời rượu mọi người mà không ai có quyền
từ chối, đồng thời, họ được tiếp tục điều khiển cuộc chơi. Ðể cuộc chơi thêm
phần ngoạn mục và sinh động, người ta thường mời một ban nhạc đến giúp
vui. Ban nhạc thường chơi một bản nhạc, có tên là Ðầu hồ, để phụ họa cho
cuộc so tài.
Theo nhiều nguồn tư liệu và lời thuật của một số nhân chứng thời
Nguyễn, thì vua Tự Ðức (1848 - 1883) và vua Bảo Ðại (1926 - 1945) là hai
ông vua chơi đầu hồ rất giỏi. Vua Bảo Ðại không chỉ ném tên lọt vào miệng
chiếc bình lớn, mà những mũi tên còn lọt vào hai chiếc bình nhỏ gắn trên cổ
chiếc bình lớn. Một chiếc bình kiểu này hiện vẫn còn lưu giữ tại Bảo tàng Cổ
vật Cung đình Huế.
Đầu hồ là một trò chơi tao nhã, không nặng tính ăn thua, sát phạt, nên
được giới quyền quý, thức giả ở Huế xưa ưa chuộng.
46
ÐỔ XĂM HƯỜNG
Ðổ xăm hường là một trò chơi tao nhã, có nguồn gốc Trung Hoa,
nhưng rất được người Huế ưa chuộng. Thoạt tiên, trò chơi này xuất phát từ
trong cung, về sau phổ biến trong dinh thự của các vương tôn, công tử và
quan lại triều đình nhà Nguyễn, rồi mới lan truyền ra dân gian.
Xăm có nguồn gốc từ chữ thiêm (籤) nghĩa là cái thẻ. Hường là cách
đọc trại từ chữ hồng (紅), nghĩa là màu hồng, do âm hồng có trong chữ Hồng
Nhậm (洪 任), là tên của vua Tự Ðức nên phải kiêng. Ðổ xăm hường là trò
chơi gieo các hột súc sắc (còn gọi là hột tào cáo, hột xí ngầu) để dành những
chiếc thẻ khắc chữ màu đỏ, ghi các học vị trong hệ thống khoa cử thời xưa
gồm: tú tài, cử nhân, tiến sĩ, hội nguyên, thám hoa, bảng nhãn và trạng
nguyên. Chính tên gọi của các quân cờ đã thể hiện cái nho nhã của trò chơi và
tinh thần cầu học và ước vọng khoa bảng của người xưa.
Một bộ xăm hường gồm ba món chính: bộ thẻ (xăm), sáu hột súc sắc
và chiếc tô sứ sâu lòng để gieo súc sắc (đổ hột). Ngày trước, người chơi phải
nhọc công để tìm cho được một chiếc tô sứ men lam làm từ đời Minh - Thanh
bên Tàu để tiếng đổ hột mới thanh và vang xa. Riêng bộ thẻ thì tùy mức độ
sang hèn của chủ nhân mà được làm bằng ngà voi, xương thú hay cật tre.



Ảnh 26: Bộ xăm hường phục chế theo nguyên mẫu bộ xăm hường của
vua Tự Đức dùng trong chương trình Đêm Hoàng Cung ở Đại Nội Huế
47
Trong điện Hòa Khiêm ở lăng Tự Ðức vẫn còn lưu giữ một bộ xăm
hường làm bằng ngà voi, chạm trổ rất đẹp, vốn là vương bảo của vua Tự Ðức.
Chủ nhân Ngọc Sơn công chúa từ đường ở đường Nguyễn Chí Thanh vẫn còn
lưu giữ được một bộ xăm hường khác làm từ đời vua Ðồng Khánh (1885 -
1889). Ngày nay, các bộ xăm hường bán ở chợ Ðông Ba thường được làm
bằng xương, cũng chạm trổ cầu kỳ nhưng các chữ Hán được thay bằng các
hình vẽ có màu sắc loè loẹt và những dấu chấm màu đỏ. Ngoài ra cũng cần
phải kể đến chiếc hộp để cất những chiếc xăm và các con súc sắc. Ðó là
những chiếc hộp làm bằng gỗ quý bên ngoài có các hình trang trí bằng sơn
son thếp vàng hay cẩn xà cừ. Như thế mới tương xứng với những “ông trạng,
ông nghè” làm bằng ngà, được cất giữ trong hộp.
Mỗi bộ xăm hường có 63 chiếc thẻ. Thẻ cao nhất là thẻ trạng nguyên
(1 thẻ), có giá trị là 32 điểm. Tiếp theo gồm: 1 thẻ bảng nhãn và 1 thẻ thám
hoa (16 điểm/thẻ); 4 thẻ hội nguyên (8 điểm/thẻ), 8 thẻ tiến sĩ (4 điểm/thẻ), 16
thẻ cử nhân (2 điểm/thẻ) và 32 thẻ tú tài (1 điểm/thẻ).

 

Trò chơi dùng sáu hột súc sắc, mỗi con có sáu mặt khắc các dấu chấm
theo thứ tự: nhất, nhị, tam, tứ, ngũ, lục, trong đó, mặt nhất và mặt tứ tô màu
đỏ, các mặt khác được tô màu đen. Khi chơi, người ta gieo/đổ/thả cả sáu con
súc sắc vào chiếc tô sứ rồi căn cứ vào các mặt hiện ra để tính điểm và nhận
cho mình chiếc thẻ thích hợp. Thang điểm cơ bản dựa trên mặt tứ, gọi là
hường (Xem Phụ lục 5b).
48

Số người tham dự trò chơi xăm hường có thể là bốn, năm hay sáu
người. Tùy theo số người chơi mà định ra các luật lệ như: bán trạng, mua
trạng và định mức độ ăn thua. Ngoài ra, tùy từng trường hợp cụ thể mà định
ra cách thức cướp trạng khi thẻ này đã về tay người khác, hay cách lấy các thẻ
tương ứng với một thẻ có số điểm cao hơn nhưng đã thuộc về người khác,
trước khi người thứ hai đạt được thẻ đó. Khi số thẻ được lấy hết có nghĩa một
ván cờ đã kết thúc và người ta dựa vào số thẻ có ở từng người để xác định kẻ
thắng người thua.
Ðiều thú vị là hoàn toàn không có tính sát phạt trong trò chơi đổ xăm
hường mà chủ yếu nhờ vào sự may rủi. Người ta thường chơi xăm hường
trong những dịp đầu xuân, vừa để giải trí trong ba ngày Tết, vừa để thử vận
hên xui của mình trong một năm, hơn là để thỏa mãn thú đỏ đen như những
trò cờ bạc khác.

 Thậm chí, mỗi khi đổ được lục phú hường, đoạt tất cả các thẻ
có trong cuộc chơi và được nhân đôi số điểm có trên tất cả các thẻ, thì thay vì
vui mừng, người Huế lại lo âu. Nguyên do là vì họ cho rằng khi cái may đạt
đến tột đỉnh thì kế tiếp sẽ gặp điều xui xẻo. Đây chính là điều thú vị trong lối
suy nghĩ và thái độ ứng xử của người Huế. Trò đổ xăm hường phản ánh khát
vọng đỗ đạt, nếp nghĩ và lối sống của người Huế nên được người Huế ưa
chuộng. Vì thế, trò chơi này mới lan truyền sâu rộng nơi mảnh đất cố đô và
vẫn tồn tại cho đến bây giờ.
49
CỜ TƯỚNG VÀ CÁC BIẾN THỂ CỦA CỜ TƯỚNG16
Ở Huế, chơi cờ tướng là một trong những môn giải trí được nhiều
người ưa thích. Bộ cờ tướng có 32 quân cờ được tô 2 màu: đỏ và trắng hoặc
đỏ và xanh. Mỗi màu có 16 quân cờ, gồm: 1 tướng, 2 sĩ, 2 tượng, 2 xe, 2
pháo, 2 mã và 5 tốt. Ngoài lối đánh cờ tướng thông thường theo luật chơi cờ
tướng của người Trung Quốc, nghĩa là khởi đánh từ đầu ván với đầy đủ 32
quân cờ, người Huế còn chơi cờ thế, tức là chơi những ván cờ tàn, trên bàn cờ
chỉ còn 5 hoặc 6 quân cờ mà thôi. Ðó là những ván cờ trí tuệ và người chơi
thường là những tay chuyên nghiệp, chuyên đánh độ để ăn tiền.
Ngoài ra, từ các quân cờ trong bộ cờ tướng, người ta còn tạo ra các lối
chơi khác như: cờ chồng, cờ quân, cờ oi… là những lối chơi phổ thông, có số
người tham gia đông hơn các ván cờ tướng phổ dụng. Người lớn, trẻ em đều
có thể tham gia những cuộc cờ này trong bầu không khí ấm áp, thân mật của
gia đình, làng xóm.
- Cờ chồng là trò chơi sử dụng bộ cờ tướng để chơi, trong đó các quân
cờ của người thắng chồng lên các quân cờ của người thua. Ðây là một trong
những trò chơi rèn luyện trí thông minh và rất được người Huế ưa chuộng.
Trò chơi này dùng bộ cờ tướng gồm 32 quân cờ nhưng chỉ khắc chữ trên một
mặt. Số người chơi thường là số chẵn: hai hoặc bốn người.
Vào cuộc chơi, người chơi úp các quân cờ trên mặt chiếu hay mặt bàn,
trộn đều, rồi xếp thành vòng tròn. Sau đó, người chơi sẽ “bốc xăm” để chọn
người bốc cờ trước, cũng là người đi nước cờ đầu tiên.
Theo quy định, giá trị của các quân cờ theo thứ tự từ lớn đến nhỏ lần
lượt là: tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã, tốt. Nếu hai quân cờ đều cùng chức
danh, thì quân cờ tô màu đỏ có giá trị lớn hơn quân cờ tô màu trắng. Ví dụ:
tướng đỏ lớn hơn tướng trắng... Nếu trong một nước, các quân cờ xuất ra đều
cùng chức danh, cùng màu, chẳng hạn đều là quân xe đỏ, thì quân cờ của
người ngồi tay trên, tính theo chiều ngược chiều kim đồng hồ, sẽ được tính
thắng quân cờ của người ngồi tay dưới.
Tùy theo giá trị và số lượng của từng quân cờ mà có những cách xuất
quân khác nhau:
- Xuất từng quân một, áp dụng cho tất cả các quân cờ.
- Xuất từng đôi, áp dụng cho tất cả các quân cờ, trừ quân tướng.
- Xuất bộ tam (ba) với các bộ: tướng - sĩ - tượng và xe - pháo - mã.
16 Tác giả tiểu luận này chân thành cám ơn ông Trần Tuấn Anh, cán bộ Sở VHTT Thừa Thiên Huế
đã giúp đỡ tác giả các tư liệu liên quan đến trò chơi cờ tướng và các biến thể từ trò cờ tướng được
sử dụng trong tiểu luận này.
50
- Xuất bộ tứ (bốn) và bộ ngũ (năm) dùng cho những quân tốt.
Trong quá trình chơi, người nào có quân cờ thắng, còn gọi là “nổi”, sẽ
lật ngữa quân cờ ấy và chồng lên quân cờ thua, đồng thời được quyền xuất
nước cờ kế tiếp. Tàn cuộc cờ, ai có nhiều quân cờ “nổi” sẽ là người thắng
cuộc. Một ván cờ nếu chơi bốn người sẽ có hai người thắng (thắng nhất và
thắng nhì) và hai người thua (thua nhì và thua nhất). Người thắng nhất sẽ ăn
tiền/điểm của người thua nhất và người thắng nhì sẽ ăn tiền/điểm của người
thua nhì.
- Cờ oi: Cờ oi là một trò chơi biến thể từ cờ tướng, được đơn giản hóa
theo một nguyên tắc và quy định riêng. Dụng cụ cơ bản nhất của trò cờ oi là
bộ cờ tướng gồm 32 quân cờ với các quân cờ chỉ có một mặt khắc chữ.
Oi là cái giỏ tre, dụng cụ thường thấy của cư dân nông nghiệp và nhất
là người dân vùng nông thôn hay vùng ven đầm phá Tam Giang - Cầu Hai -
Lăng Cô dùng để đựng cá, tôm trong sinh hoạt sản xuất, đánh bắt thủy sản.
Vốn là những người từ nông dân quanh năm chân lấm tay bùn, họ đã tận dụng
loại công cụ dùng trong việc đánh bắt thủy sản này để tạo ra một trò chơi
nhằm thư giản trong mấy ngày xuân. Cũng có cũng có người kỳ công tự mình
đan lấy cái oi riêng, để vừa sử dụng trong cuộc vui, vừa khoe tài khéo léo. Do
vậy, trò chơi này được gọi là cờ oi.
Trong trò cờ oi, người chơi sử dụng con vụ có bốn mặt (ký hiệu từ
nhất đến tứ tựa con súc sắc) để phân thứ tự bốc cờ của các người chơi. Trước
khi bắt đầu cuộc cờ, người chơi xếp cờ thành một hàng hoặc vòng tròn rồi
xoay con vụ. Nếu con vụ hiện mặt nhất thì người xoay con vụ được bốc cờ
đầu tiên; nếu con vụ chỉ mặt nhị thì người ngồi bên tay phải bốc cờ; con vụ
chỉ mặt tam thì người ngồi bên tay phải của người thứ hai bốc cờ; con vụ chỉ
mặt tứ thì người ngồi bên tay phải của người thứ ba bốc cờ. Người được bốc
cờ đầu tiên vừa đồng thời được quyền thách đấu.
Cờ oi là trò chơi mang tính sát phạt với bốn tay chơi, nên người xưa
đã đưa ra một số quy định:
- Các quân cờ được tính điểm như sau: quân tướng được tính 7 điểm
(còn gọi là nút); quân sĩ được tính 6 điểm; quân tượng được tính 5 điểm; quân
xe được tính 4 điểm; quân pháo được tính 3 điểm; quân mã được tính 2 điểm;
tốt được tính 1 điểm.
- Các quân cờ có tên giống nhau thì quân màu đỏ được quy định có
giá trị lớn hơn quân cờ màu trắng. Ví dụ, tướng đỏ cao hơn tướng trắng; sĩ đỏ
cao hơn sĩ trắng... Ðặc biệt, khi xuất quân nếu có hai tay chơi cùng ra hai
quân cờ như nhau (cùng tên và cùng màu) thì tay trên (tính theo chiều ngược
chiều quay của kim đồng hồ) sẽ thắng tay dưới.
51
Có nhiều cách xuất quân khác nhau, trong đó:
- Xuất từng quân một, áp dụng cho tất cả các quân cờ.
- Xuất từng đôi, áp dụng cho tất cả các quân cờ, trừ quân tướng.
- Xuất bộ tam (ba), gồm các bộ: tướng - sĩ - tượng và xe - pháo - mã.
- Xuất bộ tứ (bốn) và bộ ngũ (năm) dùng cho những quân tốt.
Trong quá trình xuất quân để đối chọi với các tay chơi khác, người
chơi phải khéo léo để giành được phần thắng cho mỗi lần xuất quân, quân cờ
thắng được gọi là cờ “nổi”, quân cờ thua được đem bỏ vào trong oi. Người có
quân cờ “nổi” được quyền thách đấu.
Việc phân định thắng bại của một cuộc cờ được quy định như sau: Khi
ván cờ kết thúc, người nào có hai quân cờ “nổi” được tính là hòa; người có
một quân cờ “nổi” thì thua một quân; người không có quân cờ nổi thì thua hai
quân.
Ðể cuộc chơi thêm gay cấn, hấp dẫn, người ta còn quy định:
+ Ăn trắng được tính gấp đôi (ba người chơi kia phải thua bốn quân cờ
trong một ván), khi một người chơi có cả tám quân cờ “nổi”.
+ Ăn xúc được tính gấp hai lần ăn trắng khi người thách đấu xuất
thành công đôi tốt trắng trong lần xuất quân cuối cùng.
+ Ăn đền được tính cho người có đôi tốt đỏ (trong khi hai tay chơi còn
lại không có đôi) để chặn đứng ý định ăn xúc của người thách đấu.
- Cờ quân: Trong trò chơi cờ quân, người ta cũng sử dụng bộ cờ
tướng, chiếc oi và con vụ có bốn mặt để phân thứ tự bốc cờ của các người
chơi. Trước khi bắt đầu cuộc cờ, người chơi xếp cờ thành một hàng hoặc
vòng tròn rồi xoay con vụ. Nếu con vụ hiện mặt nhất thì người xoay con vụ
được bốc cờ đầu tiên; nếu con vụ chỉ mặt nhị thì người ngồi bên tay phải bốc
cờ; con vụ chỉ mặt tam thì người ngồi bên tay phải của người thứ hai bốc cờ;
con vụ chỉ mặt tứ thì người ngồi bên tay phải của người thứ ba bốc cờ. Người
được bốc cờ đầu tiên vừa đồng thời được quyền thách đấu.
Các quy định trong xuất quân, cách tính quân cờ lớn nhỏ của cờ quân
tương tự như cờ oi, nhưng cách tính thắng bại của cuộc cờ thì khác nhau:
+ Tay chơi nào có quân cờ “nổi” sau cùng (có thể là đôi hoặc một
nhưng không phải quân tướng) sẽ thắng các tay chơi còn lại.
+ Ăn xúc được tính cho tay thách đấu xuất thành công đôi tốt trắng.
+ Ăn đền được tính cho người có đôi tốt đỏ (trong khi hai tay chơi còn
lại không có đôi) để chặn đứng ý định ăn xúc của người thách đối.
52
+ Ăn trắng được tính cho tay chơi có cả tám quân cờ “nổi”.
+ Nếu quân cờ “nổi” sau cùng là quân tướng, ván cờ sẽ được tính hòa.

No comments: