Friday, August 17, 2012

HỒ HỮU TƯỜNG

 


Thụy Khuê

Hồ Hữu Tường (1910-1980)

LTS. Chúng tôi tìm thấy các bài này trên các trang web, xin phép các  tác giả cho đăng lại.



Hồ Hữu Tường, chính trị gia, nhà văn, nhà báo và là một nhân vật kỳ lạ, sống 70 năm trong thế kỷ XX, trải nhiều vòng tù tội dưới tất cả các chính quyền: thực dân, quốc gia và cộng sản. Tác phẩm của ông phản ảnh tính chất nổi loạn trong con người, một con người vừa trào lộng, vừa bi đát, suốt đời đi tìm phương cách giải phóng dân tộc ra khỏi mọi hình thức quản trị giáo điều: từ bị trị đến hủ tục, từ độc tôn đến độc tài, nhưng cũng suốt đời "thất bại" trong việc "chống lại định mệnh", cho đến phút chót vẫn muốn "cưỡng lại số trời" mà không được. Có lẽ ở bên kia thế giới, Hồ vẫn tiếp tục con đường thiên lý của một Phi Lạc đã đại náo trần gian: Tây, Tàu, Nga, Mỹ và giờ đây, xuống âm ty đại náo địa ngục.

Cuộc đời tranh đấu trên hai mặt trận chính trị và văn hóa của Hồ Hữu Tường đầy tính cách tiểu thuyết chiêu hồi như một truyện Tàu, nhưng cũng lại gắn bó sâu xa với định mệnh bát nháo của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ vừa qua. Hồ Hữu Tường luôn luôn giữ hai vai: một Tôn Ngộ Không nổi loạn trong Tây Du Ký và một quân sư du thuyết trong Tam Quốc Chí, khi Khổng Minh, Lỗ Túc, lúc là thằng mõ Cổ Nhuế, thằng mõ Phù Ninh.... Hành động của nhà chính trị Hồ Hữu Tường và những người cùng thời biến thành những thế võ tiếu lâm, hài hước trong tiểu thuyết, hồi ký của nhà văn. Hồ Hữu Tường là tác giả hiếm hoi, trong một xã hội đầy nghi thức, đã hóa giải những trịnh trọng của chính trị thành chuyện giễu để hóm hỉnh chọc cười và đó là một trong những lý do khiến không chế độ nào "dung" Hồ Hữu Tường. Nhưng có lẽ lý do sâu xa nhất vẫn là những gì Hồ Hữu Tường thuyết minh trong tác phẩm toát ra một chủ nghĩa dân tộcđộc đáo, lấy văn hóa dân tộc làm phương châm và mục đích cấu thành. Hồ Hữu Tường suốt đời biện hộ cho một Việt Nam trung lập chế, chống chiến tranh. Hồ dùng văn hóa thay súng ống để giải phóng dân tộc ra khỏi cảnh tối tăm nô lệ. Tranh đấu chống thực dân bằng ngòi bút của nhà báo, bằng tổ chức thợ thuyền tổng đình công, muốn đánh đuổi hai chữ "căm hờn" mà ông gọi là ác quỷ ra khỏi tâm hồn người Việt.

Con đường ông đi không có nhiều đồng hành, bởi tiếng kêu gọi của ông chỉ là những tiếng kêu trong sa mạc, không ai nghe và cũng ít người hiểu. Một con người như thế, từ đâu đến và những lý do nào đã thúc đẩy ông có một nghị lực khác thường triền miên trong hành động đấu tranh cũng như trong ngòi bút?


Hồ Hữu Tường xuất thân trong một gia đình nghèo, cha mẹ phải làm tá điền cho người cậu là điền chủ, hội đồng. Tại nhà cậu, sáu tuổi đã đọc Nam Phong. Đọc đâu nhớ đấy. Cha đặt cho cái tên là thằng Thuộc vì đọc gì cũng thuộc. Bị Nam Phong "đầu độc", gieo và đầu chất "tân hủ nho" từ nhỏ, sau phải nhờ Phan Văn Hùm "gột rửa". Lớn hơn chút nữa, đọc và chịu ảnh hưởng tinh thần yêu nước của Đông Pháp Thời Báo. Tại trung học Cần Thơ, Hồ Hữu Tường và các bạn tổ chức tờ báo "trường" đầu tiên. Báo tiếng Việt, nhưng Hồ viết bài tham luận bằng tiếng Pháp để "cho Tây nó đọc", ký tên Pierre Vutren, Vutren là chữ nói lái của Ventru, dịch từ biệt hiệu Tường Bụng (Tường bụng to). Ký tên như thế là "lậy ông tôi ở bụi này", thêm việc tổ chức bãi khóa nhân vụ xử Nguyễn An Ninhä, cả nhóm bị đuổi.

Lúc ấy mới 16 tuổi, gia đình cho Hồ Hữu Tường sang Pháp du học, năm 1926. Tại Pháp, kết bạn với Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, vào đảng Đệ Tứ Quốc Tế. Bốn năm sau, 1930, Hồ Hữu Tường ở Lyon đang chuẩn bị thi thạc sĩ toán học thì được tin cuộc khởi nghĩa Yên Bái thất bại, Nguyễn Thái Học và các đồng chí bị xử tử; Hồ bỏ học, lên Paris, liên lạc với Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu, làm báo bí mật lấy tên là Tiền Quân. Báo chưa ra thì ban biên tập bị bắt vì tổ chức những cuộc biểu tình, đặc biệt là biểu tình trước điện Elysée, cả bọn bị trục xuất về Việt Nam, trừ Phan Văn Hùm và Hồ Hữu Tường trốn thoát, chạy sang Bỉ, liên lạc với nhóm cách mạng cộng sản ở Bỉ, rồi trở lại Paris tiếp tục làm tờ Tiền Quân trong năm tháng trước khi về nước hoạt động chính trị.

Từ 1931 đến 1939, Hồ Hữu Tường làm lý thuyết gia cho nhóm Đệ Tứ ở Việt Nam, đồng thời dạy học để sinh sống và điều khiển các tờ báo bí mật như tờ Tháng Mười, từ 1931 đến 1932, tờ Thường Trực Cách Mạng từ 1934 đến 1937, tờ Quần Chúng từ 1937 đến 1938. Hoặc các tờ báo công khai như Le militant năm 1936, tờ Tháng Mười năm 1938, tờ Tia Sáng năm 1939 và tham gia tờ La lutte của Nguyễn An Ninh và Tạ Thu Thâu.
Tháng 11 năm 1932, Hồ Hữu Tường bị Pháp bắt lần đầu, giam 6 tháng. Ngày 1/5/1933 ra tòa bị xử án treo ba năm. Trong thời gian bị giam giữ, ông xuất bản nhật báo "nhẩm" Thiên Thu. Thiên Thu là "cứu cánh" của tạp chí Tháng Mười sau này. Trong suốt mười năm làm báo (1930-1939), ông đã viết rất nhiều nhưng nay không còn lưu lại được gì.

Đầu tháng 6 năm 1939, Hồ Hữu Tường bỏ Đệ Tứ và chủ nghĩa Mác; ngày 29 tháng 9 năm 1939, bị nhà cầm quyền Pháp bắt, cuối năm 40 bị đầy đi Côn Đảo cùng với Nguyễn An Ninh, Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu... và những người chống Pháp khác. Đến cuối năm 1944 mới được trả tự do (Phan Văn Hùm bị phù thũng, Nguyễn An Ninh mất trong tù ngày 14/8/1943).


*

1945 Nhật đảo chính Pháp. Hồ Hữu Tường ra Hà Nội để sang Tầu nhưng bị kẹt tại Hà Nội cùng với Tạ Thu Thâu; có đề nghị với Hồ Chí Minh nên để Việt Nam trung lập nhưng không được chấp nhận. Thời gian này bắt đầu viết Xã hội học nhập môn, chống lại biện chứng pháp, và một loạt sách chính trị, kinh tế khác.

1946 Hồ Hữu Tường được mời tham dự hội nghị Đà Lạt với tư cách cố vấn trong phái đoàn Việt Nam nhưng cũng không phát biểu gì. Kế đó, ông giúp bộ Giáo Dục Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, thiết lập chương trình soạn và in sách giáo khoa bằng tiếng Việt cho bậc trung học. Năm 1947 bị Pháp bắt trong lúc tản cư về Kẻ Sặt (Hải Dương). Rồi ông lại trở về Sài Gòn viết văn, làm báo.

Từ 1948 đến 1949, hợp tác với báo Sài Gòn Mới của bà Bút Trà. Viết tiểu thuyết Phi Lạc sang Tầu, in dần trên Sài Gòn Mới dưới bút hiệu Ý Dư, đồng thời viết Thu HươngChị Tập.

Mùa xuân năm 1949, sang Pháp vì lý do chính trị. Tại đây, năm 1952, chủ trương tạp chí Pacific, thử vạch một "đường lối thứ ba" cho các nước Á Phi.

1953, Hồ Hữu Tường về nước, chủù trương nhật báo Phương Đông, đưa ra giải pháp "Trung lập chế".

1954, với tư cách ký giả, ông sang dự Hội nghị Genève, hết sức vận động cho giải pháp trung lập Việt Nam nhưng thất bại.

Tháng ba năm 1955, ví có liên lạc với các nhóm trong Mặt Trận Thống Nhất (Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên), chống lại Ngô Đình Diệm, ông bị bắt ở Rừng Sát. Năm 1957 ra tòa và bị kết án tử hình, nhưng nhờ những trí thức ở Pháp trong đó có Albert Camus viết thư can thiệp nên án lệnh được đình chỉ và bị đưa ra Côn Đảo. Sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm đổ, Hồ Hữu Tường được trả tự do ngày 31/1/1964. Ra tù, kiệt lực, phải nửa năm sau mới viết lại được. Ông cộng tác với nhật báo Ánh Sáng, xét lại biện pháp Trung lập chế và đưa ra giải pháp Siêu lập: đề nghị miền Nam trở nên lãnh thổ của Liên Hiệp Quốc.

1965, cộng tác với tuần báo Hòa Đồng để phát huy nền văn minh tổng hợp: kỹ sư, chính ủy và tu sĩ. Làm Phó Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh.
1967 được bầu làm dân biểu trong Hạ Viện Việt Nam Cộng Hòa.

Sau tháng tư năm 1975, bị đi học tập cải tạo 5 năm, được trả tự do, ít lâu sau mất tại Gia Định ngày 26/6/1980.


*

Hồ Hữu Tường viết nhiều thể loại:

Chính trị, kinh tế, triết học: Xã hội học nhập môn (Minh Đức, 1945), Kinh tế học và kinh tế chánh trị nhập môn (Tân Việt, 1945), Tương lai kinh tế Việt-nam (Hàn Thuyên, 1945). Phong kiến là gì? (Minh Đức,1946), Vấn đề dân tộc (Minh Đức,1946), Muốn tìm hiểu chánh trị (Minh Đức,1946),Tương lai văn hóa Việt-nam (Minh Đức,1946, Huệ Minh, 1965).
Văn học sử: Lịch sử văn chương Việt-nam (quyển 1) (Lê Lợi, 1950).
Văn phạm: Phép nói và viết hỏi ngã (1950), Em học tiếng mẹ (1950), Em tập đọc (1951).
Dịch: Tam quốc chí (quyển 1, 1951)
Truyện:
Bộ Một thuở ngàn năm (truyện trào phúng chính trị) gồm có: Phi Lạc sang Tàu (Sống Chung, 1949), Phi Lạc náo Hoa Kỳ (Vannay, Paris, 1955), Tiểu Phi Lạc náo Sàigòn (Nam Cường, 1966), Diễm Hồng xuất giá (Nam Cường, 1966).
Bộ Hồn bướm mơ hoa (tiểu thuyết lịch sử xã hội, miền Hậu Giang) gồm 4 tập: Mai Thoại Dung, Tam nhơn đồng hành, Ông thầy Quảng, Bủa lưới người (Nam Cường, 1966).
Bộ Gái nước Nam làm gì? (tiểu thuyết tranh đấu chống Pháp) gồm Thu HươngChị Tập (Sống Chung, 1949).
Nỗi lòng thằng Hiệp (Lê Lợi, 1949).
Kế thế (tiểu thuyết dã sử) (Huệ Minh, 1964).
Bộ Thuốc trường sanh gồm 3 tập: Xây mộng, Phúc đứcVẹn nguyền (Huệ Minh, 1964). Hoa dinh cẩm trận (tiếp theo Thuốc trường sanh).
Người Mỹ ưu tư (tác giả xuất bản, Paris, 1968)
...
Tiểu luận: Những kỹ thuật căn bản của nghề làm báo (in tại Paris, 1951, Hòa Đồng, 1965), Trầm tư của một tên tội tử hình (Lá Bối, 1965), Luận lâm I (Huệ Minh, 1965), Nói tại Phú Xuân (những bài tham luận đọc tại Đại Học Huế) (Huệ Minh, 1965).
Truyện ngắn, tạp văn: Quả trứng thần (1952), Kể chuyện (Huệ Minh, 1965), Nợ tinh thần (Huệ Minh, 1965).
Tự truyện và hồi ký: Thằng Thuộc con nhà nông (An Tiêm, 1966), 41 năm làm báo (Trí Đăng, Đông Nam Á tái bản tại Paris, 1984), Un fétu de paille dans la tourmente (Paris, 1969, chưa in).

Sách viết cho nhà Hàn Thuyên, ký tên Nguyễn Huệ Minh (tên vợ), sách viết cho nhà Tân Việt ký tên Khổng Cưu, cho nhà Minh Đức ký tên Duy Minh, Huấn Chi, cho nhà Sống Chung ký tên Duy Cúc.

*

Trước khi tìm hiểu tư tưởng và phong cách Hồ Hữu Tường, chúng ta thử nhìn lại nguồn gốc dòng họ Hồ, như Hồ Hữu Tường đã trình bày qua các tác phẩm và có lẽ đó cũng là một cách để phân tích những đường hướng chính trong tư tưởng của Hồ Hữu Tường.

Hồ Hữu Tường sinh ngày mùng 8 tháng 5 năm 1910 tại làng Thường Thạnh, huyện Cái Răng, tỉnh Cần Thơ. Cha là Hồ Văn Sây, mẹ là Võ Thị Nữ và ông nội là Hồ Văn Điểu.
Dòng họ Hồ này khi xưa ở đất Nghệ An. Sau khi Hồ Quý Ly thất thế, đầu thế kỷ XV đã bị xua vào đất Qui Nhơn sinh sống. Đến thế kỷ XVIII, trong họ xuất hiện ba anh em Nhạc, Huệ, Lữ, nổi lên cầm đầu phong trào Tây Sơn. Khi nhà Tây Sơn bại liệt, tất cả những người họ Hồ, bà con xa gần với Tây Sơn đều phải lánh nạn. Tỉnh Qui Nhơn bị Nguyễn Ánh đổi tên thành Bình Định. Sự đổi tên này, đối với họ Hồ, có nghĩa là một sự trả thù, một sự đàn áp.
Để tránh sự trả thù của nhà Nguyễn, một thanh niên tên là Hồ Văn Phi trốn vào Nam, lưu lạc đến rạch Cái Răng ở miệt Cần Thơ, lập nghiệp. Vợ chồng Hồ Văn Phi chưa có con trai, nuôi một đứa nhỏ tên là Điểu mà mẹ nó dường như là một người trong hoàng tộc nhà Tây Sơn lánh nạn. Khi trao con lại cho Hồ Văn Phi, bà dặn dò rằng: Cha nó cũng họ Hồ, tôi cho nó cho ông là để nó giữ họ. Khi nó lớn lên, ông bà dặn nó nên nêu lên hai chữ Kế Thế mà thờ giữa hai chữ Hồ phủ, và truyền lại mãi mãi với con cháu nó nên làm như vậy.
Chữ Kế Thế rút từ những chữ "Kế thế vi đức, dĩ hữu thiên hạ", hàm súc cái mộng làm đế vương.
Người con nuôi của Hồ Văn Phi có dòng dõi bí mật, đế vương ấy (dòng Quang Thiệu), chính là Hồ Văn Điểu và là ông nội của Hồ Hữu Tường. Đó là những điều mà Hồ Hữu Tường thuật lại về dòng dõi của mình trong cuốn tự truyện Thằng Thuộc, con nhà nông và tiểu thuyết dã sử Kế thế.

Đúng hay sai là công việc của những nhà nghiên cứu lịch sử. Đối với chúng ta, người đọc và tìm hiểu Hồ Hữu Tường, thì đây là một trong những yếu tố giải thích tư tưởng cải tổ chính trị và văn hóa của Hồ Hữu Tường, giải thích chí hướng tân tạo lại Việt Nam, chấn hưng đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, một đạo do con cháu nhà Tây Sơn dựng nên, sau này hưng vượng trong tinh thần đạo Hòa Hảo (có lẽ đó là lý do khiến Hồ Hữu Tường có cảm tình với tướng Ba Cụt và đạo Hòa Hảo, và cộng tác với nhóm Mặt Trận Thống Nhất, chống lại Ngô Đình Diệm), và nhất là quyết tâm tái lập tinh thần Minh Đạo Hồ Quý Ly đã xướng lên từ thế kỷ XIV, để xây dựng một con đường văn hóa Việt Nam, một hệ tư tưởng Việt Nam không lệ thuộc ngoại bang, phù hợp với một nước Việt độc lập và tân tiến.


*

Tâm tư Hồ Hữu Tường dường như chia làm hai nhánh: nhánh vọng Tây Sơn và nhánh hướng nhà Hồ. Cả hai tạo nên một hệ "bàng thống" giao thoa hai vua Quý Ly và Quang Trung, cùng một dòng họ. Hệ bàng thống này, độc lập với chính quyền trung ương, tạo thế chân vạc, muốn đứng lên chấn hưng đất nước, theo một đường lối thứ ba, từ một miền đất mới: miền Hậu Giang.

Vọng Tây Sơn, giữ nguồn gốc nông dân nổi dậy, chống sự đàn áp của thực dân và phong kiến, nhưng khác với cách mạng cộng sản, dựa vào đấu tranh giai cấp và duy vật sử quan, Hồ Hữu Tường muốn bảo tồn một truyền thống tâm linh dân tộc, phát xuất từ miền Hậu Giang, thờ hai bà Chúa Tiên và Chúa Ngọc. Chúa Tiên tương truyền là Ngọc Hân công chúa và Chúa Ngọc là Ngọc Mân, em sinh đôi của Ngọc Hân. Những truyền thuyết này được Hồ kể lại trong tiểu thuyết dã sử Kế thế, theo lời kể của một nhân vật bí mật là ông Thầy Quảng (gốc gác từ Quảng Nam). Thầy Quảng trong bộ tiểu thuyết Hồn bướm mơ hoa, là một lãnh tụ chính trị, đội lốt thầy bói và đạo sư, truyền bá đạo Bửu Hương Kỳ Sơn (thờ hai bà chúa), chủ trương cải cách đạo Phật, chấn hưng nhà Tây Sơn, cổ động cho những thuyết "Minh Đạo tái sanh", "Thiên địa tân tạo", "Việt Nam phục nghiệp". Tất cả những sứ mệnh này xác định hướng thứ nhì: vọng nhà Hồ, tiếp tục con đường mà Hồ Quý Ly đã mở ra từ thế kỷ XIV về việc canh tân đất nước trên toàn diện chính trị, văn hóa và xã hội.

Xin nhắc lại, từ cuối thế kỷ XIV, Hồ Quý Ly đã áp dụng những chính sách:

- Dùng chữ Nôm thay chữ Hán để chấn hưng quốc học. Dịch các kinh sách chữ Hán sang chữ Nôm.
- Soạn 14 thiên Minh Đạo, nội dung phê phán Nho giáo một cách có hệ thống, đặt Chu Công lên trên Khổng Tử; phê bình Khổng Tử, nêu bốn điểm đáng ngờ trong Luận Ngữ; chỉ trích Hàn Dũ, Trình, Chu... là những bậc hủ nho; ca ngợi vua Trần Minh Tông không chịu rập theo khuôn mẫu lễ giáo của người Tầu.
- Về mặt xã hội, Hồ Quý Ly lập nhà thương, làm lại sổ hộ tịch, định lại thuế khóa, thống nhất đo lường, phát hành tiền giấy, cải cách ruộng đất, v.v...
Ngoài ra Hồ Quý Ly còn là một nhà thơ chữ Nôm và chữ Hán, kiêm dịch giả.


Nối tiếp và giao thoa con đường của hai tiền nhân Quý Ly và Quang Trung trong tinh thần độc lập đối với ngoại bang, từ chính trị, xã hội, đến văn hóa, dường như đó là điều mà Hồ Hữu Tường muốn thực hiện qua hành động và tác phẩm.


*

Suốt đời vào tù ra khám, Hồ Hữu Tường là khuôn mặt trí thức độc đáo của Việt Nam trong thế kỷ XX: một trí thức hành động. Là nhà chính trị, nhưng biết lợi khí của văn hóa, ông luôn luôn tuyên bố: "Tôi là kẻ dụng văn, chớ không phải nhà văn."Lời tuyên bố có vẻ khiêm tốn này nói lên tính chất minh họa tư tưởng trong các tác phẩm của Hồ Hữu Tường. Là một tác giả đa năng, đa dạng, ông viết nhiều thể loại, nhưng thành công nhất ở những tiểu luận, tham luận, tự thuật, truyện ngắn và tiểu thuyết trào phúng.

Cuộc đời và sáng tác của ông trải nhiều giai đoạn.

Từ 1930 đến 1939, theo Đệ Tứ và chủ nghĩa Mác-Lê, thời kỳ mà sau này ông gọi là "sự căm hờn dẫn đi lạc lối trong 9 năm", viết rất nhiều báo nhưng không lưu lại được gì, có thể vì đó là thời kỳ còn lập luận theo duy vật biện chứng, nên sau này ông không cho in lại. Nhưng đối với những nhà nghiên cứu, tìm lại những bài viết của Hồ Hữu Tường trong thời kỳ "Đệ Tứ", cũng là một điều cần thiết.

Thời kỳ 39-44: Giữa 1939 bỏ Đệ Tứ và Mác-Lê, rồi bị Pháp bắt tới cuối 1944. Đó là thời kỳ Côn Đảo lần thứ nhất. Trong năm năm ở tù, Hồ Hữu Tường đã hình thành một hệ thống tư tưởng mới: chủ nghĩa dân tộc, không lệ thuộc Tây, Tàu, Nga, Mỹ.

45-46: thời kỳ lập thuyết mới. Từ 1945, khi ra Hà Nội, Hồ Hữu Tường viết những tác phẩm đầu tiên Xã hội học nhập môn, Kinh tế học vàø chính trị nhập môn, Tương lai kinh tế Việt Nam, Vấn đề dân tộc, Tương lai văn hóa Việt Nam... theo con đường tư tưởng mới.

Từ 1948 trở đi, bắt đầu sáng tác tiểu thuyết: Phi Lạc sang Tầu, Thu Hương, Chị Tập ... Ngay cả thời kỳ Côn Đảo lần thứ nhì (57-64), ông vẫn tiếp tục sáng tác nhưng cũng bị mối cắn, nhiều tập phải viết lại. Những tác phẩm như Kế thế, Hồn bướm mơ hoa, Trầm tư của một tên tội tử hình, Thuốc trường sanh ... đều viết tại Côn Sơn và phát hành sau khi được trả tự do.

Trong bài tựa cuốn Luận lâm I,Hồ Hữu Tường viết:

"Tôi bước vào mê ly đồ của chủ nghĩa Mác-Lê đầu tháng 6 năm 1930. Tôi bước chân ra ngoài cái mê ly đồ ấy vào đầu tháng 6 năm 1939. [...] Trong 9 năm này, những bài luận của tôi viết thảy đều lập trên nền tảng của duy vật luận biện chứng pháp.
Từ tháng 6 năm 1939 đến tháng 6 năm 1945, ngoài những bức thơ ngắn cho gia đình, tôi không có viết gì khác. Đến Hà Nội vào đầu tháng 6 năm 1945, tôi đã sắp dàn bài cho quyển Xã hội học nhập môn mà tôi viết xong khi khởi đầu tháng 11. Từ hai mươi năm nay, tôi chưa trước tác được tài liệu nào vững chắc và khoa học để đả kích chủ nghĩa của Marx, hơn tập sách nhỏ này. Cả phương pháp biện chứng và duy vật sử quan đều bị "lật vích", nền tảng triết lý và cơ sở xã hội học của Marx đều bị lật ngược, thế mà kiểm duyệt Việt Minh đọc không hiểu nên chẳng bôi chữ nào.
Từ ấy, phương pháp biện luận của tôi không còn là biện chứng pháp nữa. Trong năm năm nằm ở Côn Đảo, trong những ngày tàn của chế độ thực dân, tôi đã suy tư tìm thấy và thường nói với Nguyễn An Ninh rằng duy vật luận của Marx hóa ra siêu hình, chánh là do Marx đội cho nó cái lốt của biện chứng pháp [...]. Năm năm tù dưới chế độ thực dân đã giúp cho tôi "cai" biện chứng pháp, cũng như người nghiện cai thuốc phiện.
Và, rời bỏ tư duy siêu hình của biện chứng pháp, tôi trở về với tư thái khoa học [...] Khoa học, bao giờ cũng cho phép ngoại suy để mở rộng phạm vi hữu hiệu của mình. Nhưng bao giờ những cuộc ngoại suy nầy phải phê phán cho chặt chẽ, kẻo bị lầm. Nói theo một danh từ mới xuất hiện, mà đã tràn lan khắp nơi, là cần phải "xét lại". Thế mà, biện chứng pháp, tin tưởng như là một giáo điều, không cho tín đồ của chủ nghĩa Marx "xét lại"."
(trích bài Tựa cuốn Luận lâm I do Huệ Minh xuất bản năm 1965, tại Sài Gòn). Tiếc rằng hiện nay chúng tôi chưa tìm được cuốn Xã hội học nhập mônđể trình bầy những lập luận chống Marx xủa Hồ Hữu Tường.

Sách in những năm 45-46 phần lớn ký tên Duy Minh. Với bút hiệu Duy Minh, Hồ Hữu Tường muốn nói lên sự lựa chọn: không nhận cái Tâm trong duy tâm chủ quan của triết học Hegel, cũng không nhận cái Vật "vô tri vô giác" trong cái duy vật của triết học Các-Mác, mà chọn Duy Minh, bởi vì có duy minh thì mới đến được cái giác của nhà Phật. Hồ Hữu Tường chủ trương: muốn cải thiện đời sống -bởi vì chỉ có sống là quan trọng nhất- thì con người phải tổng hợp cả ba nền văn minh lớn: kỹ sư, chính ủy và tu sĩ, nói cách khác: khoa học, triết học tôn giáo thành một thể toàn bích thì mới mong đạt tới thiên đường hạnh phúc. Tôn giáo ở đây là Đạo Phật đổi mới. Sự cách tân đạo Phật có trong tinh thần đạo Bửu Sơn Kỳ Hương và đạo Hòa Hảo sau này, và có lẽ đó cũng là tinh thần "Hậu Giang" mà Hồ Hữu Tường là một trong những người đề cao và cổ động.


*

Trở về với tác phẩm chủ yếu đầu tiên của Hồ Hữu Tường, cuốn Tương lai văn hóa Việt Namdo Minh Đức in, ký tên Duy Minh, cuốn sách đắc ý nhất của ông, một bản tuyên ngôn tư tưởng của nhà chính trị và nhà văn hóa, trình bày con đường tư tưởng mới: lấy văn hóa dân tộc thay thế cho tất cả các ý thức hệ. Tư tưởng sau này sẽ được đào sâu và phát triển trong toàn bộ tác phẩm của tác giả.

Sách in năm 1946, 500 quyển, những bản quý in trên giấy "sắc thần" chế tạo riêng tại làng Bưởi, bìa do Tô Ngọc Vân vẽ. Sau này được in lại nhiều lần nhưng đã bị cắt bỏ, trừ bản chính của nhà Minh Đức và bản in trên tuần báo Sanh Hoạt (Sài Gòn) của Phạm Mậu Quân là đầy đủ. Đây là một tập văn xuôi, có giọng trầm bổng như thơ, một tập "thơ tư tưởng", lời lẽ thống thiết. Hồ Hữu Tường viết:

"Tôi muốn cất tiếng mà kêu to. Kêu thật to để ai nấy cùng nghe. Tôi muốn có một giọng tha thiết. Thực tha thiết để ai nấy cùng cảm. Tôi muốn có những luận điệu đanh thép. Thực đanh thép để ai nấy cùng tin. Nghe, cảm, tin,... để cùng tôi đem một cái vinh quang chưa hề có trên quả địa cầu về cho dân tộc ta, dân tộc Việt" (trích Tương lai văn hóa Việt Nam, in lần thứ ba, Huệ Minh, Sài Gòn, 1965).

Đó là Tiếng gọi đàncủa Hồ Hữu Tường năm 1945. Ngay lúc ấy ông đã biết rõ rằng "dù có thét to đến bực nào, dù có một giọng tha thiết như thế nào, dù có những luận điệu đanh thép cách nào, tiếng gọi đàn của tôi cũng sẽ là tiếng kêu trong sa mạc" (sđd, trang 12).
Biết là kêu trong sa mạc nhưng vẫn kêu. Biết gọi không ai nghe nhưng vẫn gọi. Tâm sự bi thiết ấy đã đeo đẳng Hồ Hữu Tường suốt đời như một thân phận con người, như một số phận dân tộc.

Nhưng Tương lai văn hóa Việt Namkhông chỉ dừng lại ở mức kêu gào mà mang một nội dung suy tưởng sâu sắc. Trước hết Hồ Hữu Tường định nghĩa thế nào là văn hóa: "Văn, trong nghĩa cầu nguyên của nó, là đẹp đẽ, là hiền lành, trái với võ, là hung bạo. Hóa, trong nghĩa cầu nguyên của nó là thay đổi. Hai chữ đó mà ghép lại, thì tôi cho rằng đó là cái gì làm cho người ngày càng cao quý hơn, đẹp đẽ hơn, làm cho người (hạ tiện, xấu xa) hóa ra Người (cao quý, đẹp đẽ)" (trang 6). Tóm lại cái làm cho người trở nên Người văn hóa: "Tôi vẫn muốn rèn, luyện, uốn, nắn, hun đúc tôi, cho tôi ngày nay đẹp đẽ hơn ngày hôm qua, cho tôi ngày mai càng đẹp hơn tôi ngày nay, để rồi bây giờ tôi là "người" dần dần theo đuổi "Người"" (sđd, trang 18)

Người đọc có thể tìm thấy ở "cái tôi ngày hôm nay phải hơn cái tôi ngày hôm qua", một ảnh hưởng xa gần nào đó của Nietzsche. Chữ Ngườiviết hoa của Hồ Hữu Tường có những yếu tố tương đương với siêu nhân(surhomme) của Nietzsche (chính Hồ Hữu Tường cho biết Nguyễn An Ninh là người Việt Nam đầu tiên đọc Nietzsche và rất thích). Nhưng Hồ đi theo một hướng khác: ông muốn hành trình người (tầm thường) nên Người (cao cả) trở thành lộ trình bình thường của mỗi người Việt Nam, và đó là tương lai văn hóa dân tộc. Tại sao như vậy? Ông giải thích: bởi mọi ý thức hệ, khi mới thành lập, đều có thể giúp ích cho xã hội tiến bộ. Nhưng khi nó không còn thích hợp với điều kiện sống cụ thể nữa, thì cái xác nó, chướng ngại vật phản tiến hóa, là lực lượng phản động, là một tai họa cho nhân loại. Khi đã biết được luật sống thừa của các ý thức hệ, bạn hãy cố gắng xây đắp một nền văn hóa Việt Nam, dựa trên nguyên tắc biến đổi, ngày hôm nay phải đẹp hơn hôm qua, và như vậy bạn sẽ thoát ra được sức chi phối của các ý thức hệ sống thừa (trang 20). Đó là tinh thần chủ yếu trong tư tưởng Hồ Hữu Tường.


*

Tinh thần này xuất hiện năm 45-46, khi phần đông người Việt chưa biết Hồ Chí Minh là ai, và phần đông thế giới chưa biết cộng sản là gì. Hồ Hữu Tường đã đi trước thời đại, vượt qua những người đồng thời để sớm nhận ra ngõ cụt của những ý thức hệ, trong số đó có chủ nghĩa cộng sản. Lập luận của ông trong tập sách nhỏ này cho thấy một dân tộc như Việt Nam, muốn tìm con đường sống đầy đủ ý nghĩa trong thời kỳ phi cơ, bom nguyên tử và độc quyền đế quốc này, thì dân tộc Việt Nam phải chọn một kế hoạch văn hóa(trang32), phải tạo ra một nền văn hóa rực rỡ: văn hóa Việt Nam phải làm cho người trở nên Người (trang 37-38). Ông viết:

"Hiện nay, bạn thấy Tây phương đắc thắng, chiếm địa vị tối thượng, hãnh diện với thế giới. Về quân sự, về kinh tế, về chính trị, Tây phương là tất cả. Bạn cho Tây phương là cái gương duy nhất, rồi bạn toan nêu cái "văn hóa" Tây phương làm văn hóa Việt Nam.
Tôi van bạn. Tôi ước mong bạn xây đắp riêng cho Việt Nam một nền văn hóa rực rỡ, để trình trước Đại hội đồng nhân loại làm sự nghiệp của mình."
(trang 39)
"Sứ mạng của bạn là sứ mạng sáng tác."
(trang48)

Tìm một đường đi, không theo Đông, không theo Tây, mà chọn lọc vàø kết nạp những tinh hoa của cả Đông lẫnTây trên con đường sáng tạo của mình: văn hóa Việt Nam là do người Việt Nam sáng tác và xây đắp nên, nó làm cho người Việt Nam trở nên Người. Cái hành trình đó là hành trình văn hóa chúng ta chưa biết nó thế nào, bởi mỗi ngày nó một thay đổi.

Hồ Hữu Tường đã tìm ra cách thúc đẩy hành động sáng tạo, nói lên tính cách biến hóa của sáng tạo, đồng thời coi sáng tạo như một sứ mạng của con người. Một định nghĩa vừa trừu tượng, vừa cụ thể: Con đường sáng tạo là con đường văn hóa. Nó khiến con người từ vị thế tầm thường, kém cỏi, trở nên Người (văn hóa). Một sự hướng thượng mà nhân loại chưa làm được. Từ đó, Hồ bảo rằng phương Tây chưa có văn hóa, bởi tất cả những gì họ sản xuất ra trong văn chương, nghệ thuật, triết học, khoa học... đã bị cái mà ông gọi là "quái hóa" khuất phục. Chính cái quái hóa này đã biến đổi những tư tưởng đẹp đẽ như "Tự do, bình đẳng, bác ái", thành phương tiện, thành khí giới để chinh phục. Quái hóa đã xui khoa học chế ra đại bác, chiến xa, tầu chiến, phi cơ, hơi ngạt, vi trùng, bom nguyên tử để giết người, để chinh phục kẻ yếu, để đè nén, áp bức, dày xéo chúng ta" (trang 42)

Văn hóa làm cho con người trở nên Người.
Quái hóa biến văn chương, nghệ thuật, triết học, khoa học... thành phương tiện. Bởi nó không đi theo con đường nhân bản.
Còn mượn Đạo học của Đông phương ư? Nhưng ở Đông phương chỉ có những thuật tu dưỡng, chớ đã có văn hóa bao giờ? (trang 48)
Cho nên ta không thể bắt chước Đông hoặc Tây, để làm văn hóa, mà phải tạo văn hóa bằng sáng tạo, làm cho người Việt Nam trở nên Người. Nó là cuộc vận dụng thường xuyên của tinh thần, không phút nào ngừng, không khi nào nghỉ (trang 55), văn hóa (phải) làm sao cho cái chân, cái thiện, cái mỹ, thấm nhuần lý trí, tình cảm, bản năng, cơ thể mọi người, của mọi chế độ, của mọi tương quan xã hội. (trang 54-55)
"Lương tri sẽ là sản phẩm của người. Nó có nguồn gốc ở người. Nó là một vật nhân bản."
(trang 56)
"Khoa học, văn chương, triết học, nghệ thuật, luân lý, tôn giáo... là những ngành của cây sinh hoạt. Còn văn hóa là nhựa sống trong thân cây, trong các ngành, các lá"
(trang 57)


*

Khi cho rằng Tây phương đã biến những thành tích của văn hóa như văn chương, triết học, khoa học... thành những phương tiện để chinh phục và đàn áp, Hồ Hữu Tường có thái quá chăng? Hẳn là không. Ông chỉ muốn minh họa một thực tế hiển nhiên: Hitler, Staline đã trưng dụng khoa học để làm vũ khí, cũng như Hitler đã trưng dụng tư tưởng surhomme của Nietzsche và Staline đã sử dụng triết học Các-Mác trong các chiến dịch thanh trừng và tiêu diệt đồng loại.

Ngày nay, trong tình thế mới, người ta cũng có thể đặt câu hỏi: đệ nhất cường quốc Hoa Kỳ có đang dùng khoa học (bom đạn) như một phương tiện để "san định" thiên hạ theo đúng quan niệm "dân chủ" và "bình đẳng" của Hoa Kỳ?


Điểm cực đoan và cũng gây sốc mạnh trong Tương lai văn hóa Việt Namlà "Tây phương và Đông phương chưa có văn hóa". Nhưng đó chính là điểm độc đáo trong tư tưởng Hồ Hữu Tường: ông coi văn hóakhông phải là những thành quả đã gặt hái được trong các lãnh vực văn chương, khoa học, nghệ thuật, triết học, mà là một trạng thái động, là một thái độ, một phong cách: Con người thường trực sống trong suy tưởng để tiến tới chân thiện mỹ. Và một con người như thế là con người văn hóa.

"Văn hóa" như vậy rất gần với hành trình tiến đến cõi niết bàn của nhà Phật, tìm đến đỉnh cao của con người. Nhưng đạo Phật tìm sự xuất thế, giải thoátcho chính mình, Hồ Hữu Tường tìm sự nhập thế: tiến đến chân thiện mỹ trong hành động để phụng sự xã hội, con người; và đó là lý do cần phải "cải tiến" đạo Phật, đi từ sự tu thân (Đông phương) để tiến tới sự nhập thế hành động, thay đổi diện mạo nhân loại.
*
Con đường tư tưởng


Tiếp tục con đường tư tưởng đã vạch ra trong Tương lai văn hóa Việt Nam, những bài tiểu luận hoặc tham luận đến sau, đào sâu và mở rộng thêm đường hướng nhân văn và dân tộc của Hồ Hữu Tường.

Trong cuốn Luận lâm I(Huệ Minh, 1965), ông chọn 9 bài viết trong khoảng 1948 đến 1964, mỗi bài một chủ đề khác nhau (văn hóa, chính trị, kinh tế, tư tưởng) mà ông cho rằng "biện chứng pháp không thể áp dụng được". Luận lâm (tuy đề Luận lâm I, nhưng chỉ ra có một quyển) đưa ra những đề tài có thể gây tranh luận, với chủ đích đẩy sự nghiên cứu và suy tưởng đi xa hơn.

Trước hết với đề nghị "Tìm (lại) nguồn gốc của dân tộc Việt Nam". Hồ Hữu Tường cho rằng không có một thứ chủng tộc nào là thuần túy. Người Việt, là sự hòa đồng hai mặt: thổ dân sống trên giải đất này kết hợp với các sự chinh phục đến từ nơi khác. Bắc do Lạc Việt, Trung do Chàm (Chăm) và Nam do Miên (Khmer) đến chinh phục rồi lần lần bị đồng hóa. Giai đoạn kế tiếp là sự thống nhất theo lối phong kiến: người Việt (ở Bắc) tiêu hủy quốc gia Chàm (Trung) và đồng hóa người Chàm, chiếm Chân Lạp và đồng hóa người Khmer. Nền văn hóa Việt cao hơn hai nền văn hóa Chàm và Khmer nên tồn tại nhưng vẫn chứa đầy ảnh hưởng của hai nền văn minh này trong ngôn ngữ, âm nhạc, tư tưởng.

Về tư tưởng, người phương Bắc (Trung Hoa) chú trọng đến cảm giác chủ quan: Khi nhìn con ngựa, họ thấy mầu trắng trước, cho nên họ nói bạch mã, cũng như ngã phụ (tôi cha) (cái tôi đi trước). Tư tưởng Việt Nam (thuộc người phương Nam), gần gũi với Miến Điện, Xiêm, Mên, Chàm... mang tính phân tích và đi từ khách quan đến chủ quan, cho nên nói ngựa trắng, cha tôi v.v...

Về ngôn ngữ, Hồ Hữu Tường không nhận tiếng Việt hoàn toàn đơn âm, mà cho rằng những tiếng mượn từ chữ Hán thường đơn âm, còn những tiếng thuần Việt như éo le, oái oăm, lim dim... không thể bảo là đơn âm được.

Về âm nhạc, những điệu hò Huế, những bài vọng cổ chứng thực hiện tượng hòa hợp văn hóa Việt-Chàm, Việt-Miên. Tóm lại, theo Hồ Hữu Tường, muốn "tìm nguồn gốc dân tộc Việt Nam" trước hết phải chấp nhận những tiền đề:
- Gốc thổ dân sống trên giải đất này;
- Bãi bỏ thuyết chủng tộc và công nhận thuyết hợp chủng và đồng hóa;
- Nền văn hóa cao nhất trong các dân tộc hợp chủng sẽ sống còn;
- Lịch sử Việt Nam không phải là lịch sử của một cuộc Nam tiến mà là sự thống nhất theo đường lối phong kiến;
- Tư tưởng Việt (thuộc phương Nam) khác với tư tưởng Trung Hoa (thuộc phương Bắc).

Vẫn trong chiều hướng cổ võ cho sự thay đổi quan điểm suy tưởng và nghiên cứu, trong bài "Đầu năm, nhắc một món ăn trân mỹ" (Luận lâm), phê bình hai bộ văn học sử Việt Nam cổ văn học sử của Nguyễn Đổng Chi và Việt Nam văn học sửcủa Dương Quảng Hàm, Hồ Hữu Tường cho rằng quan niệm văn học sử của hai nhà nghiên cứu này đã lỗi thời và đề nghị một hướng mới: Theo ông, văn học sử Việt Nam là văn học sử viết bằng tiếng Việt, cho nên phải loại các tác giả viết chữ Hán, chữ Pháp ra ngoài, chỉ khảo cứu những tác phẩm:
- văn chương bình dân, ca dao, tục ngữ...
- văn chương chữ Nôm,
- văn chương chữ quốc ngữ
và phụ thêm có thể đưa ra bộ Việt Nam tư tưởng sử để khảo cứu xem người Việt đã phát biểu tư tưởng của mình bằng tiếng Việt, tiếng Tầu, tiếng Pháp, tiếng Anh như thế nào.

Ngoài ra ông còn đề nghị phải tìm hiểu thêm hai thời kỳ văn chương nhà Hồ văn chương đời Tây Sơn (nhóm Hồng Sơn văn phái, ngoài Nguyễn Du và truyện Kiều, còn để lại bản dịch sáu bộ tài tử của Tàu ra lục bát mà Hoàng Xuân Hãn đã nhắc tới, nay chưa tìm ra) mà chữ Nôm đã có một chỗ đứng quan trọng.

Đề nghị này của Hồ Hữu Tường, có hai ý nghĩa: trở về với văn hóa dân tộc và đẩy xa việc nghiên cứu quốc âm. Nhưng việc ứng xử với nền văn học chữ Hán là một vấn đề phức tạp.

Nếu dựa theo cách viết văn học sử trên thế giới nói chung, và Pháp, nói riêng là đúng. Nhưng Việt Nam có một lịch sử và lịch sử văn học không giống những dân tộc khác: Nếu những quốc gia khác từ thời lập quốc không bị đô hộ (lâu dài) hoặc không đổi ngữ tự, thì ngược lại, Việt Nam vừa bị đô hộ, vừa đổi ngữ tự.
Thời kỳ văn học chữ Hán là kết quả 1000 năm đô hộ của Tàu. Người Việt "bắt buộc" phải diễn tả tư tưởng của mình bằng Hán tự. Vì không có chữ viết hoặc nếu có, cũng không thể phát triển được. Sự đô hộ đã ảnh hưởng lâu dài đến những thế hệ sau: chữ Hán trở thành chữ thi cử, "quốc tự", chữ "thánh hiền". Do đó, chữ Hán trong nhiều thế kỷ là chữ viết để chuyên chở nội dung ý nghĩ, tư tưởng Việt Nam. Vấn đề đặt ra ở đây là: Chữ viết là chính hay ý nghĩ là chính? Hiển nhiên là cả hai, bởi chữ viết chuyên chở văn phong lẫn tư tưởng. Viết văn Tàu, văn Pháp phải tuân theo quy luật của Hán văn, Pháp văn, hoàn toàn khác với văn phong Việt Nam. Tóm lại, một áng văn chương chữ Hán, chữ Pháp, do người Việt (thấm nhuần văn hóa Việt và có tâm hồn Việt) viết, thường là sự kết hợp hài hòa giữa hai nền văn hóa Hán-Việt, Pháp-Việt, tạo nên một tác phẩm "lai" và có chỗ đứng trong cả hai nền văn hóa gốc.
Mở rộng thêm vấn đề về trường hợp của những người Việt sống ở nước ngoài, một người (quốc tịch) Pháp hoặc Mỹ, gốc Việt, viết văn bằng tiếng Pháp, tiếng Anh, nên xếp vào văn học sử Pháp, Mỹ hay văn học sử Việt? Trong trường hợp này, "bản chất" của tác phẩm cung cấp nhiều thông tin hơn quốc tịch của tác giả. Ví dụ, Linda Lê, dù là gốc Việt, nhưng khó tìm thấy dấu ấn (văn hóa và tâm hồn) Việt, trong tác phẩm của chị; ngược lại, Phạm Duy Khiêm, Nguyễn Tiến Lãng, dù viết tiếng Pháp nhưng tác phẩm của họ thấm đậm tâm hồn và tâm thức Việt Nam. Cho nên vấn đề Hồ Hữu Tường đặt ra chỉ nên xem là một cách thúc đẩy mọi người khai triển và tìm kiếm những hướng đi khác trong cách viết văn học sử, đặc biệt nên chú ý đến những mảng văn chương bị các chính thể khai trừ, thậm chí tiêu diệt, và đó là điều thường trực xẩy ra ở mọi nơi, mọi thời.


Bài "Tìm một ý thức hệ cho thời đại" trong Luận lâm và bài "Cái nghiệp tiên thiên" trong "Trầm tư của một tên tội tử hình" (Lá Bối, Huế, 1965), phát triển tư tưởng Minh đạo đưa ra giải pháp: Canh tân đạo Phật, làm sao cho đạo Phật từ xu hướng tu thân, xuất thế, giải thoát cái khổ cá nhân, trở nên một Minh đạo, nhập thế, tìm giải pháp cho cái khổ tập thể của con người thời đại, chìm trong áp bức và chiến tranh.
"Có lẽ hồi thời của Phật, kinh tế còn là tự nhiên, con người ít bị đớn đau mỗi ngày vì bị bóc lột, chính trị còn là đơn sơ, thần dân ít bị khổ sở vì thiếu sự tổ chức xã hội; nên khi nhìn nhận cái khổ, Người chỉ thấy rõ có sinh, lão, bệnh, tử [...] Cái khổ này là cái khổ cá nhân, thì tìm sự giải thoát bằng phương pháp cá nhân là một việc giải thích được. Nhưng loài người càng phát triển, liên hệ xã hội càng phức hóa, thì một cái khổ khác tràn lên, cái khổ tập thể bởi sự tổ chức xã hội không thay đổi kịp để mãi thích ứng cho sự tiến triển nầy." (Tìm một ý thức hệ cho thời đại, Luận lâm, nxb. Huệ Minh, 1965, trang 57)


"Đạo Phật, và chỗ nầy nó khác hơn các tôn giáo khác, là một sự tu luyện, theo nghĩa tầm nguyên của danh từ này: tu là làm cho càng tốt đẹp thêm mãi, luyện là làm cho tinh ròng thêm mãi. Phật tử tu luyện để làm cho lý trí càng thuần thục hơn hầu đến cái giác. Nếu sự tu luyện ấy dùng để dự bị vấn đề, chuẩn bị các điều kiện, vạch lối trước bằng trực giác hay thị kiến cho các sự giải đáp các vấn đề này, thì tôn giáo sẽ là hướng đạo cho đại đội quân của khoa học. Chừng ấy Niết bàn sẽ không còn là một cái chứa không có gì đựng ở trong và chỗ nhắm của các vị bồ tát (tự giác nhi giác tha) mới đạt được." (trích Cái nghiệp tiên thiên, trong Trầm tư của một tên tội tử hình, trang 36-37, Lá Bối, 1965)


Nếu trong quá khứ ảnh hưởng đạo Phật thời nhà Lý đã đem đến các vị vua nhân từ như Thái Tông, Thánh Tông, Thần Tông... và đưa nước Việt đến một thời kỳ phát triển cực thịnh, thì ở đây, trong lý thuyết Minh đạo mới này, Hồ Hữu Tường dường như muốn mở rộng tính chất đạo trị hơn, muốn tâm thức thiền sư đi vào lòng người, qua phương pháp giáo dục, một cách "trồng người" mới, để tất cả đều có phương tiện đi tới bến giác ngay trong cuộc sống, tạo ra một cõi niết bàn tại thế. Vai trò của một Maitreya - Di Lặc thời nay -thời mạt pháp- là phải tạo ra một nền văn minh tu sĩ, tức là đem đạo đức tôn giáo vào đời sống chính trị. Tôn giáo phải đồng nhất với chính trị để tạo ra những con người nói chung, và người cầm quyền, nói riêng, có đạo đức, thấm nhuần lòng từ bi, bác ái, thâm hiểu ý niệm bình đẳng và tự do. Tóm lại, sự đào tạo con người trong tinh thần Minh đạotổng hợp bốn nền móng cơ bản: tôn giáo, triết học, khoa học và chính trị. Ở đây, Hồ Hữu Tường lấy lại hai chữ Minh đạocủa Hồ Quý Ly để đưa ra một nội dung tư tưởng mới.

Vấn đề đạo đức tôn giáo nói chung và đạo đức nhà Phật nói riêng, ngày nay cũng đang thịnh hành ở Tây phương, đạo Phật phát triển rất mạnh ở Pháp. Dường như trong một thế giới "võ trị" như ngày nay, sự trở về với đạo đức, niềm tin, là một điều kiện cần thiết và lý thuyết Minh đạo Hồ Hữu Tường đề nghị cách đây hơn nửa thế kỷ vẫn còn rất hợp thời.


Lập thuyết Minh đạođánh dấu giai đoạn chuyển biến tư tưởng thứ nhì của Hồ Hữu Tường. Trong năm năm tù Côn Sơn lần thứ nhất, dưới thời Pháp thuộc, Hồ Hữu Tường đã "trầm tư" ra chủ thuyết dân tộc để thay thế chủ nghĩa Mác-Lê. Ở Côn Đảo lần thứ nhì, dưới thời Ngô Đình Diệm, kẻ bị kết án tử hình "trầm tư" ra chủ thuyết Minh đạo: Tổng hợp chủ nghĩa xã hội và đạo Phật. Và đó là điều mâu thuẫn lớn lao trong tư tưởng Hồ Hữu Tường: suốt đời đánh đổ những ý thức hệ, và suốt đời lập thuyết. Nhưng chính điểm mâu thuẫn ấy là đức tính lớn lao của ông, tạo dựng tư cách độc đáo của một nhà văn, nhà chính trị và nhà tư tưởng, bộc lộ tính chất hành động trong tư tưởng Hồ Hữu Tường.

Cuốn Nói tại Phú Xuân(Huệ Minh, Sài Gòn, 1965) tập hợp những bài tham luận đọc tại Huế trước cử tọa thanh niên, Hồ Hữu Tường phân tích tất cả những nhược điểm trong ngành giáo dục của ta, thiếu sách vở, thiếu thày ..., và ông đã dùng tất cả tài năng hùng biện của mình để thúc đẩy tinh thần sinh viên, nêu lên những nguyên tắc rèn luyện tinh thần:

- Thứ nhất: Tinh thần súc tích (esprit d'accumulation). Súc là chứa, cất, tích là dồn lại. Kẻ đi học, với tinh thần súc tích ví chẳng khác anh nông dân, mùa khô gặt lúa, chứa thóc vào bồ để quanh năm lấy ra mà dùng. Nhưng người đi học mà chỉ có tinh thần súc tích thôi, thì khi ra đời chỉ có thể làm cán bộ thừa hành. Cho nên tinh thần súc tích chưa đủ.

- Phải có tinh thần phê phán để xét lại tất cả những thông tin mà mình thu thập được.

- Rồi tới tinh thần tìm tòi tinh thần phát minh.

Nhưng bao trùm lên hết là tinh thần dân tộc.
"Tinh thần dân tộc là kết hợp rất nhiều phức cảm về màu da, về tiếng nói, về tập quán, về ý thức... chung quanh cái ý muốn chung làm cho dân tộc Việt được trường tồn [...] Tôi cho là tinh thần dân tộc không phải chỉ là cảm tình, là bản năng, nó còn có thể là sinh lý nữa [...] đọc bài văn tế các trận vong chiến sĩ của Nguyễn Đình Chiểu thì rơi nước mắt rồi dấn thân vào con đường kháng Pháp. Lùi lại lịch sử mấy trăm năm, đọc bài Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi, chúng ta vẫn còn thấy tim rung động." (trang 42-45)

Đối với Hồ Hữu Tường, sinh viên, nếu muốn tìm một phương pháp rèn luyện cá nhân để phụng sự dân tộc, thì phải nhìn thấy mấu chốt của vấn đề: Tinh thần súc tích, tinh thần phê phán và tinh thần phát minh là ba cái chân vạc của một cái đỉnh thờ: tinh thần dân tộc. Hồ Hữu Tường có cực đoan quá chăng? Không, bởi vì ông đã sống trong một thời kỳ mà đất nước bị người Pháp đô hộ, tiếp theo là cuộc nội chiến ý thức hệ giữa hai miền, do ngoại bang điều khiển. Rồi cuộc thống nhất đất nước, lại phát triển thêm hai cực:

- Một hướng tự đại, triệt để đề cao "bản sắc dân tộc" qua những nội dung trống rỗng, coi Việt Nam là trung tâm của vũ trụ, không cần học hỏi tìm tòi;
- Một hướng tự ti, vọng ngoại, lấy ảo ảnh Tây phương để thay thế cho ảo ảnh thiên đường xã hội chủ nghĩa.

Trong cả hai trường hợp, một tinh thần dân tộc đích thực, trong sự học hỏi, tìm kiếm và phát minh để xây dựng một tương lai văn hóa Việt Nam trong chiều hướng văn trị, vẫn còn cần thiết, nhất là khi hiện tượng toàn cầu hóa có thể phát triển trong chiều hướng võ trị.



Số kiếp con mọt và con thằn lằn


Nếu Hồ Hữu Tường luôn luôn nhắc nhở "tôi không phải là nhà văn, tôi chỉ là kẻ dụng văn", thì những truyện ngắn của ông lại từ chối lời nhận xét trên đây và công nhận điều sau này: "Đọc tiểu thuyết hay của các nước, tôi rất hiểu tiểu thuyết xây dựng thế nào, nhưng tôi không chịu viết tiểu thuyết, mà chỉ bám vào lối văn "kể chuyện". [...] Tôi chỉ muốn "kể chuyện" cho hoang đường, cho hóm hỉnh, cho trào phúng, cho quê mùa, như những giáo sư văn chương của tôi mà thôi. Con nhà trâm anh thế phiệt, ông, bác, cha, anh, thảy đều khoa hoạn, thì viết văn điêu luyện như Nguyễn Du, việc ấy hợp lý, hợp tình. Con nhà nông như tôi, mà viết văn nông dân, việc ấy cũng hợp lý, hợp tình nữa.
Con vua thì đặng làm vua
Con sãi ở chùa thì quét lá đa
có cái văn tâm như thế, nên trong chín năm theo chủ nghĩa Mác-Lê, giáo điều của chủ nghĩa nầy dạy phải viết theo đường lối "tả chân xã hội" (réalisme socialiste), thà tôi nhịn viết văn, chớ tôi không chịu phản lại giai cấp tôi. [...] Cái văn tâm như thế đem những văn tứ "cổ điển" lại, chuyện "ma", chuyện thần tiên, chuyện hoang đường, chuyện tiếu lâm châm biếm ... "cổ điển" là cổ điển của thứ văn chương nông dân ta vào thế hệ của tôi."
(trích bài Tựa cuốn Kể chuyện, nxb Huệ Minh, Sài Gòn, 1965)

Như vậy rõ ràng là trong cách viết văn, Hồ Hữu Tường đã cố tình lựa chọn lối kể chuyện, ông không gọi là truyện ngắn, mà lấy ngay hai chữ kể chuyệnlàm tên sách. Và cách kể chuyện thần tiên, ma quỷ của Hồ Hữu Tường cũng là một cách chống lại "duy vật biện chứng" bằng con đường dân tộc: "Về chuyện ma, kỷ niệm của tôi là kỷ niệm chung của tất cả, tất cả trẻ con Việt ở nhà quê. Một đêm tối om, bên cạnh ngọn đèn dầu leo lét, ba bốn người ngồi lại mà nghe kể chuyện, một thằng nhỏ giõ tai nghe. Một lát nó nhảy vào giữa, run sợ. Mà càng run thì nó càng thấy lý thú[...] Thế mà, vào nhà trường, học khoa học của Tây phương, thầy cấm đứa nhỏ ấy tin truyện ma, cho đó là dị đoan [...] Khi nhập vào chủ nghĩa Mác-Lê, thì giáo điều của duy vật luận biện chứng pháp lại càng nghiêm khắc với chuyện ma hơn nữa. Thế mà sự thật lại khác hẳn. Năm 1932, nhà của một người bạn của Tạ Thu Thâu là trạng sư Blaquière, ở đầu đường Taberd (nay là Nguyễn Du), xéo xéo nhà thờ lớn, lại có ma dời bàn, khiêng ghế, dựng ván đứng lên, làm "trò khỉ" (mượn lời của cựu thủ tướng Hương). Nhà mác-xít Tạ Thu Thâu tức quá, luôn ba đêm đến đó ngủ, để nghiên cứu bọn ma có quyền lực gì, mà làm cái công việc mười người lực lưỡng chưa chắc làm nổi... Nhưng vì quyền lợi của chủ nghĩa duy vật mà chúng tôi đương vác cờ, không cho phép chúng tôi nói đến." (Kể chuyện, trang 4-5)

Hồ Hữu Tường có tin ma hay không, điều đó không quan trọng. Ma chỉ là cái cớ đểø ông phát lộ tinh thần dân tộc: người dân mình tin ở thần linh, ma quỷ, thì mình cũng không thể xóa chúng trong sổ văn chương của mình. Tính chất duy linhlà một phần "dân tộc tính" vẫn còn hiện hữa và Hồ Hữu Tường đã dùng duy linh để đối chọi với duy vật (vô thần). Ma như một cõi âm bí mật, không biết, chưa biết, giao thoa giữa siêu linh và tâm thần, nhưng ma có thể giúp ngườinói đến nhiều việc thực dụng, hiện hữu (Bồ Tùng Linh); ma là một trong những đề tài mà văn học có thể sử dụng để đưa đến những kết quả nghệ thuật bất ngờ: Hồ Hữu Tường đã "dụng ma" như ông đã "dụng văn" để trình bày tư tưởng của mình.


Những chuyện kể của ông, gom góp in lại thành sách, chỉ có ba tập. Cuốn Quả trứng thần gồm nhiều truyện thần tiên, in năm 1952, nay đã thất lạc; trong bài Tựa cuốn Kể chuyện (1965), tác giả có lời rao: bạn nào có cuốn sách này xin cho mượn lại.

Kể Chuyện (Huệ Minh, Sài Gòn, 1965) gồm bẩy truyện ngắn, những mẩu tiếu lâm về Quặp râu và một vở kịch trào phúng.
Cuốn Nợ tinh thần(Huệ Minh, 1965), do Nguyễn Ngu Í biên tập, là cuốn tạp văn, có bốn bài tiểu luận đặc sắc: Một bài phi lộ, đề xuất những kế hoạch nghiên cứu triết học, khoa học và thể hiện văn chương; Tân Xuân Thu (hai bài) so sánh thời chúng ta với thời Xuân Thu; Xuân Thu cũXuân Thu mới, phê bình bộ Đông Chu liệt quốc, và hai truyện ngắn hay: Tù trong tùChuyện con thằn lằn chọn nghiệp.

Cách kể chuyện của Hồ Hữu Tường rất đa dạng: Răng đen (trong Kể chuyện) là một "truyện thật ngắn" (3 trang) cô đọng và đặc sắc, vạch trần chính sách nham hiểm của thực dân: Hai sinh viên nhược tiểu (Maroc - Annam) gặp nhau trên "mẫu quốc". Trong ba năm học chung, họ rất quý mến nhau, nhưng đế khi tôi (tác giả) lên đường về nước, Ali mới thổ lộ: Tôi sợ anh lắm. Vì sao? Bởi Ali vẫn đinh ninh rằng nước "Đại Pháp" đã dẹp tan quân "phiến loạn" Abd-el-Krim, nhờ bọn "tirailleurs annamites" (lính khố xanh) nổi tiếng ăn sống thịt người đến nỗi máu khô đọng lại nhuộm đen răng!

Xuân An Hải (trong Kể chuyện) là một chuyện ma "thật sự" xẩy ra ở An Hải, một làng cổ ở Côn Đảo. Người tù bị "ma dấu" là một anh cộng sản chính hiệu và những người chứng kiến việc "ma dấu" này (gần 200 mạng) phần đông đều theo chủ nghĩa duy vật. Lập lờ giữa mê tín và giả đò, Hồ Hữu Tường muốn chế giễu cả biện chứng lẫn con người duy vật: tất cả chỉ là một trò giả đò như ma dấu hay chăng?

"Bỗng có tiếng hú vang, tiếng hú xa tít từ trên chót núi Chúa đưa xuống, lẫn với tiếng cây cối rung chuyển ào ào, như cơn bão rừng, như đạo kỵ binh rần rộ từ trên cao kéo xuống, nghe lạnh xương sống. Trông theo tiếng hú, thì thấy anh Xa mắt nhắm nghiền, hai tay đưa ra trước như nắm một dây cương ngựa tưởng tượng, từ trên cao phóng xuống như bay. Điều mà giữa ban ngày không ai dám làm, nữa là ban đêm, cái đêm cuối năm đen như mực xạ. [...] Thế mà Xa cứ chạy, chạy như bay, lướt trên mặt đá lởm chởm." (Kể chuyện, trang 18)

Một quang cảnh rất siêu thực do bàn tay phù thủy sắp đặt: Tiếng hú trên núi Chúa đưa xuống, trông theo tiếng hú, thấy anh Xa mắt nhắm nghiền, chạy như bay... tất cả chỉ là phù phép, hỏa mù xung quanh một "thực thể" ghê gớm "tiếng hú từ núi Chúa". Cả anh Xa, lẫn những kẻ "trông" thấy tiếng hú (gần 200 mạng tin theo duy vật), ở đây đều đã mu muội, đang lên đồng theo lệnh của Chúa. Điểm ngời ngời duy nhất sáng trưng ở đây là núi Chúa, nơi Chúa ngự. Chúa không ra mặt nhưng Chúa điều khiển, Chúa giật dây, Chúa làm lóe mắt, ù tai những kẻ "nghe" và "nhìn" thấy "Chúa".
Đồng thiếp giữa giả và thật để hóm hỉnh nhạo báng các hạng "chúa tể" trên đời: Chúng chính là ma. Người bị ma dấu, mê hoặc trong một trận đồ, trở thành cuồng tín, nhảy nhót, đằng phi, đi mây về gió... vô tình làm trò đùa cho những cuộc chơi đồng thiếp, làm quân trong những trận "cờ người"?


Một hình thức "ma dấu" khác nằm trong truyện ngắn Cọp hú. Cọp hú (trong Kể chuyện) rút từ một huyền thoại miền Cà Mau. Người bị "cọp hú" cũng tương tự như bị quỷ ám, sẵn sàng dâng cả thể xác lẫn linh hồn cho cọp. Cọp hú là một hình thức ngụ ngôn thấm đậm màu sắc địa phương, dân dã, một mặt nói lên những mu muội của người ăn phải bả cọp (ngoại bang hay lý thuyết ngoại bang), quay trở lại "ăn thịt" đồng bào ruột thịt mình.


Côn Lôn là một ngục tù lũy thừa bốn: ông, cha, con, cháu. Kẻ ở trên đảo là kiếp tù ông. Trong đảo có banh (bagne), kẻ ở trong banh là kiếp tù cha. Trong banh có khám, bị nhốt trong khám là tù con. Tù con mà còn bị còng chân là tù cháu. Đó là thân phận tù trong tù.

Qua bốn cửa ải, vào vòng tận của khổ đau, trong cuộc đời gần 20 năm tù tội, Hồ Hữu Tường rất ít khi nhắc đến những đọa đầy thân xác trong tù, họa hoằn viết một vài hàng như: "tôi lướt qua cơn dông tố mà ba phần tư anh em, vì yếu đuối vượt qua không nổi, phải gởi xương ngoài đảo."

Tù trong tùgiúp chúng ta hiểu tại sao Hồ Hữu Tường có đủ nghị lực để vượt lên những cơn dông này: phải có một hoạt động tinh thần hàng ngày, phải tìm cách "đằng phi trên vòm trời tư tưởng".
"Ấy là tôi có được người bạn đường (Nguyễn An Ninh) để đằng phi trên vòm trời tư tưởng.
Nhờ sự đằng phi trên vòm trời tư tưởng ấy, xét nét lại cả những hệ thống triết học, tôn giáo, tư tưởng, mà tôi quên rằng thời gian qua mau hay là quên chú ý đến những khổ cực nặng nề của đời tù con."
(Tù trong tù, Nợ tinh thần, Huệ Minh, 1965, trang 71)

Hồ cố gắng vươn lên, từ đớn đau của thể xác và tối tăm của định mệnh, một đời sống tinh thần phong phú, liên tục, một sức sáng tác không ngừng, trong tim, trong óc. Bao nhiêu người chết gục trong tù, riêng Hồ, để khỏi chết, trầm tưkể chuyện, sáng tác "nhẩm", hoặc viết, mặc dầu biết cái viết của mình đôi khi chỉ làm mồi cho mối mọt. Đó là bí quyết tồn tại. Lối "kể chuyện" của Hồ Hữu Tường, một lối kể bình dân, truyền thống như Nguyễn Đình Chiểu, như Hồ Biểu Chánh... rất miệt vườn, gắn bó với vùng đất mới Hậu Giang, nhưng đã biến dạng thành một lối kể đa diện và luôn luôn biểu lộ những suy tư của tác giả về cuộc sống, về sáng tác. Tiêu biểu nhất có lẽ là hai truyện Nàng mọt sách (trong Kể chuyện) và Chuyện con thằn lằn chọn nghiệp (trong Nợ tinh thần).


*


Nàng mọt sách là một truyện thần tiên, không dựa theo cổ tích mà do tác giả sáng tạo. Truyện bắt đầu bằng những hàng: "Ngày xưa ... Ở đất Hậu Xuyên có chàng học trò nọ, họHồ, tên Lân-Trinh, tự là Khổng Cưu..."
Lối mở đầu này cho thấy ngay đây là một tự truyện vì cả Lân Trinh lẫn Khổng Cưu đều là biệt hiệu của Hồ Hữu Tường.
Lân Trinh nghèo lắm, không có tiền mua sách để đọc. Gặp buổi loạn ly, chàng phải lánh nạn ở một cái am nhỏ của một vị đạo sĩ. Một hôm quét am, Lân Trinh lượm được cuốn sách xưa, mừng quá, mở ra đọc, thì than ôi, không trang nào nguyên vẹn. Một con mọt hai đuôi đang vội vã lẩn trốn, định giơ tay giết nó, nhưng không nỡ vì chàng tự hỏi nó ăn sách để sống cũng như ta ăn cơm vậy, có tội lỗi gì? Không ngờ con mọt là hậu kiếp của Tiên Dung, con gái Ngọc Hoàng. Xưa ở Thiên Đình, nàng phải hâm rượu cho cha đãi quần tiên, nhưng vì mê đọc sách làm cạn cháy rượu đào, bị vua cha đầy xuống trần gian. Tiên Dung xin được làm kiếp con mọt để đi hết nhân gian tìm lại cuốn sách quý mà nàng mới lật vài trang, chưa kịp đọc hết (trong tủ sách Thiên Đình). Đây là một truyện ngắn xác định văn tâm và văn tài của Hồ Hữu Tường, quảng bá tư tưởng "văn hóa trị". Vềû giai đoạn văn trị ở hạ giới, sao Thái Bạch tâu với Ngọc Hoàng: "Sở dĩ loài người đang ngoan ngoãn thế này, ấy bởi họ đương trải qua một hồi "văn trị". Họ không mê say việc chiến đấu, giết lẫn nhau. Họ không thèm nghĩ đến việc hại nhau, lừa nhau."

Ở thời kỳ văn trị này, loài người chỉ có một lối tranh đấu duy nhất là chọn con đường văn tự (gọi là thơ). "Thơ có thể làm cho con người say mê như mê gái đẹp", đó là một "tôn giáo mới mà giáo chủ là Nàng Thơ". Kẻ tín đồ của tôn giáo này cũng say mê, cũng khổ hạnh, cũng phải hi sinh, đôi khi tử vì đạo. Thỉnh thoảng cũng có kẻ "đắc đạo". Kẻ đắc đạo sẽ lên cõi Tao Đàn, trở thành Tiên, và Tiên được các tín đồ gọi là Thi sĩ. Thi sĩ không cần uống thuốc trường sanh mà vẫn bất tử. Mỗi vị để lại những phù chú riêng của mình, ghi lại trong những thứ gọi là sách. Mỗi tín đồ, muốn tìm đến vì Tiên của mình thì chỉ việc giở sách ra là có thể đàm đạo được. Nghe Thái Bạch "báo cáo" những đặc điểm của chính sách văn trị ở hạ giới, Ngọc Hoàng sinh lòng ham muốn, bèn truyền cho các vì sao đi khắp nhân gian, thu lượm các kiệt tác văn chương đem về "nộp bổn", tạo ra tủ sách Thiên Đình cho chư Tiên, Phật cùng thưởng lãm. Ngày lễ khánh thành thư viện, Tiên Dung, con gái Ngọc Hoàng, vì đam mê những kỳ lạ trong văn phong và tư tưởng của loài người nên mắc nạn, bị đầy xuống trần. Sự đầy đọa này lại đáp ứng đúng nguyện ước của Tiên Dung: muốn thoát khỏi thiên đàng "vô văn hóa" để đến với hạ giới văn hóa. Tiên Dung xin làm kiếp mọt để thỏa mãn đam mê tha thiết và nhỏ nhoi nhất của mình: Xuống trần để được sống trong "cõi văn", tìm lại cuốn sách hay mà nàng đang đọc dở. Sống kiếp mọt... bao lần bị loài người giết... nàng vẫn tái sinh thành mọt, Tiên Dung có tìm thấy hạnh phúc không? Hay chỉ là một kiếp lẩn tránh nguy cơ không ngừng bị tiêu diệt, mỗi lần gặp được một... "con người". Hay chỉ là một trần gian bụi bậm, mà loài người đã bỏ rơi ... văn. Sách vở không ai đọc, làm mồi cho ... mối, mọt? Thời kỳ "văn trị" đã qua rồi, hay tất cả chỉ là ảo tưởng? Một thiên đường tưởng tượng, chưa bao giờ hiện hữu? Lân Trinh và Tiên Dung là một kiếp: Hồ Hữu Tường.


Nếu trong Nàng mọt sáchHồ Hữu Tường còn có những giây phút lạc quan, tin tưởng vào một thời điểm hạ giới văn trị mà loài người không chém giết nhau, thì ở Chuyện con thằn lằn chọn nghiệpHồ nói lên tất cả những hoang mang, thất vọng của mình về con người võ trị. Chuyện con thằn lằn chọn nghiệp cũng là một tự truyện, mang tính bi đát của một "tiếng kêu trong sa mạc".

Đó là chuyện một thiền sư già, tu đã sắp thành chánh quả. Vị thiền sư đinh ninh rằng Phật Thích Ca khi đắc đạo có dặn là hai nghìn năm trăm năm về sau -thời mạt pháp-, Di Lặc sẽ xuống trần cứu độ chúng sanh. Tính ngày, tính tháng, thiền sư thấy thời hạn đã đến. Vì vậy ông nguyện sẽ tụng đủ một nghìn lần kinh Di Lặc để được đắc đạo. Nhưng dự định của ông có con thằn lằn nghe được, bèn tìm cách ngăn cản, vì nó biết chắc là sau khi tụng kinh đến lần thứ một nghìn, thiền sư sẽ lên giàn hỏa, tự thiêu, để đến cõi Niết Bàn. Đêm ấy, vị thiền sư tụng kinh (lần thứ một nghìn) dưới đĩa đèn dầu lạc. Thằn lằn bèn bò lên bàn thờ Phật, dần dần uống cạn đĩa dầu cho đèn tắt, nhà sư không tiếp tục tụng kinh được nữa. Nhiều lần như thế, thiền sư không hiểu nguyên do. Một đêm ông bèn vừa tụng kinh, vừa rình xem kẻ nào là thủ phạm vụ tắt đèn, và ông bắt quả tang thằn lằn tại trận. Nổi xung lên, nhà sư ngưng gõ mõ và mắng rằng:

"- Loài nghiệt súc! Té ra mi ngăn ngừa không cho ta được đắc đạo!
Rồi tay cầm dùi mõ, nhà sư nhằm ngay đầu con thằn lằn mà đập mạnh. Con thằn lằn bị đánh vỡ đầu chết ngay."

Kiếp thằn lằn phải chăng cũng lại chính là kiếp của Hồ Hữu Tường? Suốt đời muốn ngăn chặn sự mù quáng, u mê, tự sát, chém giết... nhưng thất bại và chính bản thân mình bị đồng loại trù dập, triệt hạ.
Nhà sư phải chăng là cõi nhân sinh? Một nhân sinh tin vào những thiên đàng bánh vẽ, muốn tranh thủ niết bàn bằng mọi giá, bất kể phương tiện, thậm chí cả việc sát sinh?
Muốn cứu người ư?
Muốn độ người ư?
Thằn lằn phải làm cách nào mới đạt được kết quả? Vì không thể bắt buộc người rời bỏ sự mê tín, cũng không thể bắt buộc người phải hướng thượng. Đó là câu hỏi mà Hồ Hữu Tường muốn đặt ra cho chính mình. Dường như ông đã nhìn thấy sự không tưởng trong các lập thuyết hướng thượng, đồng thời cũng nhận thấy sự cô đơn tuyệt đối của mình trước định mệnh, nên ông viết:
"Hồn con thằn lằn từ ấy trôi theo mây gió, không biết trụ vào đâu. [...] Thật chưa hề lúc nào có một linh hồn bị trừng phạt phải đau khổ đến thế."


*

Đó là đoạn kết trong Chuyện con thằn lằn chọn nghiệpviết năm 1953. Đến năm 1966, Hồ Hữu Tường viết thêm một đoạn, do Nguyễn Thái sưu tầm, in trên báo Quê Mẹ, số xuân 1983, nội dung ngụ ý:
Hồn thằn lằn vẫn muốn độ người. Nhưng loài người vì vẫn mắc tham sân si, nên tất cả đã phải đầu thai làm kiếp chuột. Muốn cứu người, thằn lằn bèn xin Thích Ca cho được đầu thai làm chuột, lấy tên Long Thử. Long Thử thấy loài chuột đông như kiến mà sợ hãi không dám chống lại một chú Mèo. Nó bèn kiếm kế rử Mèo vào bẫy, nhưng rút cục kế của Long Thử cũng không thực hiện được vì loài chuột quá hèn nhát và ưa phản bội. Cuối cùng Long Thử lại bị đem ra xử tử hình một lần nữa về tội "Thử gian". Muốn cứu người không dễ. Bởi người không tự cứu.
Hồ Hữu Tường bộc lộ sự tuyệt vọng tuyệt đối về con người: không có cách nào cứu vãn được. Dù đầu thai đến kiếp thứ mấy, con người vẫn y nguyên như cũ, với tất cả tham sân si cố hữu. Nhưng cũng không thể không có những kiếp thằn lằn, suốt đời tìm cách cứu độ nhân sinh, đưa người hướng thượng nhưng vô hiệu và những kẻ chọn nghiệp thằn lằn biết chắc con đường mình đi sẽ không dẫn đến chỗ nào khác ngoài cái chết.
*
Hồi ký và tiểu thuyết

Tiểu thuyết là thể loại sáng tác phong phú nhất của Hồ Hữu Tường, có thể chia làm hai loại: xã hội và trào phúng.

- Khuynh hướng xã hội (đấu tranh) có những bộ Gái nước Nam làm gì?, gồm 2 quyển: Thu HươngChị Tập (Nxb Sống Chung, 1949), Thuốc trường sanh, 3 cuốn: Xây mộng, Phúc đứcVẹn nguyền (Huệ Minh, 1964); Hồn bướm mơ hoa, 4 cuốn: Mai Thoại Dung , Ông thầy Quảng, Tam nhơn đồng hànhBủa lưới người (Nam Cường, 1966) và những tác phẩm khác như Kế thế , tiểu thuyết dã sử, (Huệ Minh, 1964), Người Mỹ ưu tư (tác giả xuất bản tại Pháp, 1968) viết về bối cảnh và thân phận những đứa con lai Mỹ-Việt.

- Khuynh hướng trào phúng có bộ Ngàn năm một thuở hay Một thuở ngàn năm, gồm 4 quyển đã in Phi Lạc sang Tàu (Sống Chung, 1949), Phi Lạc náo Hoa Kỳ (Vanay, Paris, 1955), Tiểu Phi Lạc náo Sàigòn (Nam Cường, 1966) Diễm Hồng xuất giá (Nam Cường, 1966).
Tự truyện và hồi ký: Thằng Thuộc con nhà nôngtự truyện (An Tiêm, 1966) và cuốn hồi ký Bốn mươi mốt năm làm báo(Trí Đăng, Saì Gòn ; Đông Nam Á, Paris, 1984). Ngoài ra còn một cuốn hồi ký tiếng Pháp, Un fetu de paille dans la tourmente (Cọng rơm dập vùi), viết tại Paris năm 1969, chưa in.


Hồ Hữu Tường là một trong những nhà văn có cách viết tự thuật và hồi ký vô cùng duyên dáng, hóm hỉnh, mà lại phản ảnh được cuộc đơì thăng trầm đầy sôi động của một người làm cách mạng bằng ngòi bút. Nhờ hai cuốn Thằng Thuộc con nhà nôngBốn mươi mốt năm làm báomà người đọc không những có thể biết rõ tiểu sử, tâm sự, con đường đấu tranh và xuất xứ mỗi tác phẩm của Hồ Hữu Tường, mà còn thấy được chân dung và tâm tình của những nhà ái quốc khác như Nguyễn An Ninh, Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu trong bối cảnh hoạt động của họ, liên hệ đấu tranh, tư tưởng, tương quan lực lượng giữa những cá nhân hay đoàn thể đã hoạt động cùng thời với họ.


Với Thằng Thuộc con nhà nông, Hồ Hữu Tường vừa muốn xác nhận nguồn gốc nông dân , vừa muốn bác bỏ tính duy vật mà chủ nghĩa Mác Lê gán ghép cho họ: Hồ đề cao tính duy linh trong tâm hồn Việt như một cá tính độc đáo không thể loại trừ: tin tướng số, qủy thần, sấm trạng, điềm, vận Hồ không hề đứng ở địa vị nhà khoa học để phán xét nhân dân, ông luôn luôn đứng về phía quần chúng bình dân để nhìn đời. Toàn bộ triết lý sống của Hồ Hữu Tường dường như nằm trong mấu chốt đó, ông sống và viết như một nông dân chính hiệu. Muốn được như vậy, trước tiên, ông phải «» nông dân (mặc dù có học). Hồ đã thành công trong sự «» ấy. Từ lúc chưa ra đời, Hồ đã là «nông dân» trong lòng mẹ: sinh trong điềm và sấm. Hồ tự «khai sinh» cho mình trong lòng dân tộc, từ dân tộc tính Việt Nam.
Họ Hồ thật, gốc nông dân thật, ở Hồ không có dấu vết giả dối nào, từ nguồn gốc đến danh hiệu, có lẽ để đối chiếu với một sự giả mạo họ tên khác của người cùng thời trong lịch sử.

Gia đình họ Hồ, khi Tây Sơn thua, chạy đến miệt Cái Răng là đã kiệt quệlắm. Hồ Hữu Tường thuật lại rằng: «Tía tôi, Hồ Văn Sây, lớn lên trong cảnh nghèo nàn, thất học từ nhỏ, ông được cả làng chú ý vì tánh tình ngay thẳng, cương trực, hiền lành» (Thằng Thuộc con nhà nông, trang 14-15). Mẹ Hồ Hữu Tường, bà Võ Thị Nữ, tuy con nhà giàu nhưng mồ côi cha năm mười hai tuổi, mẹ tái giá để con lại cho bà cô (giàu) nuôi; cô gả Nữ cho Sây (người làm công) vì muốn cháu gái có chồng họ Hồ, «họ của ba vua» ( Quý Ly, Thái Đức, Quang Trung).

Ngoài cha mẹ, Hồ Hữu Tường còn nhắc đến một nhân vật khác, khá huyền bí là Thầy Quảng (gọi là Thầy Quảng vì có giọng nói Quảng Nam). Thầy Quảng, người đỡ đầu, vừa là thầy bói, vừa là đạo sư, và là đảng trưởng đảng Bửu Sơn Kỳ Hương, đã ảnh hưởng sâu xa đến cha con Hồ Hữu Tường. Khi Hồ ra đời, Thầy Quảng bói một quẻ: «Năm Canh Tuất, tháng ba, ngày hai mươi chín, giờ dần thì tốt lắm, mà cũng xấu lắm. (Nếu) Không có «Tuần» và «Triệt» thì số này là số Đế vương» (trang 24). Rồi Thầy Quảng đặt tên: «... đặt tên cho nó là Hồ Hữu Tường, nghĩa là họ Hồ có điềm lành. Nó có «văn xương», «văn khúc» thì ắt không phải là nông dân như ông cha. Ít nữa cũng là một văn sĩ. [...] Vậy tôi đặt cho nó cái tự là Khổng Cưu, ứng vào câu «khổng cưu đắc hữu tường». Khổng là to, cưu là bói, Khổng Cưu Đắc Hữu Tường là bói một cái bói to mà được điềm lành»(trang 26). Thầy Quảng còn đặt tên hiệu là Bửu Liên (vì hôm sanh Tường, tía nằm mộng thấy có người đem tặng một đóa sen quý). Tất cả những «điềm», «số» và «sao» như vậy đã «vận» vào Tường từ lúc ra đời: Tường mang «mệnh đế vương», chào đời với «sứ mạng hưng vượng dòng họ», «tân tạo quốc gia», «giải phóng dân tộc». Rủi thay, cái tên chữ «Hữu Tường» đang gánh những kỳ vọng «hay ho» như vậy, lại bị kỵ húy đúng tên ông dượng ghẻ (chồng thứ nhì của bà ngoại), Hữu Tường bèn bị tía đổi tên là thằng Thuộc cho gọn, bởi nó đọc đâu thuộc đấy !


Đó là thủ pháp «kể chuyện» của Hồ Hữu Tường: đem xuất xứ dòng họ đặt lên đỉnh, có lẽ muốn giải thích thái độ cao ngạo của mình, rồi đùng một cái, lật ngược đỉnh xuống đáy bằng chính «nội dung» lời kể: Thằng Thuộc lật nhào Hữu Tường, chữ nôm đánh đổ chữ Hán, nguồn gốc nông dân đánh đổ nguồn gốc đế vương Nghệ thuật ở đây là hạ bệ. Sự hạ bệ này còn có nhiều lối hành ngôn khác không kém phần thâm thúy, cao ngạo và hóm hỉnh: ví dụ về cuộc gặp gỡ chính trị với nhân vật đệ tam là Tôn Quang Phiệt. Sau khi gặp Hồ Hữu Tường và Tạ Thu Thâu,Tôn Quang Phiệt kể lại với Đào Duy Anh rằng:«Hai đứa nó là kỳ tài phải lắm. Tạ Thu Thâu tướng con vượn. Hồ Hữu Tường tướng con khỉ đột. Con vượn yểu tướng, e Tạ Thu Thâu chết sớm. Con khỉ đột sống dai hơn. Đào Duy Anh thuật lại lời ấy rồi, thì vài tháng sau, tôi nghe Tạ Thu Thâu bị giết ở Quảng Ngãi» (sđd, trang 45). Ở đây ông đặt hai cặp phạm trù đối cực: kỳ tài-khỉ vượn, chuyện tếu-bị giết, trong một câu, khiến hai «đối cực» ấy tự triệt tiêu nhau, một cách tương đối hóa, hài hước hóa những chuyện không hài hước (ám sát, thủ tiêu). Hồ Hữu Tường tạo cho cuộc đời một chiều kích mới: tất cả đều có thể nhìn dưới con mắt khoan dung, độ lượng, nếu ta coi sống, chết, như những cuộc chơi, mà sự « mất», «còn», đáng cười hơn đáng khóc. Chỉ với nhân sinh quan như thế, Hồ Hữu Tường mới có thể sống còn trong những cuộc thanh trừng, các trại tù mà Côn Lôn khét tiếng là mồ chôn người yêu nước.


Hồi ký Bốn mươi mốt năm làm báo, viết vào khoảng năm 1971, do Trí Đăng xuất bản tại Sài Gòn, và Đông Nam Á in lại ở Paris năm 1984, là một tác phẩm giá trị về hai mặt tư liệu lịch sử và nghệ thuật viết hồi ký. Đây là một thiên phóng sự đầy tính phóng túng và hài hước về suốt giai đoạn từ 1930 đến 1971, trong cuộc đời hoạt động cách mạng và làm báo của Hồ Hữu Tường cùng với những nhà cách mạng khác, các bậc đàn anh như Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền hoặc những bạn đồng hành như Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, v.v... một thế hệ thông minh xuất chúng, coi ngục tù, cái chết như không, loại những bi thảm bằng tiếng cười, và trên tất cả là lý tưởng giải phóng quê hương và niềm tự hào dân tộc.


Với nghệ thuật kể pha trộn cả bi lẫn hài, giao thoa ký ức và tư liệu lịch sử, Hồ Hữu Tường đã vẽ được những chân dung cực kỳ sống động của Nguyễn Thế Truyền, Phan văn Trường, Nguyễn An Ninh, Tạ Thu Thâu, Trịnh Hưng Ngẫu, Phan Văn Hùm.với những giai thoại lý thú như: nguồn gốc cái tên Nguyễn Ái Quốc, làm báo» nhẩm» Thiên Thu, mối tình Bruxelles, Nguyễn An Ninh bán dầu cù là, Phan văn Hùm dậy Hồ Hữu Tường viết văn Việt.

Tiêu biểu cho tác phong hài hước hoá những chuyện nghiêm chỉnh, có thể kể màn Nguyễn An Ninh dạy thanh niên phân biệt đệ tam với đệ tứ:

«- Mấy em còn nhỏ, chưa biết vợ con. Thế nào ra đời rồi cũng phải cưới vợ. Vậy để qua dậy cho em học làm chồng có lẽ có ích lợi hơn là học làm cách mạng với mấy anh đó, nói cái gì mà mấy em không hiểu. Đây qua hỏi các em vậy chớ l.. có mấy lỗ? Đừng có cười chớ!ù Các em làng chàng, không học bài căn bản nầy, rủi làm bậy vợ nó chết thì làm sao?
Mấy cậu thanh niên ngơ ngác nhìn nhau, thì Ninh dạy:
- L... có ba lỗ, một cái lỗ để đái, một lỗ để đẻ và một lỗ để đ… các em phải thuộc cái đó bằng không thì không được đa!
Bọn trẻ cười lăn, nhưng cũng nghe Ninh kết luận:
-Ừ thì Đệ tam một lỗ, Đệ tứ một lỗ, và con đường dân tộc cũng một lỗ. Các em làng chàng đi sai đường, thì không khác nào cưới vợ mà đ... sai lỗ vậy(...)
-Ừ thì các em cứ cười cho đã đi, rồi nghe qua nói một câu nầy. Tất cả con trai cưới vợ, nào để nhìn nó đái ? Nhà nghèo, thêm sợ nó đẻ. Chỉ muốn cưới vợ vì cái chuyện vợ chồng mà thôi. Thì Đệ tam hay Đệ tứ gì thì cũng ví như đái và đẻ. Chớ toàn dân thảy đều muốn cuộc cách mạng dân tộc, giải phóng dân tộc mình khỏi gông cùm ngoại bang. Có phải vậy không?»
(Hồi Ký, trang 99-100)

Lối tái tạo chân dung Nguyễn An Ninh trên đây đã làm sáng tỏ một lúc hai nhân cách: Một Nguyễn An Ninh hóm hỉnh tuyệt vời, đi vào lòng quần chúng qua ngả tư biện hài hước, dùng thực chứng để giải thích những lý thuyết khô khan về chính trị, dùng tục để đáp với thanh. Một Hồ Hữu Tường xuất sắc trong nghệ thuật: không «tả» Ninh mà «kể» Ninh, nhưng sự «kể» của ông cũng là «tả»: ông đồng hóa nghệ thuật kể và tả. Từ lời nói hóm hỉnh của Nguyễn An Ninh toát ra lòng yêu nước của người anh hùng, nhưng nét đặc biệt ở người anh hùng này, Ninh là «người» trước và «hùng» sau, hoặc ít ra «người» đi đôi với «hùng», khác những thần tượng thường được suy tôn: chỉ có «hùng» hết là «người» .

Nguyễn An Ninh, qua lời kể của Hồ Hữu Tường là một nhân vật anh hùng phản anh hùng, pha trò, nói tục, cám dỗ thanh niên bằng tâm hồn trào phúng, bằng biện chứng phản biện chứng, bằng ngôn ngữ gợi hình độc đáo, ý nhị. Cái tục ở Nguyễn An Ninh-Hồ Hữu Tường là tục đắc địa, tục của những người có bản lãnh, tục mà vẫn giữ được đạo theo nghĩa Bồ Đề Đạt Ma: siêu tục, siêu tục dẫn đến những nụ cười Xuân Hương, Duy Tốn rất thế tục, khác hẳn với cái dung tục tầm thường, không nghệ thuật, tục để mà tục, ít khi phản ảnh một thực tại sống thật nào.

Trào phúng đối với Hồ Hữu Tường trở thành một liều «thuốc trường sanh», chữa bách bệnh, là dưỡng khí nuôisống người tù. Ký ức tù của ông khác với nhiều người, không chứa khổ đau, không gây căm phẫn, hờn oán. Dường như , những điều ấy không có gì đáng nói, đáng kể; điều đáng ghi lại là những trầm tư của một «tên tội tư ûhình», nghĩ về tương lai dân tộc hoặc những giây phút hạnh phúc của đời tù: kể chuyện Tàu, làm báo nhẩm, sự «bột phát» của tác phẩm nhẩm: Phi Lạc hoài thai từ nền văn chương nhẩm với những tiểu thuyết đã «có màu Tự Lực Văn Đoàn lắm».

Tất cả những hình thức sáng tác nhẩm này, là để chữa căn bệnh biệt giam «bị nhốt với người khác còn trò truyện mà trí khuây khoả (...) Chớ bị nhốt một mình, thì mình luôn luôn nói chuyện với mình, mệt trí không tưởng tượng nổi. Có khi câu chuyện mình nói với mình khuya rồi mà chưa dứt, thì tiếp tục nói hoài, sanh ra bịnh mất ngủ. Mà hễ mất ngủ luôn, thì dễ sang qua điên».(Hồi Ký, trang 54).

Toàn bộ tập hồi ký là một giọng coi thường cái chết, tương đối hóa khổ đau, hài hước hoá những trầm trọng, bi kịch; coi tất cả chỉ là đùa chơi, không có gì quan trọng. Từ những kinh điển, những «tư tưởng lớn», đến những lý tưởng, lập thuyết, cái gì cũng có mặt trái của nó. Hồ Hữu Tường vạch mặt trái của tất cả kể cả chính mình, vì vậy mà ông chiếm được lòng tin của độc giả qua những điều tự thuật,ø rất có thể «có chỗ bịa» nhưng bịa y như thật, điều mà ông không mấy thành công trong địa hạt tiểu thuyết xã hội.



Tiểu thuyết của Hồ Hữu Tường thường dài dòng và hay giải thích, phần tâm lý nhiều khi sơ sài, giả tạo, nhưng ông có óc hiện thực xã hội, óc tưởng tượng và óc trào phúng rất cao.

Ở loại xã hội, Hồ Hữu Tường dùng tiểu thuyết như một phương tiện tuyên truyền, xác định lập trường yêu nước; ở loại trào phúng, tiểu thuyết của ông phủ định tất cả: chế giễu chính trị, phê phán xã hội, đả phá những "trịnh trọng" của lập thuyết, coi tất cả là chuyện tiếu lâm, hài hước, tán dóc, tán nhảm. Hai khuynh hướng này đối lập nhau, tiêu biểu hai nét tương phản trong con người Hồ Hữu Tường: Có một Hồ Hữu Tường nghiêm chỉnh, ưa lập thuyết và một Hồ Phi Lạc trào lộng, đánh đổ tất cả những gì có tính cách lý trí, biện luận.


Hai cuốn tiểu thuyết xã hội đấu tranh đầu tiên của ông là Thu HươngChị Tập.

Chị TậpThu Hương, viết năm 1949, trong bộ Gái nước Nam làm gì?là kết quả của một thử nghiệm "tiểu thuyết mới" mà ông cho biết là đã bàn bạc với Khái Hưng ở Hà Nội năm 1945, và trao đổi thêm với Đông Hồ ở Sài Gòn. Chị TậpThu Hương tiêu biểu cho hai từng lớp đấu tranh trong giai đoạn đầu cách mạng. Tập xuất thân từ quần chúng lao động, Thu Hương trí thức, tiểu tư sản, thành thị. Thu Hương được mô tả qua hình ảnh cô Cúc, sau này là nha sĩ, kiêm điêu khắc gia Điềm Phùng Thị, mà thời ấy, tác giả có quan hệ tình cảm. Ông viết Thu Hươngtheo lời "yêu cầu" của "người đẹp" và lại ký bút hiệu Duy Cúc. Thu Hương trong truyện là sinh viên trường thuốc Hà Nội, đảng viên một đảng cách mệnh bí mật, một cô gái đẹp và gan dạ, dám cướp sân khấu để tuyên truyền, dám ám sát giữa thành phố, ... Chị Tập, con nhà nghèo, bị cha mẹ đem bán, trải bao khổ đau, tù tội, sống chung với trộm cướp và những ngươì làm cách mạng. Được thả, Tập trở thành đảng viên đắc lực, nhận những công tác nguy hiểm, cổ động tuyên truyền, đình công bãi thị, buôn lậu, làm thổ phỉ, cướp khí giới Nhật, xây dựng chiến khu ... Hai phụ nữ, hai giai cấp, hai trình độ, gặp nhau trong kháng chiến, tạo ra những mẫu người lý tưởng, huyền thoại mà thời đó rất cần.

Viết Thu Hương, Chị Tập, Hồ Hữu Tường đã dùng tiểu thuyết để tuyên truyền cho lý tưởng cách mạng, ông đặt vấn đề làm sao kết hợp các thành phần xã hội khác nhau, các đảng phái khác nhau? Làm sao đánh động lòng yêu nước? Làm sao củng cố lực lượng du kích? Làm sao khắc phục những khuyết điểm để đi đến thành công? Đó là thời kỳ Hồ Hữu Tường còn trẻ, còn tin vào sứ điệp cách mạng.

Trong thời kỳ ở Côn Đảo lần thứ nhì, ông viết hai bộ trường thiên khác, nói lên sự chán nảm của mình trước các trường tranh đấu. Bộ Thuốc trường sanh in năm 1964, lấy bối cảnh kháng chiến Nam Bộ những năm 50-52. Nhân vật chính là Tuyết Lê và bác sĩ Tâm, những người trí thức không cộng sản, từ thành vào bưng, theo kháng chiến. Họ có nhiệm vụ phải tìm cho ra một thứ "thuốc trường sanh", như một phát minh khoa học tân kỳ, đem uy tín cho cách mạng. Muốn bào chế thuốc trường sanh, thì phải lấy được chân con cọp Mun, nổi tiếng chúa tể vùng Hậu Giang. Cuối cùng, Tuyết Lê và Tâm hạ được cọp, nhưng cũng lại sa vào nanh vuốt của cọp.

Thuốc trường sanh nói lên sự mất mát niềm tin, nói đến sự cô đơn tập thể, những chán nản hầu như tuyệt vọng về những nẻo đường kết hợp dân tộc. Tất cả chỉ là nghi ngờ và thủ đoạn, là cô đơn và chia rẽ. Thuốc trường sanh là tâm sự của những người "ngoại đạo", muốn nhập vào dòng chính thống cách mạng, nhưng không thể được. Kết quả là phải đào thải, chia lìa.


Tập Hồn bướm mơ hoacũng là một trường thiên tiểu thuyết phiêu lưu, tranh đấu, có tính chất "ngự lâm pháo thủ", viết về những người thân quyến hoặc còn lưu luyến nhà Tây Sơn, lưu lạc vào Nam, quyết dựng nên tổ chức Bửu Sơn Kỳ Hương, chống Nguyễn, nhưng việc không thành. Hồn bướm mơ hoa có những trang rất hay về đời sống sông lạch miền Hậu Giang, cảnh tù vượt Côn Đảo, tâm trạng của con người trong "xã hội Nam Kỳ" theo đuổi ngấm ngầm lý tưởng, hoài bão "tự trị", nhưng chưa thực hiện được. Hồn bướm mơ hoaấp ủ giấc "mơ hoa" của "cánh bướm" Hữu Tường: muốn chọn con đường thứ ba cho đất nước, nhưng không ai theo, không ai tin, tất cả chỉ là thất bại.


Tiếc rằng phần lớn truyện dài của Hồ Hữu Tường đều dựa trên những cốt truyện quá "tiểu thuyết", những nhân vật quá giả tạo, bởi ông luôn luôn muốn thổi phồng người đàn bà. Không kể Ngọc Mân trong tiểu thuyết dã sử Kế thế, thuần tính huyền thoại, từ Thu Hương, chị Tập đến Tuyết Lê, Mai Thoại Dung,Lệ Dung-Mỹ Dung trong Hồn bướm mơ hoa hay Loan, Phượng trong Người Mỹ ưu tư... đều là những mẫu người khó tìm thấy trong cuộc sống, vì họ giỏi quá hoặc cao thượng quá. Họ không thật. Ngoài ra, những cảnh huống mà Hồ đẩy nhân vật vào, thường gượng ép. Ví dụ Tuyết Lê và bác sĩ Tâm tìm cách "sáng chế" thuốc "trường sanh" trong bưng biền. Ai tin được? Rồi hai người lại tựï sống chung như một cặp vợ chồng "giả". Việc Mai Thoại Dung đem tất cả gia sản của mình cúng cho thầy Quảng (anh hùng phái nam, hiếm hoi trong truyện của Hồ Hữu Tường) để xây dựng đảng Bảo Hương Kỳ Sơn, bỏ con, bỏ cái theo "lý tưởng". Rồi cặp bài trùng "Lệ Dung-Mỹ Dung" cũng là những tay «quái kiệt» ; Lệ Dung vừa đẹp, vừa thông minh, mưu lược (cỡ Tuyết Lê), Mỹ Dung võ nghệ cao cường, tâm hồn tuyệt vời cao cả, "gả" chồng mình cho Lệ Dung vì "đại sự". Những chi tiết này làm giảm sút giá trị bộ Hồn bướm mơ hoa, có lẽ là hay nhất trong loạt tiểu thuyết xã hội phiêu lưu của Hồ Hữu Tường, vừa có những tình tiết ly kỳ, hấp dẫn kiểu Dumas, vừa vạch ra được những nét đạo đức vàlý tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương của người Nam Bộ.


Cuốn Người Mỹ ưu tưviết tay, tác giả tự xuất bản tại Paris năm 1968. Khởi đầu in hàng ngày trên nhật báo Sống, theo Hồ Hữu Tường cho biết ở trang đầu, thì bác sĩ Trần Ngươn Phiêu đã kêu gọi được gần mười ngàn người ký tên đề cử Người Mỹ ưu tư tranh giải thưởng Nobel. Người Mỹ ưu tư muốn đưa ra một vấn đề thời sự xã hội rất thương tâm : vấn đề con lai Mỹ-Việt và đòi hỏi một sự công bằng trong lương tâm tòa án. Để "thay lời tựa", Hồ Hữu Tường viết năm lá thư gửi văn hào J. Steinbeck , những bức thư này nhắc nhở tác giả Chùm nho uất hận đến thực tại phũ phàng của những đứa con lai Mỹ-Việt, đặt câu hỏi với lương tâm của một người đã từng cảm thông nỗibất hạnh của những kẻ bị áp bức, khốn cùng. Ngày hôm nay, trong lương tâm ấy còn sót lại giọt nước mắt nào cho những người đàn bà lỡ làng bụng mang dạ chửa đứa con lai:

"Ông cỡi phản lực mà đi vào chiến trường [...] Nhưng tôi cũng tin rằng ông không làm sao vào những xóm tồi tàn nhà lụp xụp làm bằng các hộp bỏ mà nghe những câu chuyện thương tâm của những bà mẹ bóp mũi con chết, chỉ vì hài nhi có mắt đục, tóc hoe và không cha." (trang 42-43)

Tiếc rằng cuốn Người Mỹ ưu tư tiếp đó lại rơi vào hướng khác. Hướng của một truyện dài trinh thám với những chi tiết éo le, những nhân vật chính đều có những hành tung ly kỳ và nhất là Loan Phượng có những nét «phi phàm», khó chiếm được lòng tin của độc giả.




Sở trường của Hồ Hữu Tường là tiểu thuyết trào phúng. Phi Lạc là một trong những nhân vật nổi tiếng của tiểu thuyết Việt Nam thế kỷ XX. Chính Hồ Phi Lạc đã làm "thành danh" Hồ Hữu Tường. Bộ Ngàn năm một thuở gồm 4 cuốn đã in, nhưng chỉ cuốn đầu, Phi Lạc sang Tàulà thành công hơn cả. Những cuốn sau, viết vội, viết nhiều, đâm nhàm, làm giảm giá trị toàn bộ.

Là một thứ Ngộ Không made in Việt Nam "thời mơi", Phi Lạc làm nổi bật những nét "đặc thù" trong "dân tộc tính" Việt Nam: dốt nát, khoác lác, thấy người sang bắc quàng làm họ, tự cao tự đại nhưng lại ranh vặt và ưa nịnh hót ... Những nét "đặc thù" này, không chỉ nằm trong "bản chất" Phi Lạc mà dường như chúng là "nội dung tư tưởng" của toàn thể nhân quần xã hội: từ thằng mõ đến ông tiên chỉ, từ ông tiên chỉ đến các vị bác học, anh hùng, đời trước, đời này, thảy đều rất tuồng,rất rỗng, khôi hài và bi đát.

Bi hài kịch của Phi Lạc bắt đầu từ ... nguồn cội: Nó vốn là thằng mõ làng Phù Ninh, vô học, nhưng trót giả danh dòng dõi họ Hồ, có bà con với Hồ Thơm Nguyễn Huệ. Sự phét lác của nó đến tai thằng mõ Cổ Nhuế, một tên bịp bợm khác. Nhân muốn trả thù mõ Phù Ninh, Cổ Nhuế bèn "bán đứt" Phù Ninh cho sư Hồng Hạc, một vị chân tu người Tàu, được sứ mệnh xuôi Nam, tìm đến "thảo lư" rước Khổng Minh hiện đại về làm thánh sư, với nhiệm vụ phò Minh đuổi Thanh, phục quốc. Câu chuyện đưa ta vào một thế đồ bát quái, một thứ tiểu thuyết chiêu hồi lối Tàu, mà chống Tàu, trong đó tất cả những địa danh, tên người như Phù Ninh, Cổ Nhuế, Hồ Thơm, Hồ Thích, Phi Phúc, Phi Lạc ... đều có những ẩn nghĩa trào phúng, dây mơ rễ má với nhau, đều có thể đảo lộn trật tự chính-tà, thật-giả, nhanh như chớp.

Tại sao sư Hồng Hạc lại có sứ mệnh đi Nam tìm thánh? Ấy bởi bốn câu sấm đồ rằng của Minh Thành Tổ. Tại sao tìm đến mõ Phù Ninh? Bởi làng Phù Ninh (quê Ngọc Hân) ắt hẳn phải "sản xuất" ra con cháu ... Hồ Thơm. Tại sao Hồng Hạc lại tin lời mõ Cổ Nhuế? ( làng Cổ Nhuế vừa nổiá ù tiếng buôn phân vừa ø chuyên sản xuất nhân tài, Cổ Nhuế xứng danh với Hồ Thơm) vì Hồng Hạc "tham khảo" ý kiến cụ Bác Cổ Viễn Đông Nguyễn Văn Tố và chính cụ Tố "giới thiệu" mõ Cổ Nhuế cho Hồng Hạc như một sư phụ chuyên trị "cái biết" mà chẳng cần dựa vào "sách nào, trang mấy, tờ a hay tờ b, dòng thứ mấy"...

Tất cả những vòng vo rất tam quốc này, nói lên tính chất lằng nhằng, bòng bong của cuộc sống, nhưng đồng thời cũng bộc lộ tính hú họa, mà người ta thường gọi là "ngẫu nhiên" của cuộc đời: Sai một ly, đi một dặm. Một sự nói láo có thể dẫn đến hậu quả hy mã lạp sơn hay tai ương chín tầng địa ngục. Nhất là khi những cái "hú họa" ấy lại được các vị bác học kim cổ như Hồ Thích đem ra phân tích và cho nó một "chứng từ" (trường hợp cái tên Hồ Phi Lạc) thì phải biết là uyên bác.

Phi Lạc sang Tàulà một tác phẩm phản kháng toàn diện. Một sự nổi loạn chống lại tất cả các hình thức từ chương, khuôn mẫu bào chế tư tưởng, chế nhạo những sự "mượn nhầm họ" mà họ Hồ là "nạn nhân" thời đại. Sự phản kháng của Phi Lạc có nguồn gốc sâu xa từ tự ái dân tộc, từ tình yêu dân tộc, nằm trong máu-óc Hồ Hữu Tường. Ông dùng một nhân vật cùng đinh, cùng khổ: thằng mõ (Cổ Nhuế hay Phù Ninh), cho nó làm đảo lộn trật tự tiên chỉ, làng xã; nó được thỉnh sang Tàu, sang Mỹ, sang Nga, như một cố vấn, một vị phu tử; nó làm "khuynh đảo" những "nền văn minh vĩ đại" bằng sự ... tán dóc, nói láo. Sự đại náo của Phi Lạc, cũng như sự đại náo của Ngộ Không, tiêu biểu cho cuộc cách mạng thường trực của tư tưởng: luôn luôn phải đặt lại vấn đề, chống lại những trật tự có sẵn của những bậc thánh hiền hoặc giả hiền.

Trong Phi Lạc sang Tàu, Hồ Hữu Tường tấn công vào vạn lý trường thành của một ngàn năm đô hộ: Người Việt đã trở thành một thứ con nuôi của nhà Hán, sách vở "mở ra thì nếu không phải là "Tử viết" thì cũng là một anh ba Tàu nào đó viết, chớ không có ai trích lục tư tưởng của một người Việt nào đó để mà viết."

Đối với Hồ Hữu Tường, sự thần phục người Tầu trên hơn hai ngàn năm, phát xuất trên núi từ Không Tử, Mạnh Tử, rồi hạ san xuống đến Mao, hậu Mao ... như một feuilleton hồi đoạn, một sự xuống dốc ăn theo độ trượt không phanh của nước Tàu.

Để chống lại sự leo thang xuống dốc ấy, Phi Lạc như một con rối, đứng ngã ba đường, huơ tay, huơ chân, đáng trống, khua chuông, hú hồn những nhà tư tưởng Việt Nam như Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, như Đức Phật Thày Tân An, như Cống Quỳnh ... về nhập thế. Họ nhập vào Phi Lạc, nói ra những điều "minh triết" trong tư tưởng Việt.

Hình thức truyện nhại Tây Du, có chia hồi như Tam Quốc Chí. Cuộc Tàu du của Phi Lạc gần giống như cuộc Tây Du của Ngộ Không và Hồng Hạc là hiện thân của Đường Tam Tạng. Tại sao lại đi Nam? Vì "xét ra không đâu mà Phật giáo được thịnh hành như ở cõi đất Nam này."

Hồng Hạc, muốn phiêu du, bèn vào trong một cái niêu để nhập thiền. Đang phiêu phiêu thì thấy một đứa trẻ ngâm mấy câu thơ, làm người giật mình tỉnh dậy, té ra là nó đang đọc Sấm Trạng Trình ... Người bèn theo hướng sấm dẫn dắt mà đi ra khỏi Sài Gòn, đến Đa Kao gặp Cầu Bông, qua cầu tới một nơi khói hương nghi ngút. Hỏi ra là đền thờ Tả quân Lê Văn Duyệt. Tả quân thương tình, gọi sư Hồng Hạc ra mà giới thiệu với nhà khảo cứu nổi tiếng nhất nước Nam là Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố, và chính nhờ sự bác học của cụ Tố mà sư Hồng Hạc tìm được thánh nhân Hồ Phi Lạc, đưa về Tàu tôn lên làm cố vấn.

Hồ Hữu Tường đã thay Huyền Trang bằng Hồng Hạc, Ngộ Không bằng Phi Lạc và Tây Trúc bằng làng Phù Ninh. Một sự Việt hóa điển tích và chếø biến kinh điển thành chuyện tiếu lâm hài hước, trong một thế giới mà Tả quân Lê Văn Duyệt đối thoại với Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố mà thằng mõ Cổ Nhuế, Phù Ninh, trò truyện chính chị, triết lý, văn chương với Khổng Minh, Hồ Thích. Phi Lạc sang Tàu quảng bá cho đảng Bửu Sơn Kỳ Hương, cho nó một ý nghĩa lịch sử chính trị trong sự chế giễu xã hội và các biện chứng của lý trí: đưa ĐiềmSấm ra như một ý thức dân tộc (duy linh) chống lại cái duy vật vô thần.

Phi Lạc sang Tàu còn là tiếng cười cay đắng của người dân nhược tiểu, biết mình kém thua đủ đường nhưng vẫn muốn nổi loạn, tìm chỗ đứng cao nhất trong lòng một cộng đồng nhân loại mà phi lý và bất công phủ trùm lên tất cả. Đây là một sự phản kháng toàn diện của những người thấp cổ bé miệng, của những trí thông minh xuất chúng, không tháo gỡ được thân phận mình ra khỏisự gò ép của những cơ chế cứng nhắc mà tựu trung chỉ là những trò hề lập nghiêm. Phi Lạc đã đi vào lòng người và sẽ ở lại lâu dài bởi nó đã cười lên được cái bi đát của những thân phận cùng khốn, những kiếp mõ làng trong lòng những dân tộc nhược tiểu.

Thụy Khuê
Paris, tháng 5/2003

© Copyright Thuy Khue 2003

 

HỒ HỮU TƯỜNG NHÀ VĂN HÓA LỚN NHÀ VĂN TRÀO PHÚNG KIÊT HIỆT



Lê Đưc Thọ lúc đó có cử một phái viên tên Phạm Văn Luyện tới gặp Hồ Hữu Tương trong tù trình bây kế hoạch của Lê Đưc Thọ là đưa Pham Hùng hoăc Võ Văn Kiêt làm Quang Trung chống Tầu và yêu cầu Hồ Hữu Tương làm Ngô Thời Nhiệm giúp Kiệt hoăc Hùng nhưng Hồ Hữu Tương đã từ chối tham gia kế hoach này nên bị chuyển trại rồi chích siêu vi viêm gan vô đến ung thư gan chêt trên đường ghé nhà

HỒ HỮU TƯỜNG NHÀ VĂN HÓA LỚN NHÀ VĂN TRÀO PHÚNG KIÊT HIỆT

  
 
Hồ Hữu Tương sinh năm 1910 tại làng Thượng Thanh huyện Cái Răng tỉnh Cần Thơ.Theo tiêt lộ của Hồ Hữu Tương thì ông gốc là lưu dân từ Nghệ An vô và thuộc họ Hồ cùng chi với Hồ Thơm[Nguyễn Huệ].Hồ Hữu Tương học trung học ở Cần Thơ vì bụng to có hỗn danh là Tương bụng.Ngay từ thời còn học trung học ở Cần Thơ Hồ Hữu Tường đã viêt báo bằng tiếng Pháp ký bút hiêu là Pierre VutrenNăm 1926 mới 16 tuổi Hồ Hữu Tương đâu tú tài toàn phần chương trình Pháp cha ông đã quyêt định cho ông qua Tây học đai học.Hồ Hữu Tương là ngươi mê toán học và mê viêt báo nên sang Pháp tới cảng Marseille ông ghi danh học khoa Toán và chỉ hai năm Hồ Hữu Tương lấy bằng cử nhân Toán giáo khoa thay vì ngươi thương phải học tới 4 năm.Đậu xong cử nhân Toán tại Đai Học Đương Marseille Hồ Hữu Tương quyêt định lên Lyon học cao học lấy bằng thạc sĩ rồi tiến sĩ Toán.
Vừa học Đại Học Hồ Hữu Tường vừa làm báo Năm 1930 Hồ Hữu Tường xuât bản tờ báo bí mật Tiền Quân với bộ biên tập gồm Tạ Thu Thâu,Hồ Văn Ngà,Phan Văn Chánh,Huỳnh Văn Phương .Sau khi khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quôc Dân Đảng bị thât bại nhà cầm quyền Pháp ở Viêt Nam xử tử hình Nguyễn Thái Học và các đồng chí nhóm Tiến Quân biểu tình ở điện Élysee tất cả bị chính phủ Pháp ra lệnh trục xuât về Viêt Nam riêng Hồ Hữu Tường và Phan Văn Hùm nhanh chân trốn thoat sang Bỉ nhưng sau đó cũng tự động về Viêt Nam.
Về Viêt Nam Hồ Hữu Tương hợp cùng Tạ Thu Thâu cho ra đời nhóm Đệ Tứ QuốcTế ở Viêt Nam và Hồ Hữu Tường phụ trách tạp chí Tháng Mười của nhóm.
Tháng 11 năm 1932 Pháp đóng của tạp chí Tháng Mươi bắt giam Hồ Hữu Tường cho đến ngày 1 tháng 5 năm 1933 Hồ Hữu Tường ra tòa lãnh án ba năm tù treo.Ba năm sau hêt án tù treo năm 1936 Hồ Hữu Tương cho xuât bản tạp chí Thương Trưc Cách Mạng nhưng chỉ một thơi gian ngắn Hồ Hữu Tương ly khai nhóm La Lutte[tranh đấu] của Ta Thu Thâu cho xuât bản tuần báo tiếng Pháp Le Militant[chiến sĩ] công khai chống chủ nghĩa Staline.
Tháng 6 năm 1939 Hồ Hữu Tương ra tuyên bố công khai từ bỏ chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Cộng Sản ông nói”Tôi trở về con đường dân tộc,tôi cho rằng công việc giai cấp vôsản giải phóng nhân loại là một huyền thoại lớn của thế kỷ 19 và tiềm năng cách mạng của giai cấp vô sản ở Âu Châu và Bắc Mỹ là một huyền thoại lớn của thế kỷ 20”.
Măc dầu Hô Hữu Tương đã có bản tuyên bố ly khai chủ nghĩa Mác không dính gì tới Đệ Tứ Quốc Tế nhưng vì chiến tranh thế giới lần thư hai đã nổ ra nhà cầm quyền Pháp năm 1940 vẫn bắt Hồ Hữu Tương đưa đi đầy Côn Đảo cùng với Nguyễn An Ninh Phan Văn Hùm Ta Thu Thâu,và mãi năm 1944 Pháp mới thả Hồ Hưu Tương Tạ Thu Thâu Phan Văn Hùm về còn Nguyễn An Ninh chêt chôn tại Côn Đảo.
Ra tù một năm sau Hồ Hữu Tương ra Bắc tìm đương sang Tầu.Ra Bắc Hồ Hữu Tương cưới bà vợ hai là em gái nhà văn hóa Nguyễn Đăng Thục và gặp lãnh tũ đảng Duy Dân ông Lý Đông A ngươi đã tập đai thành nền văn hóa Viêt tư thời thương cổ với triêt lý Viêt thành chủ nghĩa Duy Dân.Từ cuộc gặp gỡ này Hồ Hữu Tương đã viêt cuốn Tương Lai Văn Hóa Viêt Nam,Tương Lai Kinh Tế Viêt Nam,Muốn hiểu chanh trị Kinh Tế Chánh Tri nhập môn.
Ngoài viêt sách ra Hồ Hữu Tương còn dấn thân vô chánh trường và đươc mời tham gia phái đoàn chánh phủ Liên Hiêp Kháng Chiến Viêt Nam do bộ trưởng ngoai giao Nguyễn Tường Tam cầm đầu đi Đà Lat thương thuyêt với Pháp đòi lại Nam Bộ
Kháng chiến toàn quốc nổ ra Hồ Hữu Tường tản cư về vùng quê tỉnh Hải Dương bị quân Pháp bắt ờ Kẻ Sặt năm 1947 cùng bà vơ hai và con, năm 1948 Hồ Hữu Tường đươc người Pháp đưa về Saigon trở lai nghề viêt báo sáng tác bộ tiểu thuyêt Một Thủa Ngàn Năm cuốn đầu với tựa đề Phi Lạc sang Tầu với nhân vật chính tên Phi Lạc một thằng mõ làng Cổ Nhuê mà nhân vật có thât để Hồ Hữu Tương lấy cảm hứng là lưỡng tiến sĩ Nguyễn Manh Tương ngươi mà mới hai mươi hai tuổi bảo vệ thành công hai bằng tiến sĩ luât và văn chương tại trương đai học danh tiếng Sorbonne ở Pháp một thành tích mà trươc đó chưa ai đat đươc sau nay tới nay vẫn chưa có ai đạt.
Với lới văn tưng tửng’’lỡm’’không chừa một ai kể cả các đai lãnh tụ cuốn tiểu thuyêt trào phúng Phi Lạc sang Tầu đã thành công ngoài sức tưởng tương khiến Hồ Hữu Tương viêt tiếp cuốn Phi Lạc náo Hoa Kỳ với nhân vât chính là Xuân Hồng mà ngươi thưc là Nghiêm Xuân Hồng môt nhà văn một trí thưc lập thuyêt ‘’tiểu tư sản cưu quốc’’ khá nổi tiếng. Ba cuốn cuối của bộ Một Thủa Ngàn Năm là Lạc bỡn Nga Tiểu Phi Lạc náo Saigon và Diễm Hồng xuât giá không thành công lắm dù văn chương có chau truốt hơn.
Năm 1953 trước tình hình Viêt Nam sẽ bị lôi kéo vào cược chiến tranh ủy nhiệm mệnh danh là chiến tranh ý thưc hệ quốc cộng để cho hai khối tư bản cộng sản dung dân tộc Viêt Nam và đât nươc Viêt Nam làm vật thí nghiệm khí giới giêt ngươi hàng loat Hồ Hưu Tương đưa ra thuyêt Trung Lập Chế tập đai thành ba nền văn minh kỹ sư [của khối tư bản do Mỹ đứng đầu] nền văn minh chính ủy của khối cộng sản do Nga Tầu đứng đầu] và nền văn minh tu sĩ của Đông Phương thành nền văn minh Việt Nam hiện đại.

Để cổ võ cho thuyêt Trung Lập Chế Hồ Hưu Tương cùng Lê Văn Siêu Thái Linh ra tờ nhật báo Đông Phương và khi hôi nghị Geneve bàn về chiến tranh Viêt Nam xuât hiện Hồ Hữu Tường cùng Võ Thành Minh đã sang Geneve hoat động để chống việc cắt đôi nươc Việt Nam nhưng thât bại trươc âm mưu của Thưc Cộng ông về nươc cộng tác với Đưc Hộ Pháp Đao Cao Đài Phạm Công Tắc lập Măt Trận Thống Nhât Toàn Lực Quốc Gia để hóa giải cuộc chiến tranh ủy nhiệm của các đế quốc đang thực hiện trên đât nươc Việt Nam kêt quả là Hồ Hữu Tương bị chính phủ Ngô Đình Diệm bắt giam và năm 1957 lãnh án tử hình may nhờ thủ tướng Ấn Độ Nerhu can thiệp tạm thời chưa thi hành chỉ bị đầy ra Côn Đảo.Thời kỳ Hồ Hưu Tương bị nhốt trong khám tử hình ở Côn Đảo ông đã viêt bộ tiểu thuyêt Thuốc Trường Sanh sau này năm 1964 đươc nhà xuât bản Huệ Minh xuât bản gồm các tập Xây Mộng ,Phuc Đức,Vẹn Nguyền,và Hoa Dinh Cẩm Trận.

Cũng chính trong thời gian ở khám tử tù tại Con Đảo Hồ Hữu Tường còn viêt Trầm Tư của một tử tôi nói nhiều về Phật Di Lặc nhân vật hiện đai hóa Phật giáo.
Ngày 31 tháng 1 năm 1964 sau khi ra khỏi tù Hồ Hưu Tương nhìn thây cuộc chiến tranh ủy nhiệm đang leo thang ở Viêt Nam cần phải làm một cái gì để cứu vãn tình thế ông đưa ra thuyêt Siêu Lập tách Viêt Nam ra khỏi vòng cương tỏa của các đế quốc.Thây thuyêt Siêu Lập cần có chỗ dựa tinh thần Hổ Hữu Tường nhận làm viện phó Viện Đai Học Vạn Hanh tìm chỗ dựa nơi Phât Giáo Viêt Nam nhưng kêt quả Hồ Hữu Tương thây Phât Giáo không làm gì được ông gặp nhà văn Chu Tử chủ nhiệm nhât báo Sống.Chu Tử mời ông viêt bào Sống và nói báo Sống sẽ đưa Hồ Hữu Tường vào quốc hội.Hồ Hữu Tường viêt Người Mỹ ưu tư và chịu để báo Sống và Chu Tử đưa vào quốc hội kêt quả Hồ Hữu Tương lám dân biểu.

Người Mỹ ưu tư là phần tiếp theo cuốn Ngươi Mỹ Trầm Lặng của nhà văn Graham Green với những nhân vật hậu duệ của Graham Green mà Hồ Hữu Tường hư cấu ra với ý đồ tranh giải Nobel về văn chương cuốn nàyđã đươc dich qua tiếng Anh tiếng Pháp.
Phải nhận rằng con ngươi văn chương của Hồ Hữu Tương lớn lắm chỉ một truyện ngắn Con Thằn Lằn chọn nghiệp của ông đã vĩ đai như thế nào.Nhưng với Hồ Hữu Tương văn chương chỉ là một trò trơi ông đã viêt Văn học sử Viêt Nam chỉ một cuốn rồi không viêt nữa ông viêt truyện thiêu nhi Nỗi long thằng Hiệp thât tuyêt vời nhưng cũng chỉ một cuốn .Con ngươi Hồ Hữu Tường là như thế thích thì làm chán thì ngưng.
Hồ Hưu Tương đã viêt hồi ký Thằng Thuôc con nhà nông nói về mình rồi 41 năm làm báo rồi những Kể chuyện Nơ Tinh Thần.Cái bộ Gái nươc Nam làm gì thiên hạ cũng thích cả Chi Tập lẫn Thu Hương.Ngay tiểu thuyêt lich sử với bộ Hồn Bươm Mơ Hoa Hồ Hữu Tương cũng rât thành công với những Mai Thoại Dung,Tam Nhơn Đồng Hành,Ông Thầy Quảng Bủa Lưới Ngươi.
Tóm lại về văn chương chữ nghĩa Hồ Hưu Tường luôn tuyệt vơi
Sau ngày 30 tháng tư năm 1975 Hồ Hữu Tường không bị đi cải tạo mà Phạm Hùng một cán bộ cộng sản bư còn tới thăm Hồ Hưu Tương nói Lê Duẩn rât thích Hồ Hữu Tương và Tương nói Hùng coi chừng mât mạng ngươi đáng ngại là Lê Đưc Thọ và phải đề phòng Tầu đỏ
Năm 1977 Phục Quôc mời Hồ Hưu Tương làm thủ tướng Hồ Hữu Tương từ chối và có báo chuyện này với Phạm Hùng
Phạm Hùng cho Hồ Hữu Tương biêt tình hình gay go Hùng phải đi Hanoi Tường rán giữ mình có thể Mai Chí Thọ em Lê Đức Tho sẽ làm phiền Hồ Hữu Tương đây
Hồ Hưu Tương chuẫn bi sưc khỏe đi tù hàntg ngày ngậm gừng tươi và tập khí công.
Năm 1977 Hồ Hữu Tương bị Mai Chí Thọ hạ ngục Hồ Hữu Tương vui vẻ vào tù và luôn nói với chấp pháp là anh trình với lãnh đao cái nguy hiểm là Băc Kinh chư không phải Hồ Hữu Tường.
Hồ Hữu Tương hêt ở 4 Phan Đăng Lưu lại ở Chí Hòa rồi ra Suối Mau đi Xuyên Mộc lúc nào sống cũng lạc quan lâu lâu lại thủ dâm chứng tỏ mình’’sung’’ lắm.
Rồi năm 1980 sau cuộc chiến Trung Cộng dạy Việt Cộng một bài học Hồ Hữu Tương bị đưa ra Hàm Tân trại Z30D còn rất khỏe dù xe chở ông bi tai nạn khiến ông bị thương
Có một chuyện đáng ghi nhớ là trươc khi Viêt Cộng bị Trung Cộng dạy một bài học hôi cuối năm 1978 thì tác giả Đỗ Thái Nhiên ở tù chung với Hồ Hữu Tương tại sô 4 Phan Đăng Lưu có ghi lại một chuyện đàng chú ý là Lê Đưc Thọ lúc đó có cử một phái viên tên Phạm Văn Luyện tới gặp Hồ Hữu Tương trong tù trình bây kế hoạch của Lê Đưc Thọ là đưa Pham Hùng hoăc Võ Văn Kiêt làm Quang Trung chống Tầu và yêu cầu Hồ Hữu Tương làm Ngô Thời Nhiệm giúp Kiệt hoăc Hùng nhưng Hồ Hữu Tương đã từ chối tham gia kế hoach này nên bị chuyển trại rồi chích siêu vi viêm gan vô đến ung thư gan chêt trên đương ghé nhà ngày 26 tháng 8 năm 1980. Đỗ Thái Nhiên còn nêu tên ông TrươngĐinh Chú nguyên chỉ huy trương cảnh sat đăc biêt Đà Nẵng hiện sống ở quận Cam Cali [Mỹ ]chứng kiến chuyện nàyTheo bác sĩ Phan Chinh ngươi điều trị cho Hồ Hữu Tương ờ La Gi Hàm Tân tiêt lộ thì ông thây Hồ Hữu Tương bị sơ gan cổ chương bệnh viện Hàm Tân không chữa được nên đã báo cho bà Hồ Hữu Tương biết để xin trại tù cho chuyển về bệnh viện Chơ Rẫy tri bệnh và ông thu xếp thuê một cái xe Daihasu chở cá làm công viêc này trươc khi tới bệnh viện Chợ Rẫy bác sĩ Phan Chinh đã thu xếp để ông Tương ghé nhà nhưng mới đến ngõ thi đã chêt chư lúc chêt Hồ Hữu Tường chưa hề có lệnh tha



HỒ NAM
GỬI HỒ HƯU TƯƠNG
Đã tài lại giỏi thêm đa tình
Dám sống dám yêu và chẳng sợ
Ông đến ông đi ông đâu ngán
Một mình một cỏi ông hơn thua
Với lá cờ đầu ông tiến tới
Ông chịu chơi và ông dám chơi
Một mình một ngựa ông vào trận
Trươc án tử hình ông nhếch mép
Lá đa lá mít ông chơi hết
Ở tù ông nói chuyện tương lai
Gậy thần sách ước ông sổ toẹt
Ông cứ nghênh ngang ông cứ sống
Chúng nó giêt ông là phong thánh
Ông nói trạng còn hơn các trạng
Những chuyện đời sau còn hơn sách
Toàn chuyện cươi thôi mà có thật
Chưa về tới ngõ ông đã đi
Cái chốn giang hồ ôi thật lạ
Ngàn năm quyến rũ kẻ tình si
Ông đã yêu và ông đã chêt
Chúng ta đang sống đươc những gì
Chu tử ra biển và lãnh đan
Kẻ về với cá ngươi với đất
Nghìn năm nươc mắt mãi còn rơi
Nghìn năm kẻ sĩ luôn bât khuât
Chúng ta còn sống còn được cười
VƯƠNG TÂN
Tác giả: Hồ Nam
Theo: Văn Thơ Lạc Việt

http://www.vantholacviet.org/news-1022/50/Tac-Gia/Ho-HuU-TuoNG-NHa-VaN-HoA-LoN-NHa-VaN-TRaO-PHuNG-KIeT-HIeT.html 





Hồ Hữu Tường, người chết u uẩn



Thời gian chẳng bao giờ chờ đợi bất kỳ người nào, thời gian chỉ biết miệt mài vun vút lao tới Thế nên, một trong những tình cảm căn bản của con người là lòng nuối tiếc thời gian đã qua đi. Lòng nuối tiếc này khi gặp các điểm mốc của thời gian đã biến thành nỗi xao xuyến, bồi hồi. Thực vậy, trong không khí giao tiếp giữa đêm đen của năm cũ và sáng hồng của năm mới, có lẽ không ai trong chúng ta không bùi ngùi nghĩ đến quá khứ và không băn khoăn nhìn về tương lai. Bằng tất cả bùi ngùi và băn khoăn vừa kể, bài viết này đã chọn cái chết của Hồ Hữu Tường như một mảng quá khứ và chọn những toan tính của đảng CSVN chung quanh cái chết này như những tia sáng chiếu rọi vào thực chất điều được gọi là "đổi mới" của CSVN trong hiện tại và tương lai.

Lúc bấy giờ là mùa thu năm 1978, tôi được di chuyển từ phòng biệt giam qua phòng giam tập thể thuộc trại giam số 4 Phan Đăng Lưu Trại giam này, công an Cộng sản dành riêng để giam tù chính trị trong thời kỳ thẩm vấn. Tù chính trị đối với Cộng sản bao gồm: những người có tư tưởng chống cộng trước hoặc sau năm 1975, những người trước kia đã làm công tác an ninh tình báo dưới các chế độ của VNCH, và những người tham dự vào các tổ chức chống cộng tại Việt Nam sau năm 1975.
Khoảng 4 giờ chiều ngày hôm ấy, sau nhiều tháng nằm xà lim, tôi bước vào phòng giam tập thể bằng cảm giác ấm áp của một người được trở về với xã hội loài người, dầu là xã hội tù. Tôi lại càng cảm thấy ấm áp hơn khi chợt nhận ra cùng phòng với tôi có Hồ Hữu Tường. Do cách biệt về tuổi tác và khác biệt về nghề nghiệp, tôi không có dịp quen biết với Hồ Hữu Tường trước khi vào tù. Tuy nhiên, nhà Hồ Hữu Tường và nhà tôi ở cùng xóm. Vì vậy hình ảnh của Hồ Hữu Tường lập tức gợi cho tôi nhớ khu xóm cũ cùng với những bà con láng giềng của tôi. Gợi nhớ này chính là nguồn gốc của cảm giác ấm áp. Có lẽ Hồ Hữu Tường cũng nhận ra tôi là hàng xóm láng giềng ngày trước nên ngay phút đầu gặp tôi, Hồ Hữu Tường vừa giữ thế kẻ cả, vừa tỏ ra thân mến. Tôi hoàn toàn không cảm thấy bị xúc phạm trước cung cách kẻ cả của Hồ Hữu Tường. Ngược lại, kiến thức của Hồ Hữu Tường cộng với tuổi đời 70 của ông ta lúc bấy giờ, cộng với "chất Việt Nam" mà Hồ Hữu Tường đã thể hiện trong mỗi suy tư và hành động đã dễ dàng chinh phục tôi đến độ tôi không còn nhận biết Hồ Hữu Tường đã trở thành người "bạn tù" khả kính và thân thiết của tôi tự lúc nào. Tôi gọi Hồ Hữu Tường là bạn bởi vì có lần, sau một lúc hàn huyên, Hồ Hữu Tường đã nói với tôi: "Tao cho phép mày xem tao như bạn, tình bạn giữa tao và mày là tình bạn vong niên, tình bạn không phân biệt tuổi tác: tuổi tao gấp đôi tuổi mày". Vả lại, không riêng gì đối với cá nhân tôi, Hồ Hữu Tường bao giờ cũng giữ được mối liên hệ vui vẻ đối với mọi ngượi. Đặc biệt đối với những người tù trẻ tuổi, mỗi tối sau giờ cơm, Hồ Hữu Tường thường giúp họ giải khuây bằng cách kể cho họ nghe chuyện cổ tích, chuyện Tàu, chuyện ma Bình Thuận. Liên hệ giữa Hồ Hữu Tường và những người tù trẻ này thân mật và vui vẻ đến độ: Có một hôm, cả phòng tù đang nghỉ trưa, một anh tù người Việt gốc Hoa nằm ở đầu phòng bỗng ngồi nhỏm dậy nói lớn tiếng cho Hồ Hữu Tường nằm ở cuối phòng có thể nghe được:

-- Bác Tường ơi! Thời Tây, thời Ngô Đình Diệm và cả thời này nữa, thời nào Bác cũng ở tù Bác có hiểu tại sao Bác cứ ở tù hoài hoài vậy không?
Hồ Hữu Tường nhìn Lý Hùng (tên chú tù trẻ) vừa cười vừa hỏi dò chừng:
-- Mày trả lời giùm tao đi, tại sao?

Lý Hùng nhanh nhẩu trả lời:
-- Dễ quá mà! Tên Bác là "Hữu Tường" nên Bác phải "hưởng tù" dài dài thôi! Câu nói của Lý Hùng làm cả phòng cười rộ lên. Riêng Hồ Hữu Tường không cười, mắt nhìn xa xăm trông thật buồn, ông ta nói nhỏ giọng:
-- Có thể thằng này nói đúng!

Sau một vài tiểu tiết để bạn đọc thấy rõ hơn hình ảnh của Hồ Hữu Tường trong tù, đến đây bài viết xin quay trở về câu chuyện chính: Cộng Sản vốn xem Duy Vật biện chứng như chiếc đũa vạn năng. Vận dụng chiếc đũa vạn năng này vào khung cảnh nhà tù, Cộng sản chỉ cho tù ăn vừa đủ để không bị chết vì đói. Do đó bất kỳ người nào bước vào nhà tù Cộng sản đều thấy về mặt bao tử, tù được phân làm hai loại :
- Tù được thăm nuôi là loại tù đã chấm dứt giai đoạn thẩm vấn, có thân nhân và được công an cho phép gia đình tiếp tế lương thực hàng tháng
- Tù không được thăm nuôi là loại tù chưa kết thúc thủ tục thẩm vấn. Thủ tục này có thể kéo dài từ 3 tháng đến 3 năm hay hơn thế nữa. Có nhiều trường hợp một người tù đang được thăm nuôi lại có lệnh cấm thăm nuôi. Điều này có nghĩa là đương sự đã vi phạm kỷ luật nhà tù, hoặc đã bị nghi ngờ khai sai sự thật trong giai đoạn thẩm vấn.

Thông thường nếu không là bạn thân, tù nhân thường ăn cơm chung nhóm với nhau theo sự phân biệt có hay không có thăm nuôi. Tù không được thăm nuôi phải ăn cơm một mình, hoặc chỉ ăn cơm chung với những người cùng không được thăm nuôi. Mặt khác tù không thăm nuôi phải không hề nói hoặc làm bất kỳ điều gì nhằm xin hưởng lương thực của người khác. Đó là "luật tự trọng" trong những phòng giam tập thể. Vào lúc chuyển từ xà lim qua nhà giam tập thể, tôi là tù không được thăm nuôi. Vừa muốn giữ lòng tự trọng, vừa muốn làm cho những lần ăn cơm gạo mốc với nước muối bớt phần cô quạnh, tôi tìm cách làm quen và ăn cơm chung với hai người thuộc loại "con bà phước" (không được thăm nuôi): một người tên Phạm Văn Luyện, người kia tên Phạm Anh Phong là một cựu binh nhì nhảy dù, can tội rải >truyền đơn chống cộng, tuổi dưới 25, điệu bộ ngổ ngáo. Tôi tiến đến chiếu nằm của Phong, ngồi xuống, nheo mắt nhìn Phong cười, vào đề rất tự nhiên:
-- Ê bồ! Tôi vừa mới ở xà lim qua, đang rất mệt mõi, bồ cho tôi được ăn cơm chung với bồ được không?
Phong đưa hai tay nắm lấy vai tôi, nghiêng đầu, nhìn thẳng vào mặt tôi cười thành tiếng:
-- Ông thầy này ngộ ghê! Thầy ăn cơm chung với tôi hay ăn một mình thì thầy và tôi đều ăn cơm với nước muối, cần gì phải xin phép! Mà này, tôi đang ăn chung với một thằng Việt cộng, thầy có chịu ăn chung với nó không ?
-- Thằng Việt cộng đó tên gì? Phạm tội gì? Nó đã ở tù bao lâu rồi?
Phong trả lời thật rõ ràng:
-- Tên anh ta là Phạm Văn Luyện, phạm tội tổ chức đưa người vượt biên để kiếm tiền Luyện mới vào phòng này khoảng hai tuần, anh ta tự nhận là cán bộ tình báo của Hà Nội, kể chuyện tình báo rất hấp dẫn, tôi khoái nghe chuyện nên tôi ăn cơm chung với anh.
Từ đó Luyện, Phong và tôi ăn cơm chụng. Luyện khoảng 42 tuổi, người ốm, dong dỏng cao, da đen sạm, tóc quăn. Nghe Luyện nói chuyện, từ giọng nói đến cách dùng chữ, người ta nhận ra ngay là Luyện đã hấp thụ trọn vẹn chế độ giáo dục của Cộng sản Miền Bắc. Phòng giam của tôi gồm toàn những người chống cộng gay gắt, thế nhưng tôi không hề nhận ra bất kỳ người nào có vẻ có ác cảm với Luyện. Phải chăng vì Luyện có dáng dấp phong trần, có lối nói dễ hiểu, có nhiều chuyện hấp dẫn?
Phải chăng vì Luyện không giống những tên Việt cộng mà người ta thường gặp: Luyện không hề có vẻ thủ thế mỗi khi nói chuyện với người khác, nhất là nói về những nhân vật cao cấp của Cộng sản Hà Nội? Phải chăng vì Luyện không bao giờ có ý dòm ngó, không làm điềm chỉ viên, và nhất là vì Luyện không bao giờ bỏ qua cơ hội có thể giúp đỡ người khác, dĩ nhiên toàn là những người chống cộng? Thiện cảm mà phòng tù của tôi dành cho Luyện có nguyên nhân là tổng số của những cái "phải chăng" kể trên.
Đối diện và cách nhà giam của tôi khoảng ba thước là một dãy xà lịm. Mọi liên lạc (nói chuyện hoặc tiếp tế thức ăn) giữa xà lim và nhà giam tập thể đều bị nghiêm nhặt cấm chỉ. Người tù nào vi phạm luật cấm này sẽ bị lính canh hoặc còng tay vào song cửa của phòng giam (trong trường hợp này, người tù đương sự bị buộc phải đứng chứ không thể ngồi, kể cả giờ ngủ ban đêm), hoặc bị đánh đòn ngay trước cửa phòng giam. Chiều hôm ấy, khoảng 6 giờ, thủ tục điểm danh đã xong và cơm chiều đã qua, đang khi mọi người chuyện trò to nhỏ với nhau, Luyện lén ném vào cửa gió (bằng hai bàn tay) của xà lim đối diện một ít thuốc lá và diêm quẹt. Ngay lúc đó, Luyện bị lính canh bắt gặp quả tạng. Tên lính canh quát tháo ầm ĩ:
-- Mày mới ném thuốc lá vào xà lim, tao bắt gặp, tao sẽ cho mày chết! Mày tên g ?
Luyện bình thản trả lời:
-- Tôi tên là Phạm Văn Luyện
Người lính canh chạy lên phòng giám thị một lúc rồi quay trở lại. Tôi không thấy người lính canh cầm theo chìa khoá hay còng tay. Nét mặt của người lính canh cũng không còn hung hăng như cách đó vài phút. Anh ta gọi Luyện đến gần cửa song sắt, nói giọng ôn tồn:
-- Đây là lần thứ nhất anh vi phạm kỷ luật Vì vậy phòng quản giáo tha cho anh. Nếu tái phạm anh sẽ bị nghiêm trị.

Nói xong, người lính canh bỏ đị. Cả phòng nhìn Luyện kinh ngạc. Theo tập quán trong tù: mỗi lần phạm kỷ luật (nhất là liên lạc với tù bị giam trong xà lim) là mỗi lần bị phạt, công an không cần biết lần đầu hay lần cuối.

Trước đó nhiều ngày, Luyện thường nói cho Phong biết trước ngày giờ mà Luyện sẽ được công an gọi đi thẩm vấn. Sự thể này là điều rất khác lạ, bởi vì, công an Cộng sản không bao giờ báo cho tù nhân biết trước ngày giờ của các cuộc thẩm vấn.

Bài viết ghi lại hai chi tiết nhỏ kể trên với chủ ý ghi nhận Luyện như một "người tù đặc biệt". "Người tù đặc biệt" này nói chuyện dễ dàng với tất cả các bạn tù, nhưng nhất thiết không nhờ vả bạn tù nào, đặc biệt là về mặt lương thực. Điều đáng chú ý là Luyện giao thiệp với mọi người trong phòng giam, ngoại trừ Hồ Hữu Tường.

Mãi sau hai tháng có mặt bên cạnh Hồ Hữu Tường, một tối cơm nước xong, lần đầu tiên tôi thấy Luyện bước đến chiếu nằm của Hồ Hữu Tường. Hai người to nhỏ với nhau khoảng hơn một tiếng đồng hồ. Ngồi ở một góc phòng, quan sát đôi mắt, hoặc chú ý, hoặc trầm tư của Hồ Hữu Tường, tôi biết Hồ Hữu Tường rất quan tâm đến những điều Luyện nói. Câu chuyện giữa hai người chỉ chấm dứt sau tiếng kẽng báo ngủ của trại tù. Câu chuyện giữa Phạm Văn Luyện và Hồ Hữu Tường có lẽ đã làm cho vị học giả này suy nghĩ lung lắm. Thế nên sáng hôm sau, Hồ Hữu Tường nói chuyện với tôi ngay:

-- Mày có biết tối qua thằng Luyện nói chuyện gì với tao không?
-- Chuyện gì vậy Bác? Tôi làm sao đoán được!
-- Câu chuyện ngộ lắm! Thằng Luyện cho tao biết nó là tù giả. Hồ sơ phạm tội tổ chức vượt biên của nó chỉ là hồ sơ giả. Nó bảo nó là người của Lê Đức Thọ Nó được gài vào nằm chung phòng giam với tao trong hai tháng qua chỉ để quan sát xem "Bác Tường ngày nay có còn là Bác Tường của các năm 1945 nữa hay không"? Ngay các lời nói đầu của nó, tao đã cảm thấy sự việc sẽ không đơn giản. Do đó, thay vì đi thẳng vào câu chuyện do Luyện mở đề, tao đã lái câu chuyện đi hướng khác để thăm dò về cá nhân nó. Nó bảo với tao : "Đầu thập niên 1960, Võ Nguyên Giáp hợp tác với Ung Văn Khiêm âm mưu lật đổ Hồ Chí Minh, công việc bại lộ, Võ Nguyên Giáp bị thất sũng. Buồn vì "tình đời đen bạc", hằng ngày Võ Nguyên Giáp đi học nhạc cổ điển Tây Phương "để giải sầu". Thằng Luyện lúc bấy giờ được tình báo Hà Nội bố trí làm người hầu cận cho Giáp, nên hằng ngày phải ôm nhạc cụ đi theo Giáp. Nghe Luyện nói tới đây, tao làm bộ hỏi nó vài vấn đề căn bản về nhạc cổ điển Tây Phương. Những câu trả lời của thằng Luyện quả tình làm tao vô cùng kinh ngạc: nó thực sự có những hiểu biết căn bản về nhạc cổ điển. Sau câu chuyện nhạc cổ điển, thằng Luyện còn cho tao biết: do công vụ, nó đã rất nhiều lần đóng vai hầu cận Tôn Đức Thắng và Lê Duẫn. Tao vội vồ lấy cơ hội này để hỏi dò Luyện vài câu về cá tính và về sức khoẻ của Thắng và Duẫn. Lần thứ hai Luyện làm tao ngạc nhiên: Luyện nói về cá tính và bệnh tật riêng của hai người này đúng như tao đã biết. Thời Pháp, tao ở tù chung nhiều năm với Lê Duẫn Đối với Tôn Đức Thắng, gia đình vợ tao rất thân thiết với gia đình vợ Thắng. Tối hôm qua, thằng Luyện nói chuyện với tao rất nhiều, nhưng nội dung chủ yếu là bấy nhiêu. Mày có ý kiến gì không?

Tôi nhìn thẳng vào mắt của Hồ Hữu Tường, đôi mắt còn giữ nguyên vẻ mệt mỏi của một đêm thao thức. Tôi trả lời Hồ Hữu Tường, giọng cố làm ra vui vẻ để khoả lấp những ưu tư trên trán của Hồ Hữu Tường:

-- Câu chuyện có vẻ ly kỳ và hấp dẫn, phải không Bác? Tôi tin là Bác đã ghi nhận những điểm cần ghi nhận. Tuy nhiên xin nói thêm các chú ý của tôi về Luyện. Thứ nhất: Luyện liên lạc với xà lim nhưng không bị phạt. Thứ hai: Luyện biết trước ngày giờ công an thẩm vấn nó. Thứ ba: Luyện sống trong tù rất bình thản, không giống bất kỳ tên Việt cộng tham ô nào. Thứ tư: trắc nghiệm bất ngờ của Bác đối với Luyện về nhạc cổ điển Tây Phương, về Duẩn và về Thắng. Thứ năm: những lúc nói chuyện với tôi, Luyện thường nhắc tới các sinh viên Saigon theo cộng sản thời Mậu Thân: Nguyễn Hữu Thái, Trần Triệu Luật, Huỳnh Tấn Mẫm, Đỗ Hữu Cảnh, Trịnh Đình Ban, v.v... Luyện cho rằng những người này hoặc làm việc trung thành với Mỹ, hoặc đi hàng hai. Luyện nói chính xác về tính tình của mỗi người trong nhóm sinh viên vừa kể.Tôi bảo là "chính xác" bởi lẽ tôi cũng đã hiểu biết rành rẽ về nhóm sinh viên này vào thời kỳ tôi sinh hoạt với Tổng Hội Sinh Viên Saigòn từ 1963 đến 1970. Điều đáng chú ý là Luyện đã được đào tạo tại Miền Bắc, nhưng lại có tin tức chi tiết về sinh viên Saigon trước năm 1975. Dĩ nhiên Phạm Văn Luyện sẽ còn tìm tới nói chuyện với Bác nhiều lần nữa, và câu chuyện sẽ phải có kết luận. Tôi nói với Bác các chú ý của tôi về Luyện để đề nghị Bác không nên xem Luyện như một thằng tù bất bình thường, bịa chuyện ra để giải trí.

Hồ Hữu Tường vỗ vai tôi, trở về với điệu bộ xuề xoà của các bậc lão niên Miền Nam :
-- Mày nói tao đồng ý. Tao phải thận trọng trong giao dịch với thằng Luyện Giao dịch này sẽ rất phức tạp. Nếu quả thật Luyện là người của Lê Đức Thọ, thì Thọ muốn gì?
Ba ngày liên tiếp sau đó, mỗi ngày từ 6 giờ chiều (sau giờ cơm) đến 9 giờ tối, Luyện đều tìm đến nói chuyện với Hồ Hữu Tường. Câu chuyện được trần thuật tổng hợp như sau:
Tôi hỏi Hồ Hữu Tường:
-- Bác nghĩ gì về chương trình này?
Hồ Hữu Tường vừa nhâm nhi miếng gừng tươi trong miệng, vừa trả lời tôi:
-- Ngày nay, sau 52 năm lăn lộn trên chính trường, Cộng Sản đối với tao chỉ là sự ngu dốt cộng với tính xảo trá bất tận. Lịch sử phát triển của đảng CSVN chính là lịch sử của những cuộc "thay đào đổi kép" nhưng không đổi tuồng. Thay đổi đào kép chỉ nhằm mục đích dối gạt dư luận, là tuồng đã đội Chính phủ Liên Hiệp do thằng Luyện trình bày là thí dụ điển hình của kỹ thuật dối gạt theo kiểu "tuồng cũ, đào kép mới". Tuồng cũ là tuồng chuyên chính vô sản. Vở tuồng này ngay từ đầu đã đi ngược lòng dân, đã xa rời thực tại. Tao không chấp nhận tuồng cũ thì làm sao tao có thể chấp nhận đóng vai đào kép mới?
Hồ Hữu Tường nói tới đây, tôi nóng nảy đặt câu hỏi:
-- Như vậy Bác đã dứt khoát từ chối mọi đề nghị của thằng Luyện chưa ?
-- Chưa, tao bảo với nó : "Hãy để tao suy nghĩ vài ngày".

Vài ngày sau đó, liên hệ giữa Hồ Hữu Tường và Luyện vẫn bình thường, vẫn Bác Bác Cháu Cháu. Thế rồi một buổi sáng đầu tuần, nhân viên công an thuộc Sở Công an Thành phố gọi Hồ Hữu Tường lên phòng thẩm vấn. Khoảng hai tiếng đồng hồ sau, Hồ Hữu Tường trở lại phòng giạm. Chờ cho nhân viên giám thị khoá cửa phòng và đi khuất mắt, Hồ Hữu Tường tiến đến cạnh tôi, nói vừa đủ cho tôi nghe:
-- Sáng nay thằng công an chấp pháp yêu cầu tao trả lời bằng viết mươi câu hỏi ghi sẵn của Sở Công an Thành phố về hồ sơ cá nhân của tạo. Trước khi trả lời mười câu hỏi vừa kể, tao yêu cầu thằng chấp pháp cho tao được nói chuyện riêng của tao. Nó đồng ý. Tao liền kể cho thằng công an này nghe toàn bộ chi tiết câu chuyện giữa thằng Luyện và tao. Tao càng nói, nét mặt của thằng công an chấp pháp càng lộ vẻ kinh ngạc và bối rối. Nói xong, tao hỏi nó nên đối xử như thế nào đối với thằng Luyện. Nó chỉ hỏi tao thêm một số chi tiết về Luyện và tuyệt nhiên không đưa ra bất kỳ đề nghị nào. Sau đó tên công an thẩm vấn bảo tao trả lại nó giấy bút và mười câu hỏi. Nó không còn quan tâm đến mười câu hỏi nữa. Nó ra về.
Quả thực câu chuyện vừa kể đã làm tôi bàng hoàng Tôi nói cho Hồ Hữu Tường nghe về những lo lắng của tôi:
-- Thằng Luyện đã rất nhiều lần dặn Bác tuyệt đối giữ kín những gì nó nói với Bác Nếu bất kỳ tên công an cộng sản nào, không thuộc nhóm Lê Đức Thọ, biết được công tác của Luyện thì tức thời nhóm Thọ sẽ một mặt phủ nhận Luyện, lúc đó Luyện từ tù giả thành tù thật, mặt khác thủ tiêu Hồ Hữu Tường để trả đũa và để nhận chìm câu chuyện. Sáng nay, Bác phản ứng như vậy nhằm mục đích gì?
Hồ Hữu Tường thản nhiên trả lời:
-- Dĩ nhiên là tao nhằm mục đích phá vỡ kế hoạch của Lê Đức Thọ, nếu quả thật thằng Luyện là nguòi của Thọ Phe Thọ trách cứ tao ư? Tao sẽ trả lời rằng, tao là tù, tao phải tôn trọng nội qui phòng tù. Im lặng về vụ Luyện tức là tao vi phạm kỷ luật trại giam. Lê Đức Thọ có tin tao thực tâm tôn trọng kỷ luật hay không, tao chẳng cần biết. Còn tánh mạng của tao ư? Bọn Hà Nội chắc hẳn không ưa gì tao, nhưng đối với chúng nó thì tao là "con gà đẻ trứng vàng". Bộ óc của tao sản sinh ra trứng vàng. Hà Nội đang vô cùng bối rối trước hiện tình quốc nội và quốc tế, ngày nào đó Hà Nội sẽ cần đến ý kiến của tao, giết con gà, Hà Nội sẽ mất trứng vàng Tao chưa thể chết đâu, mày đừng lo!
-- Tại sao Bác lại tin rằng Hà Nội xem ý kiến của Bác là ý kiến vàng?
-- Câu hỏi của mày phải được trả lời rất dài dòng. Tao chỉ nói với mày một cách khái quát rằng: Hiện nay Hà Nội xem tao là một trong vài người hữu hiệu nhất trong vai trò làm gạch nối giữa đám Hà Nội ngu dốt và Thế Giới Tự Dọ Tao còn nhớ, những ngày còn ở tù chung với Lê Duẩn thời Pháp thuộc, có lần tao đã nói với Lê Duẩn rằng: "Trên địa bàn sinh hoạt chính trị của thế giới, anh đừng bao giờ quên rằng mình là người da vàng, và cũng đừng bao giờ quên rằng người da trắng lúc nào cũng canh cánh bên lòng mối ưu tư mà họ gọi là "hoạ da vàng". Á Châu ổn định là một trong các yếu tố trội yếu của thế giới ổn định Á Châu chỉ ổn định chừng nào Á Châu có được thế chân vạc tạo bởi ba khối: Khối Trung Hoa, Khối Ấn Độ và Khối Đông Nam Á. Tôi tin là một lúc nào đó, bằng cách nào đó, Trung Hoa chỉ còn là Hoa Bắc Cộng với Hoa Trụng Hoa Nam sẽ kết hợp với các nước Đông Nam Á tạo thành Liên Bang Đông Nam Á. Trong trường hợp này, Trung Hoa (hiểu theo nghĩa Hoa Bắc + Hoa Trung), Liên Bang Đông Nam Á và Ấn Độ, mỗi khối sẽ có dân số trung bình khoảng 500 triệu, thế chân vạc sẽ ổn cố về kinh tế cũng như về chính trị, quân sự". Lê Duẩn rất chú ý tới ý kiến vừa kể. Hẳn nhiên Lê Duẩn sẽ tìm cách khai thác ý kiến này theo tính toán của người Cộng sạn Phần tao, tao vẫn đi con đường trung lập chế. Nghệ thuật và kỹ thuật cao cấp của chính trị chính là khả năng biến ý đồ của địch thành kế hoạch của ta. Trong tình huống căng thẳng ngoại giao giữa Hoa và iệt như hiện nay, chắc hẳn Lê Duẩn sẽ phải suy nghĩ nhiều hơn về Hoa Bắc, Hoa Trung, Hoa Nạm Cuối con đường suy nghĩ này, Lê Duẩn sẽ gặp tao
-- Tôi đồng ý với Bác là có thể Lê Duẩn rất quan tâm đến thế chân vạc của Á Chậu. Tuy nhiên như Bác đã biết, đảng CSVN hiện nay rất phân hoá Lê Duẩn cũng chỉ là một phe bên cạnh nhiều phe khác. Thế nên khi phá vỡ tính chất bí mật của kế hoạch khai sanh ra chính phủ Liên Hiệp, Bác có thể gặp một trong hai trường hợp kể sau:
a/ Phe Lê Đức Thọ sẽ thủ tiêu Bác để bít đầu mối, và để trả đũa Bác đã làm vỡ kế hoạch của họ
b/ Phe chống Lê Đức Thọ sẽ thủ tiêu Bác để phá Lê Đức Thọ. Bác nghĩ như thế nào về sự lo ngại của tôi?

Hồ Hữu Tường im lặng một lúc rồi chậm rãi trả lời:
-- Ý kiến của mày không phải không có căn cứ.Tuy nhiên, ở vào hoàn cảnh của tao, tao không còn cách chọn lựa nào khác hơn là phá vỡ kế hoạch của Thọ, phá vỡ âm mưu "tuồng cũ, đào kép mới".

Nói chuyện với tôi xong, Hồ Hữu Tường trở về chiếu nằm của ông ta. Tôi thấy Hồ Hữu Tường và Phạm Văn Luyện nhỏ to với nhau trong chốc lát. Luyện vốn là người rất thâm trầm, khó mà nhìn thấy cảm nghĩ của Luyện xuất hiện trên nét mặt. Thế nhưng hôm ấy, lần đầu tiên tôi thấy Luyện biến sắc mặt. Những ngày sau đó, Luyện không còn nói chuyện với Hồ Hữu Tường nữa. Luyện mất hẳn vẻ hoạt bát thường lệ. Luyện chỉ nói cho Phong (anh binh nhì nhảy dù) biết là 7 ngày sau anh ta sẽ rời phòng. Cuối cùng Luyện từ giã chúng tôi đúng như lời anh ta đã báo trước. Lúc bấy giờ là trung tuần tháng 12 năm 1978. Cuối tháng 6 năm 1979, công an ra lệnh cho Hồ Hữu Tường ôm vật dụng cá nhân rời khỏi trại Phan Đăng Lưu.

Tháng 8 năm 1979, tại khám Chí Hoà, tôi nghe tù nhân bàn tán với nhau về chuyến xe chở Hồ Hữu Tường từ khám Chí Hoà đi trại lao động đã bị phục kích, một số tù chết, số khác bị thuơng Hồ Hữu Tường bị thương và được mang trở lại bệnh xá của khám Chí Hoà. Những tháng đầu tiên tại khám Chí Hoà, tôi ở cùng phòng với Cao Dao Nguyễn Trần Huyên, người tự nhận là một trong các sáng lập viên của báo Nhân Dân Hà Nội.

Vào dịp Giáng Sinh năm 1979, ông Cao Dao đã được phép gặp Uỷ Ban Ân Xá Quốc Tế cùng với người
con trai của ông ta có mặt trong Uỷ Ban nạy Nhân lần gặp gỡ này, ông Cao Dao có nói lại với bạn tù cùng phòng rằng: Uỷ Ban Ân Xá Quốc Tế đã nhiều lần yêu cầu được gặp Hồ Hữu Tường nhưng công an cứ từ chối, viện cớ Hồ Hữu Tường đang bị bệnh. Đó là tin tức cuối cùng tại khám Chí Hoà về Hồ Hữu Tường.

Đầu năm 1981, vài nguòi tù trong khám Chí Hoà nhận được tin từ những người đi thăm nuôi: Hồ Hữu Tường hấp hối tại trại tù Hàm Tân, đuọc công an cho phép mang về nhà và từ trần tại tư gia.
Tin Hồ Hữu Tường qua đời làm cho tôi vô cùng thắc mắc. Nếu cần chọn một ông già thất tuần khoẻ mạnh nhất, tôi không ngần ngại chọn Hồ Hữu Tường. Hồ Hữu Tường là người có thừa hiểu biết và kinh nghiệm về các phương cách giúp cho người tù bảo vệ sức khoẻ trong điều kiện của lao tù. Vì vậy hơn một năm ở chung phòng với Hồ Hữu Tường, tôi không hề một lần thấy Hồ Hữu Tường bị bệnh, dầu chỉ là hắt hơi hay sổ mũi. Gần như trọn ngày, Hồ Hữu Tường bao giờ cũng ở trần, cũng ngậm gừng tươi trong miệng Trong khoảng từ 1 đến 4 giờ sáng, nếu người nào thức giấc nửa đêm đều thấy Hồ Hữu Tường đầu đội mũ ni che tai, mình mặc bà ba nâu, ngồi đánh cờ tướng một mình: tay phải đánh với tay trái, đêm nào cũng như đêm nào. Mặc dầu ngủ ít theo tuổi già, ban ngày kể cả giờ ngủ trưa rất ít khi người ta thấy Hồ Hữu Tường nằm nghĩ. Người đàn ông có sức khoẻ bền bĩ đó chỉ hai năm sau đã phải từ trần vì lý do "suy nhược toàn diện". Hẳn nhiên, chẳng còn cái chết nào đáng hoài nghi hơn.

Do lòng tôn kính khả năng suy luận của bạn đọc, thay vì đưa ra một kết luận dứt khoát về trường hợp từ trần của Hồ Hữu Tường, bài viết chỉ xin trân trọng trình với bạn đọc một số ghi chú cần thiết như sau:
- Ghi chú một: mọi quan điểm kinh tế, chính trị được bài viết ghi lại đều là quan điểm do Hồ Hữu Tường phát biểu trong bối cảnh quốc nội và quốc tế năm 1978, trước khi xảy ra chiến tranh giữa Hoa Cộng và Việt Cộng
- Ghi chú hai: vào lúc câu chuyện Phạm Văn Luyện xảy ra, bên cạnh Hồ Hữu Tường còn có ông Trương Đình Chư, nguyên chỉ huy trưởng Cảnh sát Đặc biệt Đà Nẵng, hiện có mặt tại Orange County, California, Hoa Kỳ. Vị sĩ quan này đã trực tiếp thấy và nghe tất cả dữ kiện bên trong và chung quanh hoạt động của Phạm Văn Luyện. Đề cập đến nhân chứng sĩ quan cảnh sát như vừa kể, bài viết có hàm ý biểu lộ thái độ triệt để nghiêm túc và tôn kính đối với bạn đọc trong mục tiêu trình bày sự thật
- Ghi chú ba: bình luận để lượng giá toàn bộ cuộc đời hoạt động chính trị của Hồ Hữu Tường không là chủ đích của bài viết này. Bài viết chỉ nhằm diễn tả thật rõ và thật trung thực thái độ phản kháng của Hồ Hữu Tường đối với thủ đoạn "tuồng cũ, đào kép mới" của Cộng sản Việt Nam. Thái độ phản kháng này ngày nay đã trở thành một loại chúc ngôn có tác dụng lưu ý hậu thế. Lưu ý rằng: Mặc dầu Hoa Cộng và Việt Cộng chẳng thể nào trở lại thời kỳ nồng ấm của hình ảnh "núi liền núi, sông liền sông môi hở răng lạnh" nữa. Thế nhưng trước thảm cảnh tan vỡ của Cộng sản Thế giới, hai đảng Cộng sản Á Châu này buộc lòng phải liên kết với nhau để tồn tại. Không còn nghi ngờ gì nữa: chủ nghĩa Marx ngày càng để lộ tính thô thiển và bất lực, thay vì theo chân các nước cộng sản Đông Âu, CSVN lại biến hình thành một loại băng đảng hình sự: họ không ngần ngại đặt lợi lộc của băng đảng lên trên quyền lợi của dân tộc. Để thực hiện âm mưu vừa kể, một mặt CSVN tiếp tục đưa đẩy "tuồng cũ, đào kép mới" để mê hoặc những người nhẹ dạ. Mặt khác CSVN sẵn sàng áp dụng biện pháp Thiên An Môn trong trường hợp quyền thống trị bị lâm nguy. Rất có thể chính CSVN sẽ xử dụng những tay chân của họ trong việc tạo ra "trường hợp quyền thống trị bị lâm nguy" để có cơ hội biểu dương một Thiên An Môn Việt Nam nhằm khủng bố nhân dân trước khi nhân dân có điều kiện nổi dậy.

Chính phủ liên hiệp là gì? Hoà hợp hoà giải là gì? Dân chủ hoá là gì? cởi trói văn nghệ là gì? Kinh tế thị trường tự do là gì ? Nếu người chết có thể nói, Hồ Hữu Tường sẽ không ngần ngại trả lời: Tất cả chỉ là "tuồng cũ, đào kép mới".



VẠN MỘC CƯ SĨ 

BÌNH LUẬN

 

Từ thuở thiếu thời, tôi rất thích các truyện của Hồ Hữu Tường. Ông là một nhà viết lịch sử tiểu thuyết rất hay nếu ông bỏ cái mục đích quảng cáo mình là giòng dõi Quang Trung . Ông viết điều này làm cho người ta ghét ông, chỉ trích ông "ba xạo", lừa bịp nhân dân. Một khi quần chúng biết ông "bịp" thì ông làm gì, nói gì cũng chẳng ai tin. Việc này lợi đâu chẳng thấy, chỉ thấy hại cho con người văn hóa và cuộc đời chính trị của ông.

 

Sau này lớn lên, đọc lại các tác phẩm chính trị, văn hóa của ông tôi thấy sao mà quá nghèo nàn. Hồ Hữu Tường trong Xã hội học nhập môn (Minh Đức, 1945), Kinh tế học và kinh tế chánh trị nhập môn (Tân Việt, 1945), Tương lai kinh tế Việt-nam (Hàn Thuyên, 1945). Phong kiến là gì? (Minh Đức,1946), Vấn đề dân tộc (Minh Đức,1946), Muốn tìm hiểu chánh trị (Minh Đức,1946),Tương lai văn hóa Việt-nam (Minh Đức,1946, Huệ Minh, 1965),Lịch sử văn chương Việt-nam (quyển 1) (Lê Lợi, 1950), Trần Đức Thảo với TRIẾT-LÝ ĐÃ ĐI ĐẾN ĐÂU? (NXB Minh Tân - Paris xuất bản năm 1950), và cả Trương Vĩnh Ký với gần 100 tác phẩm có những sách 10 trang, tất cả đều là danh to mà "công" quá nhỏ, thật là hòn núi đẻ ra con chuột nhắt! 

Tôi thắc mắc hai điều:

(1).Ông đã là nhà văn, nhà chính trị, đã theo Marx, rồi tuyên bố từ bỏ Marx.Tại sao ông không viết về những điều ông hiểu về Marx, và kinh nghiệm cộng sản? 

(2). Nếu ông có bằng Cao học Toán tại sao không xin dạy Toán cho Đại học Việt Nam là bộ môn cần thiết? Trước 1954, miền Nam it ai đỗ Cao học hay tiến sĩ Toán.

Sau này, ông có xin dạy ở Đại Học Văn Khoa Saigon nhưng bị hội đồng khoa bác bỏ vì ông không có chuyên môn, bằng cấp nào về Văn Khoa.

Gần đây, tôi đã viết bài phê bình ông, Hộ pháp Phạm Công Tắc và ông đạo Dừa về thuyết Trung lập. 

Trước 1975, dân ta đứng trước hai thế lực tư bản và cộng sản, dân ta đành phải theo một trong hai phe. Trong cuộc chiến tranh ý thức hệ, chúng ta chỉ biết chọn một trong hai đường. Ta không thể đứng trung lập, không thể một lúc chống cả hai tư bản và cộng sản. Lúc bấy giờ, Pháp rút lui, cộng sản tất tiến thẳng tới. Nếu theo cộng sản thì không là trung lập. Bắt buộc phải chống cộng sản cũng không phải là trung lập.

Làm sao chống cộng sản? Trong khoảng 1945-54, ta chống thực dân Pháp, nhưng Pháp cũng là lực lượng bảo vệ tự do, giữa Pháp và cộng sản thì Pháp tốt hơn. Trần Trọng Kim, Nguyễn Tường Tam, Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Mạnh Côn, Nghiêm Xuân Hồng, Vũ Khắc Khoan, và hàng triệu đồng bào miền Bắc bỏ quê hương miền Bắc mà vào Nam là vì lý do này. Lúc đó nếu không có Mỹ thì vài năm sau, ta bị cộng sản nuốt chững chứ không phải chờ đến 1975.

 

Không biết lúc bấy giờ Hồ Hữu Tường, Phạm Công Tắc làm sao dắt dân Việt Nam khỏi bàn tay cộng sản xâm lược? Họ nhờ thế lực nào mà ngăn được tư bản và cộng sản? Hai ông tin vào Nerhu, Sihanouk ư? Đám trung lập này thực ra là trung lập thiên cộng chứ có hay ho gì? Hai ông tin vào lời nói và chữ ký của Liên Xô, Trung Cộng, Pháp, và Ấn Độ ư? Hai ông đã thiếu thực tế. Vâng thực tế đã trả lời. Chẳng ai ủng hộ hai ông, chẳng ai họp hội nghị rồi ký bảo đảm cho hai ông. Rốt cuộc hai ông trở về trong cay đắng! Lẽ tất nhiên hai ông có quyền ghét ông Diệm, nhưng cuộc cờ chung, không dấn thân thì đứng ngoài, rêu rao trung lập làm chi một cách vô ich như thế? Ghét ông DIệm mà hô hào trung lập là nói suông nếu không thì cũng có nghĩa là ủng hộ Việt Cộng. Còn chống Diệm, chống Mỹ thì không là trung lập. Trên thực tế và lý luận, cho đến bấy giờ, trung lập cũng là viễn vông hoặc chỉ là tay sai che giấu mặt của ai đó. Trong cuộc đời tanh hôi và vô minh, gồm hai chữ dại khôn, không bị chê là dại đã là may, sao ai đó  còn tâng bốc là thánh, là đạo sĩ? Các vị thánh vị đạo sĩ mà ông bạn nào đó kể tên tuổi ở xa thì hào nhoáng lắm, đúng vậy, nhưng lại gần thì là các vị này mang trường bào mà bên trong vận khố rách!

 

Bản thân ông Hồ Hữu Tường viết và luận rất hay nhưng thực tế làm chính trị thì quá dở. Lúc bấy giờ Pháp rút, Pháp không còn sức để yểm trợ cho lực lượng quốc gia, Pháp buông tay và sau này Pháp còn bắt tay với Bắc Việt. Không có Pháp, đám Bình Xuyên làm sao tồn tại, thế mà lúc tối tăm đó ông nhảy ra là cố vấn cho họ! Kết quả là ông bị bắt! Chẳng phải vì chữ trung, chẳng phải vì nhân nghĩa, việc ông làm là vụng tính. Bảo Đại thông minh hơn, biết thoái biết tiến, và cũng vì lòng nhân, ông kêu Nguyễn Văn Hinh, và các thân thuộc bỏ sang Pháp.

  Ông có chút tà đạo khi ông xưng ông là dòng Quang Trung trong khi Nguyễn Ánh đã tận diệt họ Nguyễn Huệ (1). Ông bôn ba chạy theo Thích Minh Châu rồi lại chạy theo Chu Tử để cầu làm dân biểu.Ông già rồi mà vẫm ham danh lợi.Ông già rồi mà dại.

Ông e không phải là tay quốc gia chân chính. Và cũng chẳng là tay giang hồ nghĩa khí. Mấy ông già Miền Nam chưa nếm mùi cộng sản nên tin tưởng Việt cộng, nhất là những anh Việt Cộng Miền Nam là bạn mấy ảnh ở bên Tây hay ở Chasseloup Laubat, hay cùng quê Cai Lậy, Mỹ Tho hay Sóc Trăng, Rạch Giá thì tin tưởng lắm, cho nên nghe lời ngọt ngào mà không chịu bỏ nước ra đi để đến nỗi như thế.

Khoảng 1974, nhiều tay nằm vùng nổi lên mở chiến dịch "trí vận, giáo vận". Họ đến nhà này nhà kia bảo rằng :" giáo sư là người có uy tín, Mặt Trận sẽ mời GS là viện trưởng, khoa trưởng"; "Mặt trận chủ trương xóa bỏ hận thù...", "Ông là người yêu nước, Đảng rất kính trọng...". Sau tháng 4-1975, thậm chí ngoài Bắc có người gửi thư vào" xin anh ở lại, đảng sẽ chiếu cố anh...". Hồ Hữu Tường không di tản, nghĩ rằng mình là "người yêu nước" được Mặt Trận tin tưởng, nay mai sẽ làm bộ trưởng, Viện Trưởng, giám đốc... Người ta không đi được là vì không có phương tiện, ông được con cái lo cho thì không chịu đi.

Than ôi! "Chim tham ăn sa vào vòng lưới! Cá tham mồi mắc phải lưỡi câu!" Té ra không phải chim, cá tham mồi mà bậc "bác học", đạo sư" to đùng mà cũng mắc mồi! Nghĩ đời mà chán cho đời!

Té ra các ổng làm chính trị mà chẳng hiểu Việt Cộng là gì! Tôi cũng có một ông quen thân, dân Bắc di cư, đạo giòng, dạy chính trị thế mà khi về hưu định về Việt Nam  dưỡng già! Nghe ông bạn nói vậy thì tôi hỡi ôi!

Sau này Lê Đức Thọ muốn ông hợp tác. Lê Đức Thọ và Lê Duẩn tính rất hay. Theo Tàu thì phải nô lệ Tàu! Muốn chống Tàu thì nhờ ai?Nhờ Liên Xô! Sau khi đi Nga ký hiệp ước tương trợ, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Lê Đức Anh,  bèn chống Đặng Tiểu Bình, kết quả bị Đặng Tiểu Bình dạy cho một bài học. 

 

Ba anh họ Lê tin tưởng vào Liên Xô nhưng khi đụng sự, Liên Xô làm lơ! Đến khi Liên Xô sụp đổ, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười,Lê Đức Anh vột sang quỳ lạy khóc lóc, xin Trung Quốc xá tội, và hứa hẹn cam tâm khuyển mã! Lúc đó, họ cho đi nước cờ như vậy là khôn! Nhưng nay, một số cộng sản như Dương Danh Dy thấy thế là dại! 

 

Còn Hồ Hữu Tường nằm trong tù mà vẫn cho mình là khôn, là nắm bí quyết Lưu Bá Ôn và Khổng Minh, và bọn Lê Đức Thọ phải năn nỉ ông làm quân sư! Ông kiêu căng quá, tự phụ quá, thất bại ở Rừng Sát mà chưa mở mắt. Điều này cho thấy mấy ông Mác xit, chính trị gia, trí thức  bằng cấp bằng cái nia. mồm thì to như cái loa nhưng đụng thực tế mới thấy trí óc họ nhỏ hơn trôn kim.(Tôi nói điều này để trình bày nỗi chua cay trước thời cuộc để các bạn đừng tin vào về ngoài đạo cao đức trọng của ai, và cũng đừng tự phụ cho mình là tài gỉỏi khiến thiên hạ phải quỳ gối khom lưng! Marx, Lenin, Mao, Hồ, Pol Pot cho đến XYZ cũng là mang bệnh hoang tưởng mà thôi)!

Ông thường ngang nhiên tỏ ra thích mặn và ngang nhiên giảng giải về đề tài ba lỗ, thế sao lại mặc áo cà sa ? Ông mặc áo cà sa cũng được vì biết bao thượng tọa, linh mục con cái đùm đề mà vẫn thích người ta gọi thầy, gọi cha!  Quốc hội nơi ông làm dân biểu đâu có phải trụ sở Thích Minh Châu mà ông mặc áo cà ca và tụng kinh, ngồi thiền?Ông còn theo Thanh Lãng xuống đường đi ăn mày? Ông là trí thức mà chơi nhiều trò lố lăng quá!Chắc lúc này ông cũng như Linh mục Trần Hữu Thanh, bà Nguyễn Thị Thanh, Lý Chánh Trung, Lý Quý Chung  toan lập tuồng chống Mỹ cứu nước, nhấp nhá nhấp nhem với Mặt Trận ,xưng xe đồng chí anh em với Phạm Hùng, Nguyễn Hữu Thọ...

 

Ông cậy ông quen biết Phạm Hùng ư? Ỷ chi chi mà chắc chắn cái chi chi?Cộng sản không bao giờ vị tình riêng, cha mẹ họ, anh em họ, họ cũng giết huống hồ kẻ thù ở bên kia giới tuyến. Tại sao nhóm Phục Quốc (?) tin cậy ông, ông lại đi báo cáo với Cộng sản? Phải chăng nhóm này là công an nên ông biết và chơi trò này? Nếu họ là Quốc Gia thật, ông không giúp thì thôi sao lại đi cáo giác? Điều này chứng tỏ ông không có tinh thần quốc gia mà cũng chẳng có đạo nghĩa và lòng trung tín giữa con người với nhau. Ông là kẻ sĩ mà hành vi tiểu nhân, không chút nghĩa khí!  Ông tâng công để lĩnh thưởng ư? Cái trò cáo mật này đã kết thúc đời ông mà ông không biết!

Hồ Hữu Tường đã lâm vào ngõ bí. Giả sử ông theo Lê Đức Thọ thì ông làm được gì? Ông theo Lê Đức Thọ thì cũng là theo voi ăn bã mía, cũng làm một thằng ngu như bọn GPMN mà thôi! Mà chắc gì ông được yên. Đối thủ của Lê Đức Thọ sẽ thịt ông!Ông từ chối là phải. Nhưng từ chối cũng chết vì ông đã biết kế hoạch của họ Lê. Cả hai phe đều muốn giết ông, ông không thể nào thoát được! Nhưng ông im lặng thì ông còn sống thêm vài ngày vài tháng. Khi ông cáo mật âm mưu của họ Lê thì ông càng chết sớm vì họ sẽ thanh toán ông gấp.


Ông khôn mà dại. Đỗ Thái Nhiên đã nói đúng. Một khi ông phá vỡ tính chất bí mật của kế hoạch khai sanh ra chính phủ Liên Hiệp, Hồ Hữu Tường sẽ bị một trong hai trường hợp kể sau:
a/ Phe Lê Đức Thọ sẽ thủ tiêu ông để bít đầu mối, và để trả đũa ông đã làm vỡ kế hoạch của họ
b/ Phe chống Lê Đức Thọ sẽ thủ tiêu ông để phá Lê Đức Thọ. 

Theo thiển kiến, cũng có thể có trường hợp thứ ba là Hồ Hữu Tường gặp một lúc cả  hai trường hợp trên.

Thế sự đua nhau nói dại khôn,

Biết ai là dại, biết ai khôn?

Ở dưới suối vàng, ông còn chơi cờ theo lối song thủ hổ bác không? Ông có nghĩ đến cách phá cuộc cờ gay go của đời ông không? 

______

  (1).NHỮNG NGHI VẤN VỀ TRIỀU ĐẠI TÂY SƠN (1771-1802)


No comments: