Pha That Luang-Vientian-Lào (Hình mhinh họa từ Wikipedia)

Phải sang Lào:
Khi sang Thái Lan, tôi xin Visa của tòa lãnh Sự Thái ở Houston. Xin 6 tháng theo  loại ‘O’ cho việc thiện nguyện, nhưng họ chỉ cấp có 3 tháng và cho biết là tôi phải xin gia hạn tại Thái Lan. Khi Visa 3 tháng của tôi gần...

... hết hạn, tôi đến Sở Di Trú ở Bangkok để xin thêm 3 tháng nữa, nhưng ở đây họ lại đòi phải có Work Permit của Thái mới được. Khó thế! Làm việc lĩnh lương mới có Work Permit, tôi chỉ là một thiện nguyện viên thì làm sao có Work Permit đây! Hỏi quanh thì mới biết là dù có giấy mời sang để giúp họ nhưng khi hết hạn Visa, nếu không có Work Permit thì vẫn phải đi sang một nước nào đó để xin Visa vào lại Thái. Những người đi trước cho biết là sang nước nào cũng chỉ xin gia hạn được có 1 tháng, riêng Tòa Đại Sứ Thái Lan bên Lào thì cho gia hạn 3 tháng như đơn xin lúc đầu.Vì thế tôi đi Lào. Có điều đây là một chuyến đi ngoài dự tính của tôi, quả thật là tôi “phải” sang Lào!
Từ lâu tôi vẫn nghĩ Lào là một nước có nhiều thắng cảnh, xem hình đền đài của họ trên Internet đẹp quá, hình ảnh đoàn vũ đội mũ chóp bạc cao vút, xiêm y thêu kim tuyến rực rỡ như vàng, tay chân đeo bao nhiêu là vòng, dáng họ biểu diễn đẹp như những hình tượng người ta làm để trưng bày. Tôi nhớ mãi câu hát “Nhớ nước non xưa Lèo…Lèo…Lèo” và điệu múa tay uốn éo, chân cong lên nhún nhẩy theo mỗi tiếng láy  “Lèo…Lèo…Lèo…” mà nhóm nữ sinh Trưng Vương hay Sư Phạm tập dượt mà tôi tình cờ xem được. Điệu múa ấy, lời hát ấy khiến tôi phì cười mỗi khi bắt chước họ. Từ trước tôi chỉ biết về Lào qua hình ảnh và sách vở, kể ra được sang tận nơi để xem cũng là điều thú vị. Nghĩ thế, tôi quên cái cảm giác ngại ngùng lúc đầu và lại háo hức chuẩn bị đi.
Một đêm không ngủ:
Tôi được biết từ Bangkok sang Lào có thể đi máy bay, đi xe Bus hoặc xe lửa. Tôi vẫn thích đi xe lửa vì có thể thoải mái ngắm cảnh bên đường, không bị gò bó như đi xe Bus, giá lại rẻ hơn máy bay nhiều nên tôi chọn phương tiện này. Ngày xưa khi mới xa nhà, đường xe lửa Sai Gòn - Nha Trang là tôi quen lắm. Tôi nhớ cảnh ồn ào về đêm ở ga Mường Mán, nhớ tiếng tíu tít chào hàng và nhớ cả câu “Dăm ba cô mắt xếch, nhìn đời lệch lạc…” trong thư của một người từng đóng quân ở đấy.
Hôm đi mua vé, một người học trò dặn tôi: “Cô đừng mua vé có phòng ngủ vì cô đi một mình, không biết sẽ phải ở chung phòng với ai nên không biết có an toàn không. Cô cứ mua vé hạng nhì, mấy chục người một khoang tàu, ngồi ghế đệm, đến giờ ngủ họ sẽ kéo 2 ghế lại thành giường, họ trải đệm, có gối có chăn và kéo màn che quanh giường là cô có thể ngủ bình yên ”. Tôi nghe lời khuyên, rất hài lòng vì như thế vừa rẻ lại vừa yên tâm vì có cả mấy chục người ở cạnh.
Buổi chiều tôi đi sớm để tìm tàu cho khỏi vội vàng. Lúc tôi đến người ta còn đang phun nước rửa tàu. Phải chờ cho họ làm xong tôi mới lên toa tìm chỗ. Có lẽ tôi là người  khách lên tàu trước nhất. Cất hành lý xong, tôi đi quanh quan sát khoang tàu và hơi thất vọng khi nhìn thấy trong toa cái gì cũng cũ kỹ nghèo nàn, nhất là toilet, khác hẳn với xe lửa bên Âu Châu mà tôi đã có dịp đi qua.
Khoảng 8 giờ tối tàu khởi hành. Tôi nhìn qua cửa sổ quan sát đường phố đoàn tàu chạy qua cho đến lúc trời tối dần và không còn nhìn rõ nữa. Tôi lấy sách ra đọc để chờ giờ họ làm giường. Nhân viên làm việc nhanh thoăn thoắt, thoáng cái đã làm xong một dãy giường cho khách rồi. Lúc đặt lưng xuống nghỉ là lúc tôi nhận ra đường tàu này chẳng êm chút nào. Tôi nghe rõ từng tiếng lục cục trên đường rày, cảm thấy được cả lúc tàu vào những đoạn đường khó đi. Thỉnh thoảng tôi giật nẩy mình vì tiếng động mạnh khi 2 toa tàu cụng vào nhau.
Cái cảm giác sờ sợ khiến tôi nghĩ lẩn thẩn. Tôi đóng cửa sổ lại, “lỡ có gì cũng không bị rơi ra ngoài, nằm tầng dưới chắc cũng không sợ bi văng đi đâu. Thôi kệ, ngủ”! Nhưng tôi không thể ngủ được, không phải vì sợ, vì tàu chạy ồn ào mà là vì mùi dầu chạy tàu xông lên nồng nặc. Không biết toa của tôi là toa thứ mấy mà lại bị như thế. Lúc đầu tôi đã thấy, nhưng cũng tưởng là khi tàu chạy có gió thổi thì sẽ hết, không ngờ càng lúc mùi dầu càng tăng. Nhiều người phải đeo “khẩu trang”, tôi hỏi mua nhưng trên tàu không có. Sau cùng, tôi phải lấy áo che kín mặt mới chịu đựng được qua đêm. Người ta bảo có lẽ là toa của tôi gần chỗ tàu xả khói. Đi một lần như thế này đủ làm tôi sợ, hết cả cảm hứng đi tàu đêm để “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” rồi!
Khoảng gần 10 giờ sáng tàu mới đến ga Nông Khai, một tỉnh nhỏ miền Đông Bắc Thái Lan, giáp giới Lào. Tôi được chỉ là đi xe Tuk Tuk mất chừng 30 Baht từ ga xe lửa đến trạm biên giới Thái-Lào, ở đó làm Visa vào Lào mất 35 Đô, sau sẽ thuê xe đến Vientiane. Lần đầu bỡ ngỡ nhưng rồi tôi cũng qua được cửa ải sang Lào. Chỉ có điều tôi không biết, là tôi có thể mặc cả xe từ đó về thành phố Vientiane chừng 300 Bath nhưng tôi đã phải đi với giá 500!
Đến Vientian (Vạn Tượng):
Người Việt Nam mình gọi Vientian là Vạn Tượng, thủ đô của nước Lào. Taxi đưa tôi từ trạm biên giới Thái-Lào đến khách sạn Lã Ông Đào trong thành phố Vạn Tượng. Họ gọi là Taxi nhưng đó là xe Van, người tài xế và một bà lo về thủ tục giấy tờ ngồi ghế trước, một mình tôi thênh thang cả phía sau. Đến nơi, người đàn bà mau mắn chạy vào văn phòng khách sạn hỏi trước. Chủ nhân khách sạn gốc Việt nhưng nói tiếng Việt trọ trẹ, không nói được nhiều. Họ bảo có phòng 600 Baht. Tôi đã được cho biết ở đây 1 phòng ngủ cỡ 400 Baht là ở được rồi. Tôi đi có một mình cũng chả cần phải ở phòng to nên nói với họ là tôi mướn phòng 400Baht. Phòng nhỏ nhưng cũng có đày đủ, chỉ không phải là loại sang thôi.
Khách sạn này lớn nhưng có lẽ cũng chỉ là loại 3 sao. Ngoài tòa nhà chính mấy tầng ở mặt đường, phía trong còn 3 dãy dài bao quanh, mỗi dãy cũng có đến mấy chục phòng. Thuê phòng ở đây thật giản dị, chỉ việc đóng tiền là xong, họ không hỏi giấy tờ và cũng không có biên lai gì cả. Ở Lào họ thích tiêu tiền Thái và tiền Mỹ, tôi không phải đổi ra tiền Lào. Thế cũng tiện, khi về đỡ phải đổi lại. Bên Lào cũng như bên Thái, rất ít nơi chịu nhận Credit Card, chỗ nào họ cũng đòi tiền mặt. Ở khách sạn nếu muốn dùng Credit Card thì phải trả thêm 6% nữa thì phải.
Sau khi tắm mát, tôi ngủ một giấc dài để bù cho tối hôm trước, lúc tỉnh dạy đã thấy trời chiều. Tôi lững thững ra hàng ăn của khách sạn để ăn bữa tối. Không biết ở các tiệm khác thì thế nào nhưng tôi thấy món ăn ở nhà hàng này đắt hơn những tiệm tôi hay ăn bên Bangkok. Ăn xong, thấy hàng vắng người, tôi kéo ghế ngồi xem người qua lại. Đường phố ở đây nhỏ và êm đềm, không có cái ồn ào của thành thị, có lẽ vì xe cộ không nhiều. Tôi không nhìn thấy xe ôm như ở Thái, cũng không thấy có xích lô, Taxi hay xe Bus. Thỉnh thoảng có xe hơi và một vài xe Lam (Lambretta) chở khách chạy qua, trông y hệt những xe Lam ngày trước ở Sài Gòn.

Ngồi một lát tôi thấy có người đàn bà đi xe gắn máy xăm xăm chạy tới, nhìn thấy tôi từ xa chị đã cười rất tươi khiến tôi tưởng chị nhận lầm người. Chị đậu xe ngay trước cửa nhà hàng, tôi nhận ra chị chở theo một cái hộp vuông khá to phía trước. Chị xuống xe, mở hộp bày ngay xuống đường, miệng đon đả mời chào. Thì ra đó là hộp hàng xén của chị, trong đó có đủ các món quà nho nhỏ để mời khách phương xa mua làm kỷ niệm, nào nữ trang, nào ví to ví nhỏ, nào móc chìa khóa, bật lửa, dùi đục, nào kéo nào dao… linh tinh bao nhiêu thứ. Tôi tò mò ngắm nghía trong khi chị liến láu giọng Hải Phòng bây giờ:
- Cô cứ vô tư xem đi, con có nhiều thứ lắm. Hàng con toàn thứ có chất lượng,  con bán buôn cho người Thái mua về bán lại đấy. Cô ở ngoại hả? Nom cô là biết ngay…
Tôi mỉm cười, chăm chú xem để tránh trả lời những câu khách sáo của chị. Từ lâu tôi vẫn có ý tìm mấy món trang sức bằng bạc của ngày xưa. Tôi nhớ có lần được nhìn thấy hình ảnh cô thôn nữ xúng xính trong chiếc áo tứ thân, lưng thắt hầu bao mầu lá mạ, dây xà tích bạc trắng nõn thả lơi trên nền váy đen nhánh, đẹp thật! Tôi thích bạc từ đó. Tôi chỉ vào mấy sợi dây chuyền trắng và hỏi xem có phải là bạc thật không. Chị vội vàng đưa luôn cho tôi cả chùm dây chuyền, miệng liến thoắng:
- Bạc thật chứ ạ. Đây cô, những cái này là bạc đấy. Cái kia không phải. Mua cho con đi cô, từ sáng con chưa được mở hàng. Hai vợ chồng con buôn bán vất vả để có tiền nuôi con đi học. Khổ lắm cô ơi!
- Anh chị đông cháu không? Sang Lào lâu chưa?
- Chúng con có 3 cháu, các cháu phải ở Việt Nam để đi học. Vợ chồng con sang đây chín năm rồi. Cô mua mở hàng hộ con. Cô lấy cái này đi, con lấy cô 150 Baht để mở hàng thôi. Bạc đấy cô ạ.
Tôi không hẳn muốn mua, nhưng thôi, 150 Baht là có 5 Đô, mua giúp cũng được. Tôi chọn 1 dây có ngôi sao nhỏ trông cũng hay hay, tiện tay đeo luôn vào cổ. Vừa lúc đó có thêm 2 người nữa cũng người Việt gốc Hải Phòng, cũng bán loại hàng này. Họ xúm lại làm quen tôi. Họ biết những người đến khách sạn này hầu hết là từ nước ngoài và sang đây để xin Visa vào Thái vì chỗ này gần tòa Đại Sứ Thái. Một người nói là vợ chồng anh có đứa con trai 12 tuổi học rất giỏi, anh chỉ mong cho con được đi ngoại quốc học, nếu tôi có thể nhận nuôi nó thì họ cho, không đòi hỏi điều kiện gì. Tôi cười. Làm sao được! Họ nghĩ giản dị thật, tội quá!
Họ bày hàng ra ngay trước cửa hàng ăn để mời chào người qua lại. Thì ra tối nào họ cũng bán ở đây đến đêm. Người Lào dễ tính, họ vẫn để cho buôn bán như vậy. Lát sau có đám khách ở khách sạn ra mua, họ chọn lựa, bàn tán, mà cả ồn ào, xem ra toàn là “con cháu bác” nói giọng “Hà Nội mới”,  không biết họ sang đây làm gì mà đông thế! Tôi xem họ bán một lúc rồi trở về phòng. Khi tôi vừa quay bước, chị bán hàng dặn với: “Khi nào nó đen thì cô cứ lấy chanh mà rửa là nó trắng ra đấy”!  Tôi cười. Bạc thật thì làm sao đen. (Đeo không bao lâu đã bị đen rồi và rửa chanh cũng vẫn thế thôi!).
Đổi Visa:
Sáng hôm sau tôi đến tòa đại sứ Thái để xin gia hạn Visa. Phải nộp giấy tờ và Passport trước buổi trưa để 1 giờ chiều hôm sau có thể lầy được. Tưởng là cũng được Visa 3 tháng như lần đầu nhưng họ lại đòi phải có Thư Mời mới của cơ quan tôi giúp mà tôi thì lại tưởng là vẫn làm việc cũ thì có thể dùng Thư Mời cũ! Thế có khờ không! Biết tôi sơ ý, họ đề nghị tôi lấy Visa du lịch 2 tháng rồi hết hạn sẽ lại xin thêm, tôi không có sự chọn lựa nào hơn nên đành đồng ý vậy!
Phải công nhận là nhân viên làm việc ở đây rất hòa nhã và tận tâm giúp đỡ mọi người. Nhìn quanh tôi thấy có hàng mấy trăm người đủ mọi quốc tịch ngồi chờ, vậy mà đến 12 giờ trưa họ đã làm xong. Tất cả đều được hẹn ngày mai trở lại sau 1 giờ để lấy Visa và Passport.
Đi xem Vạn Tượng
Thấy còn sớm nên tôi muốn đi chơi. Phương tiện di chuyển công cộng mà tôi thấy là xe Lam chở khách, ở Lào người ta gọi là xe Tuk Tuk. Xe nào cũng cũ kỹ chứ không đẹp như loại Tuk Tuk của Thái. Không biết là người địa phương đi thì giá cả thế nào nhưng với khách lạ thì họ đòi khá đắt, một quãng đường không xa lắm, nếu đi xe TukTuk ở Thái chỉ độ 3, 4 chục Baht thì ở Lào họ đòi cả trăm Baht.

Trước khi đi chơi, tôi hỏi thăm chủ khách sạn để biết những nơi đáng xem. Cũng không có nhiều, có hai ngôi chùa lớn, có Tháp Vàng (Thạt Luông), Victory Gate, sông Mekong và chợ đêm. Còn những nơi trình diễn văn nghệ thì vì có một mình,  tôi không đi nên không hỏi. Tôi thuê xe Tuk Tuk đi quanh thành phố và đến khu chợ đêm. Trên đường đi tôi có dịp quan sát phố phường Vạn Tượng. Đây là thủ đô của Lào nhưng nhỏ và bình thường hơn tôi tưởng! Thành phố như mới bắt đầu được mở mang. Cũng có một Shopping lớn, nhưng tôi chưa đi qua chỗ nào nguy nga sầm uất. Thỉnh thoảng có một dãy phố mới xây, những căn có tiệm bán hàng đã thấy đèn lồng treo lủng lẳng. Ở khu thương mại, tiệm nào to to cũng treo lồng đèn đỏ trước cửa trông như những tiệm của người Tàu.
Xe chở tôi đến khu chợ chiều. Chợ này bán đến đêm, được họp ngay trên khoảng sân lớn cạnh bờ sông Mekong. Đến nơi thì trời đổ mưa, vài quầy hàng vừa bày ra đã phải vội vã thu lại. Mua rào một lát thì tạnh nhưng trời còn âm u nên người ta không họp chợ.  Tôi xuống xe, leo lên mấy tầng cấp để xem sông Mekong nhưng chỉ thấy bờ cạn và rác rưởi, xa xa có vài người đang lụm cụm tìm tòi, có lẽ họ đang bắt sò bắt ốc, không có bóng dáng con thuyền nào. Bến đò ở chỗ khác chăng? Tôi thất vọng quay về, cả buổi chiều đi đây đi đó mà chả xem được gì cho đích đáng!
Hôm sau tôi đến Chùa Tháp Vàng  khoảng 10 giờ sáng. Phải mua vé vào cửa. Vào đến nơi mới biết là cả cửa tháp lẫn cửa chùa đều bị khóa, du khách mua vé chỉ được đi quanh sân xem bên ngoài! Dưới ánh mặt trời, trông Tháp Vàng cũng đẹp. Phía sau khuôn viên Tháp Vàng có 2 ngôi chùa mái cong, tất cả được sơn son thếp vàng rực rỡ, nhưng cả hai cửa đều khóa kín. Nhìn cửa tháp và cửa chùa bị khóa, tôi thắc mắc không hiểu bên trong có gì! Kể cũng lạ, những cái hay cái đẹp của cả một quốc gia mà sao họ lại không giới thiệu với du khách muốn thưởng lãm và tìm hiểu về văn hóa của nước họ nhỉ?
Tôi đi sang phía trái xem tượng Phật nằm trên bệ sen, tượng rất to và cũng được thiếp vàng lóng lánh. Tôi đi quanh ngắm cảnh chùa một lúc. Có lẽ là còn sớm nên người đến vãn cảnh rất thưa thớt, trong sân chùa chỉ có những người xếp hàng ra bán. Tôi thấy nhiều xập hàng nhỏ bán các thứ giống như những hàng xén hôm trước. Tôi dừng lại, lại tò mò ngắm nghía. Lần này những người bán hàng là người Lào, biết tiếng Việt đủ để trả lời mấy câu hỏi của tôi. Tôi nhìn thấy ngay những sợi dây chuyền giống y như cái tôi mua hôm trước. Thấy tôi chăm chú nhìn, cô bán hàng mời mua, giọng trọ trẹ:
- Mua cho cháu nhé. Có 50 Baht thôi.
Tôi hỏi lại:
- Có phải là bạc thật không?
Cô cười, trả lời khôn khéo:
- Cháu không biết.
Thì ra người Lào vẫn còn thật thà. Tôi đã bị “Con cháu bác Hồ” nói dối để bán đắt hơn gấp 3 lần! Chị ta nói dối không chút ngượng ngùng, sợ thật! 
Để an ủi cô bán hàng, tôi cũng mua vài thứ. Ra khỏi khuôn viên chùa, tôi bảo xe chạy qua Victory Gate, nhưng không xuống xem. Thấy còn sớm, tôi đề nghị đến chợ Tàu, hy vọng có thể tìm thấy cái gì mới lạ.
Chợ Tàu ở khá xa trung tâm thành phố, tất cả các gian hàng đều nằm trong một khu, hình như chỗ này mới làm xong vì còn rất nhiều gian bỏ chống, trông sơ sài, thiếu hẳn vẻ sầm uất của một trung tâm thương mại. Tôi đi quanh xem và thấy phần nhiều là hàng của Tàu, những thứ bán ở đây thì ở Mỹ cũng có và giá ở đây cũng không rẻ hơn là bao nhiêu. Tôi tìm mua hồng sâm Cao Ly mà không có. Có mấy gian hàng bán lụa và y phục của Thái, trông đẹp nhưng mà đắt. Không thấy có gì mua được, tôi thất vọng ra về.
Trên đường về, người lái xe chở tôi qua nhiều đường phố. Tôi thấy hầu như đường nào cũng có đền có chùa, cảnh vật êm đềm nhưng buồn. Tôi thắc mắc, không hiểu người Lào đi tu có thời hạn để tu thân hay là qui y luôn? Nếu người qui y nhiều thế thì quốc gia ít người này có còn đủ nhân lực để làm việc không? Có phải vì thế mà chỗ nào cũng thấy người Tàu người Việt? Có một điều tôi thấy rõ, là người Lào còn hiền lành và thật thà. Nghe chị bán hàng tối hôm trước nói là bây giờ Việt Nam và Lào chỉ là một mà tôi thấy tội nghiệp cho người Lào!
Trở về xứ Thái
Sau 1 giờ trưa tôi đến tòa Đại Sứ Thái Lan để lấy Visa rồi thuê xe đi qua biên giới để về Thái. Lần này thì tôi không còn dám đi xe lửa, theo người ta giới thiệu, tôi đi xe Bus VIP để trở về Bangkok. Xe chạy qua đêm, khoảng gần 6 giờ sáng đã đến Bangkok. Xe đến bến lúc trời chưa sáng hẳn. Tôi thuê xe Tuk Tuk, về đến nhà cũng gần 7 giờ sáng.
Kiểm điểm lại chuyến đi Lào thì dường như tôi không có thêm được kỷ niệm gì đáng nhớ. Máy ảnh tôi đánh rơi đã bị hỏng nên cũng không có 1 tấm hình nào. Có lẽ là vì tôi không chủ định đi du lịch chăng?

Một kinh nghiệm nho nhỏ
Bận rộn với công việc, tôi quên cả thời gian. Thấm thoát 2 tháng đã qua mau, mới đấy mà đã đến ngày phải gia hạn Visa nữa rồi. Tôi còn đang phân vân không biết lần này đi nước nào thì may sao tôi lại tìm ra là có thể gia hạn Visa du lịch ngay tại Bangkok. Mừng quá, tôi đến Sở Di Trú lo liền. Lần này phải đóng 1900 Baht và được gia hạn 1 tháng, tức là đến ngày 3 Sept 2012 là hết hạn. Tôi được biết có thể gia hạn Visa du lịch tại Bangkok một lần nữa, cũng phải đóng 1900 Baht nhưng chỉ được thêm có 7 ngày nữa thôi và nếu tôi làm thì ngày chót sẽ là ngày 10 tháng 9. Thế tức là tôi còn phải xin gia hạn thêm một lần nữa vì tôi về Mỹ sau ngày đó. Lại phiền rồi!
  
Đáng lẽ tôi phải nhớ ngày hết hạn Visa là ngày 3/9/2012 để xếp đặt mọi việc và mua vé về trước ngày đó, nhưng tôi đã vô ý mua vé về ngày 5/ 9/2012, rồi thay vì để bạn tôi sang chơi sớm hơn thì tôi lại nói đến cuối tháng 8 hãy sang vì tôi muốn làm xong việc mới đi chơi. Chúng tôi định đi chơi mấy tuần nên tôi đã đổi vé đến 18/9/2012 mới về. Hậu quả là đến ngày 3 tháng 9 này là tôi lại phải đi một nước nào đó để gia hạn Visa cho được ở lại Thái đến ngày đó. Lần này phải chọn nước nào để có thể đi du lịch một thể, đi đâu đây? Thôi để bà bạn tôi quyết định vậy.
Qua kinh nghiệm lần này, nếu còn xuất ngoại lâu tôi sẽ nhớ là phải tính trước mọi việc và mua vé về trước ngày Visa hết hạn để tránh những phiền toái và tốn kém không cần thiết. Không biết có ai dại như tôi không nhỉ?
                                                                      
        Tuyết Mai
        (Houston)

..........................................................
Fw: AI LÀ THẦY CỦA NGÀI ?
An Truong to:...,me
                                   AI LÀ THẦY CỦA NGÀI ?    
    Khi Hasan, một nhà hiền triết Hồi giáo sắp qua đời, có người hỏi ông:
    "Thưa Hasan, ai là thầy của ngài?"
    Hasan đáp: "Những người thầy của ta nhiều vô kể. Nếu điểm lại tên tuổi của các vị ấy hẳn sẽ mất hàng tháng, hàng năm, và như thế lại quá trễ vì thời gian của ta còn rất ít. Nhưng ta có thể kể về ba người thầy sau của ta.
    Người đầu tiên là một tên trộm. Có một lần ta đi lạc trong sa mạc, khi ta tìm đến được một khu làng thì trời đã rất khuya, mọi nhà đều đi ngủ cả. Nhưng cuối cùng ta cũng tìm thấy một người, ông ta đang khoét vách một căn nhà trong làng. Ta hỏi ông ta xem có thể tá túc ở đâu, ông ta trả lời:
      "Khuya khoắt thế này thật khó tìm chỗ nghỉ chân, ông có thể
    đến ở chỗ tôi nếu ông không ngại ở chung với một tên trộm."
    Người đàn ông ấy thật tuyệt vời. Ta đã nán lại đấy hẳn một tháng! Cứ mỗi đêm ông ta lại bảo: "Tôi đi làm đây. Ông ở nhà và cầu nguyện cho tôi nhé!" Mỗi khi ông ta trở về ta đều hỏi: "Có trộm được gì không?"
    và ông ta đều đáp: "Hôm nay thì chưa, nhưng ngày mai tôi sẽ cố, có thể lắm chứ". Ta chưa bao giờ thấy ông ta trong tình trạng tuyệt vọng, ông ta luôn hạnh phúc.
    Có lần ta đã suy ngẫm và suy ngẫm trong nhiều năm ròng để rồi không ngộ ra được một chân lý nào. Ta đã rơi vào tình trạng tuyệt vọng, tuyệt vọng đến nỗi ta nghĩ mình phải chấm dứt tất cả những điều vô nghĩa này. Ngay sau đấy ta chợt nhớ đến tên trộm, kẻ hằng đêm vẫn quả quyết:
      "Ngày mai tôi sẽ làm được, có thể lắm chứ!"
    Người thầy thứ hai là một con chó. Khi ta ra bờ sông uống nước, có một con chó xuất hiện. Nó cũng khát nước. Nhưng khi nhìn xuống dòng sông, nó thấy cái bóng của mình nhưng lại tưởng đó là một con chó khác.
    Hoảng sợ, nó tru lên và bỏ chạy. Nhưng rồi khát quá nó bèn quay trở lại. Cuối cùng, mặc nỗi sợ hãi trong lòng, nó nhảy xuống sông và cái bóng biến mất. Ta hiểu đây là một thông điệp đã được gửi đến cho ta:
      Con người phải biết chiến thắng nỗi sợ trong lòng bằng hành động.
    Người thầy cuối cùng là một đứa bé. Ta đến một thành phố nọ và thấy một đứa bé trên tay cầm một cây nến dã thắp sáng để đặt trong đền thờ. Ta hỏi đứa bé:
    "Con tự thắp cây nến này phải không?"
       Đứa bé đáp:
     "Thưa phải."
     Đoạn ta hỏi:
     "Lúc nãy nến chưa thắp sáng, nhưng chỉ một thoáng
    sau đã cháy sáng. Vậy con có biết ánh sáng từ đâu đến không?"
    Đứa bé cười to, thổi phụt ngọn nến và nói:
    "Ngài thấy ánh sáng đã biếnmất, vậy ngài bảo ánh sáng đã đi đâu?"
    Cái tôi ngạo nghễ của ta hoàn toàn sụp đổ, pho kiến thức kim cổ của ta cũng sụp đổ theo. Lúc ấy ta nghiệm ra sự dốt nát của bản thân. Và từ đó ta vất đi tất cả những tự hào về kiến thức của mình.
    Đúng là có thể nói ta không có một ai là thầy, nhưng điều này không có nghĩa ta không phải là một học trò. Ta xem vạn vật là thầy.
    Tinh thần học hỏi của ta luôn rộng mở hơn tất cả các người. Ta học hỏi từ tất cả mọi vật, từ cành cây ngọn cỏ đến đám mây trên trời kia.
    Ta không có một người thầy vì ta có hàng triệu triệu người thầy mà ta đã học được mỗi khi có thể. Điều thiết yếu trong cuộc sống là luôn làm một học trò.
     Điều này có nghĩa là gì?
    Nghĩa là có khả năng học hỏi, luôn sẵn sàng học để biết chấp nhận ý nghĩa của vạn vật.
    __._,_.___