Saturday, October 6, 2012

PHẠM HỒNG SƠN * HOA ĐỊA NGỤC



“Hoa địa ngục” và Đảng, Bác, Mác-Lê


Tháng 10 5, 2012
Phạm Hồng Sơn
Ông Nguyễn Chí Thiện, sinh năm 1939 tại Hà Nội, tác giả của tập thơ nổi tiếng Hoa địa ngục vừa qua đời ngày 02/10/2012 tại nước Mỹ. Những dòng sau đây xin được thay cho lời cầu nguyện tốt đẹp nhất tới linh hồn người quá cố và những bạn hữu, thân nhân và những người yêu quí ông.
Kể cả sau này khi thời thế đã thay đổi và Hoa địa ngục được xuất bản chính thức ở Việt Nam thì có thể vẫn có nhiều độc giả không thiện cảm với những từ ngữ thường quá bộc trực, cay đắng hay mang tính chửi thẳng của tác phẩm này. Nhưng nếu đặt những cảm xúc hoặc những hình thức thể hiện sang một bên thì không thể không thừa nhận Hoa địa ngục đã dám phê phán ba yếu tố – ba vấn đề – mà cho đến tận bây giờ không phải ai cũng nhận ra hoặc dám đụng đến, đó là: Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh tụ Hồ Chí Minh thường được gọi là “Bác” và chủ nghĩa Marx-Lenin.
Ngay năm 1959, trước khi vào tù lần thứ nhất và khi mới chỉ chớm tuổi 20, Hoa địa ngục[i] đã chĩa sự phê phán không úp mở vào đúng Đảng:
“Tôi thường đi qua phố
Có anh chàng mù, mắt như hai cái lỗ
Kính chẳng đeo, mồm thời xệch méo
Ngậm vào tiêu, cổ nổi gân lên
Dốc tàn hơi thổi đứt đoạn như rên
Mấy bài hát lăng nhăng ca ngợi Đảng
Đã mang lại Ấm no và Ánh sáng!”

(“Tôi thường đi qua”, 1959)
và bản chất gieo rắc cái ác của Đảng:
“Trên mảnh đất, Đảng gieo mầm tội lỗi!
Trong lành cũng phải tanh hôi!
Trẻ con chưa nứt mắt đã tù rồi!
Bạo lực đi về rất vội! “

(“Trên mảnh đất”, 1964)
Càng về sau, qua những lần tù càng dài thêm, sự phê phán và nhận thức về bản chất Đảng lại càng sâu hơn và, dĩ nhiên, gay gắt hơn:
“Không ai kêu nổi một lời
Mồm dân Đảng khóa đã mười mấy năm!”

(“Gửi Bertrand Russel”, 1968)
“Đảng bắt câm, bắt nói, bắt khóc, bắt cười
Bắt đói, bắt làm, hé răng oán thán
Là tù ngục mục xương độc đoán
Phải chăng đó giá công lao huyết hãn
Mấy ngàn ngày đánh Pháp những năm xưa”

(“Đồng lầy”, 1972)
“Đảng thực chất chỉ là Đảng cướp
Dựng triều đình mông muội giữa Văn minh
Sống tạm thời nhờ thủ đoạn yêu tinh,
Nhờ súng đạn Tàu, Nga, bắt bớ.”

(“Đảng”, 1973)
Và đây, Hoa địa ngục phác lên một hình ảnh toàn trị thu nhỏ của Đảng, kiểm soát hết các nhân quyền cơ bản:
“Nhà văn nhà báo
Nhà giáo nhà thơ
Nhà thờ nhà chùa
Đều sợ đều thua
Nhà tù – nhà Vua!
Chớ đùa với Đảng!”

(“Nhà văn”, 1980)
Còn về “Bác”, Hoa địa ngục đã đề cập nhiều lần trong nhiều giai đoạn khác nhau nhưng có thể nói bài “Không có gì quí hơn độc lập tự do” là bài điển hình cho cái nhìn tổng quát nhưng xuyên thấu qua mọi lớp vỏ tuyên truyền về Hồ Chí Minh hay của chính Hồ Chí Minh. Tuy nhiên nếu vẫn thành kiến về những đại từ nhân xưng như “thằng”, “nó”, “con” thì có thể có hơi khó khăn để đồng cảm được với sự bộc trực, tinh ý của Hoa địa ngục lúc mới có 29 tuổi:
“Không có gì quý hơn độc lập tự do
Tôi biết nó, thằng nói câu nói đó
Tôi biết nó, đồng bào miền Bắc này biết nó
Việc nó làm, tội nó phạm ra sao
Nó đầu tiên đem râu nó bện vào
Hình xác lão Mao lông lá
Bàn tay Nga đầy băng tuyết giá
Cũng nhoài qua lục địa Trung Hoa
Không phải xoa đầu mà túm tóc nó từ xa
Nó đứng không yên, tất bật, điên đầu
Lúc rụi vào Tàu, lúc rúc vào Nga
Nó gọi Tàu Nga là cha anh nó
Và tình nguyện làm con chó nhỏ
Xông xáo giữ nhà gác ngõ cho cha anh
Nó tận thu từ quả trứng, quả chanh
Học lối hung tàn của cha anh nó
Cuộc chiến tranh chết vợi hết thanh niên
đương diễn ra triền miên ghê gớm đó
Cũng là do Nga giật Tàu co
Tiếp nhiên liệu gây mồi cho nó
Súng, Tăng, Tên lửa, Tàu bay
Nếu không, nó đánh bằng tay?
Ôi đó, thứ độc lập không có gì quý hơn của nó!
Tôi biết rõ, đồng bào miền Bắc này biết rõ
Việc nó làm, tội nó phạm ra sao
Nó là tên trùm đao phủ năm nào
Hồi cải cách đã đem tù, đem bắn
Độ nửa triệu nông dân, rồi bảo là nhầm lẫn!

Mọi tầng lớp nhân dân bị cầm chân trên đất nó
Tự do, không thời hạn đi tù!
Mắt nó nhìn ai cũng hóa kẻ thù
Vì ai cũng đói món nhục nhằn cắn răng tạm nuốt
Hiếm có gia đình không có người bị nó cho đi suốt.
Đất nó thầm câm cũng chẳng được tha
Tất cả phải thành loa
Sa sả đêm ngày ngợi ca nó và Đảng nó
Đó là thứ tự do không có gì quý hơn của nó !
Ôi, Độc lập, Tự do !
Xưa cũng chỉ vì quý hai thứ đó
Đất Bắc mắc lừa mất vào tay nó
Nhưng nay mà vẫn có người mơ hồ nghe nó…”

(“Không có gì quí hơn độc lập tự do”, 1968)
Và chỉ bằng hai câu thôi, Hoa địa ngục đã có thể tóm gọn “Bác”:
“Bác Hồ chúng ta
Kịch gia xuất sắc”

(“Tên hề”, 1971)
Về chủ nghĩa Marx-Lenin tức chủ nghĩ cộng sản, điều đáng ngạc nhiên nếu không muốn nói là kinh ngạc, trong một hoàn cảnh ngặt nghèo thông tin, tuổi đời còn rất trẻ và chắc chắn không có nhiều thời gian để đi học hay tự đọc, vì đã phải liên tục đi tù, nhưng Hoa địa ngục ngay lúc chưa đầy 25 tuổi đã nhận ra sai lầm rất chính trị:
“Cuộc đời tôi có nhiều lầm lẫn
Lầm nơi, lầm lúc, lầm người
Nhưng cái lầm to uổng phí cả đời
Là đã ngốc nghe và tin Cộng sản!”

(“Mỗi lầm lỡ”, 1963)
Dường như năm tháng tù đày triền miên lại làm cho Hoa địa ngụcnhận thức sâu hơn chủ nghĩa Marx-Lenin về sự bất tương thích và hệ lụy của nó đối với dân tộc:
“Học thuyết Mác, một linh hồn u ám
Không gốc rễ gì trên mảnh đất ông cha
Mấy chục năm phá nước, phá nhà.”

(“Đồng lầy”, 1972)
Và đây Hoa địa ngục đã nói về chủ nghĩa Marx cách đây gần 40 năm mà lại gần giống như những gì ai đó mới lần đầu lên tiếng gần đây:
“Chủ nghĩa Mác chỉ là không tưởng
Trái với bản chất con người, reo rắc tai ương

Nếu cứ ngu si ôm mãi chủ nghĩa này
Nếu cứ thẳng tay bóp mãi dạ dầy
Đất nước nở mặt nở mày làm sao được nữa!
Dân tộc ta phải quăng ngay nó vào bếp lửa
Nồi cơm mới có thể mong đầy
Tự do, no ấm mới sum vầy”

(“Chủ nghĩa Mác”, 1984)
Có thể nói, so với tuổi đời của bản thân, Hoa địa ngục đã nhận thức được rất sớm và cũng dám phê phán bác bỏ rất sớm, mặc dù không hệ thống, về ba trụ cột chính của quyền lực cộng sản tại Việt Nam: Đảng, Bác, Marx-Lenin.
Nếu nhìn lại “Nhân văn-Giai phẩm” và “Xét lại chống Đảng”, những hoạt động và biến cố xảy ra gần trước và sau so với Hoa địa ngục, trong ánh sáng nhận thức về ba trụ cột đó thì lại thấy nhận thức củaHoa địa ngục còn sớm cả so với thời đại nữa. Trong “Nhân văn-Giai phẩm” đã có những tiếng nói, bài viết và thái độ bất ưng, phê phán sâu sắc về sự chà đạp nhân quyền cơ bản hay vấn đề pháp trị của Đảng và có thể có cả những phê phán ẩn dụ về lãnh tụ nữa nhưng tất cả vẫn còn hoàn toàn trên tinh thần chấp nhận Đảng, tránh xa vấn đề “Bác” và không hề đề cập đến Marx-Lenin. Ở “Xét lại chống Đảng” cũng tương tự, chỉ là không đồng ý với chính sách của Đảng lúc đó, còn về chủ nghĩa Marx-Lenin, Hồ Chí Minh và Đảng đều vẫn được tôn trọng – tinh thần này gần như vẫn được các cựu thành viên của các biến cố đó giữ nguyên cho đến tận gần cuối những năm 1990.
Nhìn lại bối cảnh khắc nghiệt, tăm tối của Hoa địa ngục cách đây gần nửa thế kỷ và thực trạng hôm nay còn rất nhiều bậc trí giả vẫn tự coi Đảng, Bác là những thứ húy kỵ, lại càng thấy cái ghê gớm nhất, đáng kính phục nhất của Hoa địa ngục: không phải là bản lĩnh tù đày, kiên gan trong cô đơn hay trường thơ tố cáo in trong trí nhớ, mà là sự nhìn ra sớm, nhìn thấy triệt để nhưng lại không giấu mọi người về cái Ác rất to lớn – cái Ác ở tầm quốc gia, dân tộc.
Hoa địa ngục đương nhiên phải chia tay trần thế nhưng chắc chắn không bao giờ phải đi về địa ngục.
© 2012 pro&contra

[i] Các bài thơ trích dẫn ở đây đến từ hai nguồn: Hoa địa ngụcThơ Nguyễn Chí Thiện





Thơ Nguyễn-Chí-Thiện (sắp theo thứ-tự thời-gian sáng-tác)

Posted on 03/10/2012 by Lê Thy

(sắp theo thứ tự thời gian sáng tác do Lê Thy sưu tầm.
Xin bấm trên tựa bài trong Mục-lục dưới đây để đọc)

  1. Tôi thường đi qua (1959)
  2. Nắng đã lên rồi (1961)
  3. Lạc giống đem trồng (1962)
  4. Mẹ tôi (1963)
  5. Có thể cô ta (1964)
  6. Thương đôi mắt (1964)
  7. Anh gặp em (1965)
  8. Cánh thơ (1965)
  9. Ðất này (1965)
  10. Xuất cơm tối (1966)
  11. Những thiếu nhi (1966)
  12. Anh có biết (1966)
  13. Xưa Lý Bạch (1967)
  14. Không một chỗ (1967)
  15. Từ vượn lên người (1967)
  16. Tôi là bạn (1967)
  17. Tôi có thể ăn (1968)
  18. Này Nã Phá Luân (1968)
  19. Toàn toán đan (1968)
  20. Gởi Bertrand Rút Xen (1968)
  21. Sao có thể sống (1968)
  22. Không có gì qúy hơn độc lập tự do(1968)
  23. Tôi nhắm mắt (1969)
  24. Những tâm hồn mơ ước (1970)
  25. Mùa Ðông (1970)
  26. Bác Hồ rồi lại….(1970)
  27. Bước theo nỗi buồn(1970)
  28. Thơ của tôi (1970)
  29. Một tay em trổ (1971)
  30. Những võ sĩ (1971)
  31. Tôi chưa sống (1971)
  32. Tôi không tiếc (1971)
  33. Lý tưởng (1971)
  34. Từ tư tưởng (1971)
  35. Ðất nước tôi (1971)
  36. Sẽ có một ngày (1971)
  37. Ðược nghe Bà (1972)
  38. Ðảng đầy tôi (1972)
  39. Ðồng lầy (1972)
  40. Từ trẻ tới già (1973)
  41. Thế lực Ðỏ (1973)
  42. Núi (1973)
  43. Tôi im lặng (1974)
  44. Miếng thịt lợn (1974)
  45. Hãy cho qua (1975)
  46. Cuộc chiến đấu nầy (1975)
  47. Khi Mỹ chạy (1975)
  48. Thơ của tôi (1975)
  49. Ðừng sợ (1975)
  50. Khi muối chát (1976)
  51. Trong bóng đêm (1976)
  52. Ðất thảm (1976)
  53. Nếu ai hỏi (1976)
  54. Ðói, Khổ, Nghèo (1978)
  55. Nắng chang chang (1978)
  56. Ði về đâu (1978)
  57. Bóng ai (1978)
  58. Lệnh tha (1979)
  59. Sự đày ải (1979)
  60. Ta hỏi Ngươi (1979)
  61. Nàng Thơ (1979)
  62. Nhà văn (1980)
  63. Con thành thi nhân (1980)
  64. Ðảng ta (1980)
  65. Bác Hồ (1981)
  66. Chuyện tù (1981)
  67. Tuyệt thực (1982)
  1. Nếu cỏ (1982)
  2. Con trâu (1982)
  3. Những nàng Kiều (1982)
  4. Triệu cuộc đời (1982)
  5. Tôi đã tiếp thu (1983)
  6. Lúc đầu (1983)
  7. Mấy cái đầu (1984)
  8. Chủ nghĩa Mác (1984)
  9. Ðón Xuân (1984)
  10. Ngày Tết (1984)
  11. Nhớ thủa còn (1984)
  12. Anh như cô hồn (1984)
  13. Lâu lắm rồi (1985)
  14. Có tiếng còi tàu (1985)
  15. Nàng Thơ (1985)
  16. Tù lao thăm thẳm (1986)
  17. Trái tim hồng (1986)
  18. Người cao (1986)
  19. Ta nhớ (1986)
  20. Nhìn suất cơm (1987)
  21. Tù ăn chay (1987)
  22. Tù ăn đủ thứ (1987)
  23. Ta muốn (1987)
  24. Có những con thuyền (1987)
  25. Một đêm thức (1987)
  26. Ðất nước (1988)
  27. Nhà thơ ơi (1988)
  28. Văn là (1988)
  29. Ai đếm
  30. Trên khoảng trời xanh
  31. Cửa vào tim
  32. Tù chính trị
  33. Buồng tim chế độ
  34. Giật mình
  35. Trại khổ sai
  36. Chị tôi
  37. Hoa Ðịa Ngục
  38. Hoa độc
  39. Tiếng vọng từ đáy vực
  40. Hũ gạo
  41. Có những con đường
  42. Cây
  43. Nhớ
  44. Ðoàn Tụ
  45. Chia Lìa
  46. Trơ trọi
  47. Giả thử
  48. Chó đói
  49. Lòng xưa
  50. Tàn tắt
  51. Trôi về đâu
  52. Cộng sản
  53. Kẻ khát
  54. Hoả lò
  55. Hoả lò
  56. Tên hề
  57. Thần Hổ
  58. Cắt dạ dày
  59. Nhũng mảnh mộng tình
  60. Hồng vân
  61. Con tàu thơ
  62. Hờn căm
  63. Bóng hồng dương thế
  64. Bàn tay nhăn nheo
  65. Thiêu thân
  66. Trời mơ
  67. Ðảng
  68. Người và Chó

TÔI THƯỜNG ÐI QUA
Tôi thường đi qua phố
Có anh chàng mù, mắt như hai cái lỗ
Kính chẳng đeo, mồm thời xệch méo
Ngậm vào tiêu, cổ nổi gân lên
Dốc tàn hơi thổi đứt đoạn như rên
Mấy bài hát lăng nhăng ca ngợi Ðảng
Ðã mang lại Ấm no và Ánh sáng!
Một buổi sớm anh hình như choáng váng
Gục xuống đường tiêu rớt sang bên
Tôi vội vàng chạy lại đỡ anh lên
Anh chỉ khẽ rên: Trời, đói quá!
(1959)
NẮNG ÐÃ LÊN RỒI
Nắng đã lên rồi, hè đã sang
Trước sân yên tĩnh bóng cây bàng
Anh em tù phạm đem chăn áo
Phơi khắp sân và giây thép cao
Quần áo chăn màn tuy chẳng mới
Phần đông rách và mầu bạc phai
Nhưng những con người trong khổ ải
Trầm ngâm ve vuốt, lo ngày mai
Bỗng dưng tôi thấy lòng bồi hồi
Vì tôi nghĩ tới ngày tháng trôi
Và vì những thứ phơi trong nắng
Là cả đông buồn trước mắt tôi
(1961)
LẠC GIỐNG ÐEM TRỒNG

Lạc giống đem trồng trộn lẫn tro phân
Ðể tránh tù ăn, nhưng vô tác dụng
Trộn D. D. T thử xem dám đụng ?
Kết quả là đớp vụng hàng cân !
Ngấm thuốc lạc giống không nẩy một nhân
Ðảng đã hoàn thành kế hoạch Ðông Xuân !
(1962)

MẸ TÔI
Mẹ tôi trong những ngày giỗ chạp
Thường ngồi chắp tay cầu khấn giờ lâu
Chiếc áo hoa hiên cũ đã bạc màu
Tôi chỉ thấy mẹ dùng khi lễ bái
Ðời của tôi nhiều khổ đau oan trái
Mẹ bao giờ cũng cầu nguyện cho tôi
Ðứa con trai tù tội mấy phen rồi
Hàng nước mắt chảy dài trên má mẹ
Ngồi bên mẹ, tôi thấy mình nhỏ bé
Tình thương yêu của mẹ lớn bao nhiêu
Mẹ ơi, con lòng chỉ nguyện một điều
Ðược gần sống, đừng lìa xa khỏi mẹ!
Giờ hẳn mẹ mỗi khi ngồi cầu lễ
Cho đứa con tù bệnh chốn rừng sâu
Chiếc áo hoa hiên cũ đã bạc màu
Phải đẫm ướt biết bao hàng nước lệ!
(1963)

CÓ THỂ CÔ TA
Có thể cô ta là người trong sách
Và hình như đã hiểu tôi nhiều
Biết đâu rồi, tôi chẳng được yêu
Yêu tha thiết, chân thành, trong sạch
Từ buổi đó, tháng ngày tôi cọc cạch
Ðạp chiếc xe tàng tới hiệu cô ta
Mua con tem, thiếp giấy gọi là
Tiền chẳng có, gia đình tôi thanh bạch
Song mấy năm rồi tôi chỉ là người khách
Chung thủy, hơi buồn, chẳng nói bao nhiêu
Hình ảnh cô ta như áng mây chiều.
Gợi thương nhớ mơ hồ, xa cách
(1964)

THƯƠNG ÐÔI MẮT
Thương đôi mắt không dám nhìn cái đẹp
Sợ rằng cái đẹp không vui!
Ðôi mắt sẽ ngượng ngùng cúi xuống
Bàn chân thầm lặng quay đi……
Ðôi mắt Trương Chi
Ðôi mắt sinh ra đã nhìn đáy nước
Nấm mồ định trước, xanh trong…
Năm tháng xuôi giòng…lãnh đạm
(1964)

ANH GẶP EM
Anh gặp em trong bốn bức rào dầy
Má gầy, mắt trũng
Phổi em lao, chân em phù thũng
Gió lạnh từng cơn rú qua thung lũng.
Em ngồi run, ôm ngực còm nhom
Y sĩ công an nhìn em, thôi nạt nộ om sòm.
Em ngồi lọt thỏm
Giữa bọn người vàng bủng co ro
Những tiếng ho
Những cục đờm mầu
Mớ tóc rối đầu em rũ xuống
Mình em, teo nhỏ, lõa lồ…
Em có gì đâu mà em xấu hổ!
Em là đau khổ hiện thân
Ngấn lệ đêm qua còn dấu hoen nhòa
Trên gò má tái
Trong lòng anh bấy lâu nay xám lại.
Nhìn em, lệ muốn chảy dài
Anh nắm chặt bàn tay em hơi rụt lại
Em nhìn anh, mắt đen, tròn, trẻ dại
Nước da xanh mái thoáng ửng mầu
Trong quãng đời tù phiêu dạt bấy lâu
Ðau ốm một mình tội thân em quá!
Chắc đã nhiều đêm em khóc như đêm qua
Khóc mẹ, khóc nhà.
Khóc buổi rời miền Nam thơ ấu
Chân trời hun hút nay đâu?
Rồi đây, khi nằm dưới đất sâu.
Em sẽ hiểu một điều
Là đời em ở trên mặt đất
Ðất nước đè em nặng chĩu hơn nhiều!
Nhưng nghĩ lúc thân mình bó trong manh chiếu
Anh biết lòng em kinh hãi hơn ai
Khi gió bấc ào qua vách ải
Những manh áo vải
Tả tơi
Vật vã
Vào thịt da..
Em có lạnh lắm không?
Mưa gió mênh mông
Thung lũng sũng nước bùn
Bệnh xá mối đùn,ẩm mốc
Những khuôn mặt xanh vàng gầy dộc
Nhìn nhau, đờ đẫn, không lời.
Nhát nhát em ho
Từng miếng phổi tung rời
Bọt sùi, đỏ thắm!
Em chắc oán đời em nhiều lắm.
Oán con tàu tập kết Ba Lan
Trên sóng năm nào
Ðảo chao
Ðưa em rời miền Nam chói nắng..
Sớm qua ngồi, tay em anh nắm
Muốn truyền cho nhau chút tình lửa ấm.
Mặc bao ngăn cấm đê hèn
Sáng nay em không trống không kèn
Giã từ cuộc sống
Xác em rấp trên đồi cao gió lộng.
Hồn anh trống rỗng, tả tơi…
(1965)

CÁNH THƠ
Ôi cánh thơ nhẹ nhàng là thế
Mà sao sợ hãi giam cầm?
Bởi cánh thơ chỉ là cánh chim,
nhưng cánh chim báo bão
Lại không phải bão thông thường,
mà bão trong tim
(1965)

ÐẤT NÀY
Ðất này chẳng có niềm vui
Ngày quệt mồ hôi, đêm chùi lệ ướt
Trại lính, trại tù, người đi không ngớt
Người về thưa thớt dăm ba
Trẻ con đói xanh như tàu lá
Cày bừa phụ nữ đảm đang
Chốn thôn trang vắng bóng trai làng
Giấy báo tử rơi đầy mái rạ
Buồn tất cả
Chỉ cái loa là vui!
(1965)
XUẤT CƠM TÔI
Xuất cơm tôi một hôm đánh đổ
Tôi còn đương đau khổ nhìn theo
Thì nhanh như một đàn heo
Bốn, năm, đầu bạc dẫm trèo lên nhau
Bốc ăn một loáng sạch làu
Miếng cơm, miếng đất, lầu bầu chửi nhau!
(1966)

NHỮNG THIẾU NHI
Những thiếu nhi điển hình chế độ
Thuở mới đi tù trông thật ngộ!
Lon xon không phải mặc quần
Chiếc áo tù dài phủ kín chân
Giờ thấm thoát mười xuân đã lớn
Mặt mũi vêu vao, tính tình hung tợn
Mở miệng là chửi bới chẳng từ ai
Có thể giết người vì củ sắn củ khoai!
(1966)

ANH CÓ BIẾT
Anh có biết giữa lao tù cay đắng
Rét không quần, không áo, đập hàm răng
Ðói xương sườn, xương sống chồi căng
Ốm không thuốc thân tàn xem khó thắng
Tôi vẫn có những đêm dài thức trắng
Tạo vần thơ câm lặng, anh ơi !
(1966)

XƯA LÝ BẠCH
Xưa Lý Bạch ngẩng đầu nhìn trăng sáng
Rồi cúi đầu thương nhớ quê hương
Nay tôi ngẩng đầu nhìn nhện giăng bụi bám
Cúi đầu giết rệp nhặt cơm vương
Lý Bạch rượu say gác lên bụng vua Ðường
Tôi đói lả gác lên cùm rỉ xám
Lý Bạch sống thời độc tôn u ám
Phong kiến bạo tàn chưa có tự do
Tôi sống thời cộng sản ấm no
Hạnh phúc tự do, thiên đường mặt đất
Rủi Lý Bạch, mà may tôi thật!
(1967)

KHÔNG MỘT CHỖ
Không một chỗ trên con tầu quả đất
Tôi là người hành khách bơ vơ
Lỡ chuyến, lầm ga, mất cắp, bây giờ
Ðứng chen chúc trên sàn toa bẩn nhất
Sàn một toa đen dành cho súc vật
(1967)

TỪ VƯỢN LÊN NGƯỜI
Từ vượn lên người mất mấy triệu năm
Từ người xuống vượn mất bao năm?
Xin mời thế giới tới thăm
Những trại tập trung núi rừng sâu thẳm!
Tù nhân ở truồng từng bầy đứng tắm
Rệp muỗi ăn nằm hôi hám tối tăm
Khoai sắn tranh giành cùm, bắn, chém, băm
Ðánh đập tha hồ, chết quăng chuột gặm!
Loài vượn này không nhanh mà rất chậm
Khác vượn thời tiền sử xa xăm
Chúng đói chúng gầy như những cái tăm
Và làm ra của cải quanh năm.
Xin mời thế giới tới thăm!
(1967)
TÔI LÀ BẠN
Tôi là bạn của cô gái đĩ
Ế khách ngồi ngủ gật ở vườn hoa
Tôi chẳng có gì an ủi cô ta
Ngoài tình cảm chan hòa và không khinh bỉ
Tôi là anh của những em nhỏ tí
Xó chợ đầu đường, ăn cắp vặt nuôi thân
Bé tí hon mà tù tội bao lần
Miệng tục tĩu, hồn như trang giấy trắng!
Tôi là con lão ăn mày cay đắng
Không gia đình, tàn phế lắt lay
Mời lão xơi một bữa rượu thực say
Nghe lão khóc kể những ngày xa cũ
Tôi, tóm lại, là trái tim ủ rũ
Thông cảm với nhiều số phận bùn đen
Vì chính tôi, tôi là gã nhiều phen
Khổ đói, lao tù, nhục khinh nếm đủ!
(1967)
TÔI CÓ THỂ ĂN
Tôi có thể ăn vài cân sắn sống
Ngon lành như nhai kẹo xô-cô-la!
Bạn phục tôi tài hơn cả lợn là?
Tôi đương sống trong nhà giam Việt- Cộng!
* * *
Mùa đông rét, ào ào gió lộng.
Ðứng ngâm mình vớt nứa giữa giòng sông
Bạn tưởng tôi xương sắt, da đồng?
Tôi đương sống trong nhà giam Việt Cộng!
* * *
Chỗ tôi nằm sáu mươi phân chiếu rộng
Hai người bên, một hủi, một ho lao.
Bạn bảo tôi còn biết làm sao?
Tôi đương sống trong nhà giam Việt Cộng!
(1968)
NÀY NÃ -PHÁ-LUÂN
Này Nã- Phá – Luân, này César
Sao nỡ đẩy bạn các con ngã thế!
Mẹ sợ lắm cái trò chơi hoàng đế
Mà các con thời quá say mê
Chẳng thương các mẹ già
Lệ rơi thấm đá !
(1968)
TOÀN TOÁN ÐAN
Toàn toán đan đôi, chất chồng một xó
Sàn dưới, sàn trên như hấp như nung
Bị lèn như trong một chiếc cạp lồng
Hơi đất hơi người bốc lên, thở khó!
Quần áo nồng hơi giăng đầy đây đó
Muỗi rệp tung hoành, chuột gián lông nhông
Mùi hố tiêu, hố tiểu cùng xông
Hủi, suyễn, ho lao, điên rồ, náo động!
Cứ như thế lui lần sự sống
Cứ như thế rụng dần từng mống…
(1968)

GỬI BERTRAND RÚT-XEN
Ông là một bậc triết nhân
Nhưng về chính trị ông đần làm sao
Ông bênh Việt Cộng ồn ào
Nhưng ông hiểu chúng tị nào cho cam
Mời ông tới Bắc Việt Nam
Xem nô lệ đói phải làm ra sao
Mời ông tới các nhà lao
Xem bò, lợn được đề cao hơn người
Không ai kêu nổi một lời
Mồm dân Ðảng khóa đã mười mấy năm!
Xem rồi ông mới hờn căm
Muốn đem bọn chúng ra băm ra vằm
Tuổi ông ngót nghét một trăm
Nhưng thua cậu bé mười lăm đói gầy
Về môn ” Cộng sản học” này!
(1968)

SAO CÓ THỂ SỐNG
Sao có thể sống thế này được mãi?
Hiện tại hung tàn đâm suốt tương lai
Quá khứ là chi? Một chuỗi ngày dài
Bị sắt thép nghiền tan, thảm hại!
* * *
Là võ sĩ đời treo găng mãi mãi
Ngay từ khi chưa kịp bước lên đài
Bị Mác Lê ập lại đánh thua dài
Nằm đo ván trong mưa rầu nắng dãi!
* * *
Là thi sĩ có hồn thơ khắc khoải
Có cuộc đời hạnh phúc sớm ly khai
Có niềm tin nát vụn ở ngày mai
Có tù, bệnh cặp kè nhau hủy hoại
* * *
Tôi sống mãi những ngày quằn quại
Những ngày khao khát sắn và khoai
Những ngày chôn sống cả đời trai
Trừ khí khái, tình thương, lẽ phải !
(1968)

KHÔNG CÓ GÌ QUÝ HƠN
ÐỘC LẬP TỰ DO
Không có gì quý hơn độc lập tự do
Tôi biết nó, thằng nói câu nói đó
Tôi biết nó, đồng bào miền Bắc này biết nó
Việc nó làm, tội nó phạm ra sao
Nó đầu tiên đem râu nó bện vào
Hình xác lão Mao lông lá
Bàn tay Nga đầy băng tuyết giá
Cũng nhoài qua lục địa Trung Hoa
Không phải xoa đầu mà túm tóc nó từ xa
Nó đứng không yên, tất bật, điên đầu
Lúc rụi vào Tàu, lúc rúc vào Nga
Nó gọi Tàu Nga là cha anh nó
Và tình nguyện làm con chó nhỏ
Xông xáo giữ nhà gác ngõ cho cha anh
Nó tận thu từ quả trứng, quả chanh
Học lối hung tàn của cha anh nó
Cuộc chiến tranh chết vợi hết thanh niên
đương diễn ra triền miên ghê gớm đó
Cũng là do Nga giật Tàu co
Tiếp nhiên liệu gây mồi cho nó
Súng, Tăng, Tên lửa, Tàu bay
Nếu không, nó đánh bằng tay?
Ôi đó, thứ độc lập không có gì quý hơn của nó!
Tôi biết rõ, đồng bào miền Bắc này biết rõ
Việc nó làm, tội nó phạm ra sao
Nó là tên trùm đao phủ năm nào
Hồi cải cách đã đem tù, đem bắn
Ðộ nửa triệu nông dân, rồi bảo là nhầm lẫn!
Ðường nó đi trùng điệp bất nhân
Hầm hập trời đêm nguyên thủy
Ðói khổ dựng cờ đại súy
Con cá lá rau nhát nhầu quản lý
Tiếng thớt, tiếng dao vọng từ hồi ký
Tiếng thở, lời than đan họa ụp vào thân
Nó tập trung hàng chục vạn ngụy quân
Nạn nhân của đường lối ” khoan hồng chí nhân” của nó.
Mọi tầng lớp nhân dân bị cầm chân trên đất nó
Tự do, không thời hạn đi tù!
Mắt nó nhìn ai cũng hóa kẻ thù
Vì ai cũng đói món nhục nhằn cắn răng tạm nuốt
Hiếm có gia đình không có người bị nó cho đi suốt.
Ðất nó thầm câm cũng chẳng được tha
Tất cả phải thành loa
Sa sả đêm ngày ngợi ca nó và Ðảng nó
Ðó là thứ tự do không có gì quý hơn của nó !
Ôi, Ðộc lập, Tự do !
Xưa cũng chỉ vì quý hai thứ đó
Ðất Bắc mắc lừa mất vào tay nó
Nhưng nay mà vẫn có người mơ hồ nghe nó
Nó mới vạn lần cần nguyền rủa thực to!
(1968)

TÔI NHẮM MẮT
Tôi nhắm mắt nằm yên, không ngủ
Kẻng báo rền vang, sáng tự bao giờ
Tôi nằm yên, không nghĩ ngợi, không mơ
Mà lịm chết trong bóng mờ ủ rũ
Bóng mẹ cha già đớn đau hóa mụ
Ðêm tối mênh mông đốm lửa vật vờ
Bóng cuộc đời tôi lặng vắng như tờ
Thất thểu, bơ vơ, khóc cười lỡ dở
Bóng nhợt xám vài mối tình khổ sở
Lảo đảo đi về, tuyệt vọng, âm u
Bóng hình tôi ho ra máu, lưng gù
Mở mắt ra : sừng sững bóng trại tù
(1969)

NHỮNG TÂM HỒN MƠ ƯỚC
Tôi đã biết những tâm hồn mơ ước
Hóa oan hồn, không siêu thoát lang thang
Dưới bóng cờ ma máu lửa đỏ vàng
Rên xiết đau thương, giận hờn đất nước
(1970)
MÙA ÐÔNG
Mùa Ðông ập tới đêm rừng giá
Gió bấc mưa dầm lướt thướt qua
Củ khoai hà dím thành vô giá
Bệnh cũ âm thầm lại phát ra
Lũ tôi đã đoán bao người ngã
Trong vụ đông này khó đứng qua
Thân xác hình như nan cốt mã
Mong cầu Ðông giá nới tay tha !
(1970)
BÁC HỒ RỒI LẠI
Bác Hồ rồi lại Bác Tôn!
Cả hai đều thích ôm hôn nhi đồng
Nước da hai bác màu hồng
Nước da các cháu nhi đồng màu xanh
Giữa hai cái mặt bành bành
Những khăn quàng đỏ bay quanh cổ cò!
(1970)
BƯỚC THEO NỖI BUỒN
Bước theo nỗi buồn, vĩnh biệt niềm vui
Hành trang có mồ hôi đất bụi
Chút tiền vốn_ thơ và mơ- nhẵn túi
Xó toa đen thôi chịu khó quen mùi
Chuyến xe đời lửa đỏ táp qua mui
Ðâu vũ bão xoay vần sông với núi?
(1970)
THƠ CỦA TÔI
Thơ của tôi không phải là thơ
Mà là tiếng cuộc đời nức nở
Tiếng cửa nhà giam ngòm đen khép mở
Tiếng khò khè hai là phổi hang sơ
Tiếng đất vùi đổ xuống lấp niềm mơ
Tiếng khai quật cuốc đào lên nỗi nhớ
Tiếng răng lạnh đập vào nhau khổ sở
Tiếng dạ dày đói lả bóp bâng quơ
Tiếng tim buồn thoi thóp đập bơ vơ
Tiếng bất lực trước muôn ngàn sụp lở
Toàn tiếng của cuộc đời sống dở
Và chết thời cũng dở, phải đâu thơ!
(1970)
MỘT TAY EM TRỔ
Một tay em trổ: Ðời xua đuổi
Một tay em trổ: Hận vô bờ
Thế giới ơi, người có thể ngờ
Ðó là một tù nhân tám tuổi!
Trên bước đường tù tôi rong ruổi
Tôi gặp hàng ngàn em bé như em!
(1971)
NHỮNG VÕ SĨ
Những võ sĩ tài ba tuyệt đích
Ðể luyện rèn đau đớn nề chi
Hóa thân thành bị cát vô tri
Ðể sau đó hóa thành vô địch
Nghề văn sĩ giống y nghề võ sĩ
Muốn nên tài cần phải chịu đòn đau
Những cú vào tim, những cú nhiệm màu
Giúp cho nó đập ra tình ra ý
(1971)
TÔI CHƯA SỐNG
Tôi chưa sống cuộc đời tôi định sống
Tôi còn yêu bao giấc mộng thương yêu!
Philippovna, Marguerite, Thúy Kiều
Chiều Mạc Tư Khoa, nắng lòa đất thánh
Ðêm Danube nước trời sao lấp lánh
Ánh niềm vui trong hốc mắt người thân
Những vần thơ trong lao ngục nhục nhằn
Những khoản chót sâu vào tim óc khắc
Những khoản lớn lên là tôi đã mắc
Ước mong gì trang trả nữa anh ơi!
(1971)
TÔI KHÔNG TIẾC
Tôi không tiếc khi bị đời sa thải
Thân thể vùi tan rữa, hóa bùn đen
Nhưng vần thơ trong đêm tối đê hèn
Cùng rệp muỗi viết ra mà bị mất
Tôi sẽ tiếc, khóc âm thầm trong đất
(1971)
LÝ TƯỞNG
Lý tưởng, quang vinh, mộng tình, lẽ sống
Chuyện trên trời dưới biển xa xôi!
Thú thực là dân đói chúng tôi
Chỉ mơ ước được no bằng con vật
Vì giấc mơ được làm con người đã mênh mông
không thành sự thật
Lại rũ tù cả lũ như chơi!
Gạo, sắn, ngô, khoai- Tứ chướng trên đời
Quấn chặt, rối bời, điêu đứng!
(1971)
TỪ TƯ TƯỞNG
Từ tư tưởng bước sang hành động
Phải có cầu ngôn ngữ giao thông
Trên giòng sông chuyên chính mênh mông
Ðừng nghĩ chuyện xây cầu bắc cống!
Song ngôn ngữ ngày đêm vẫn sống
Âm thầm đưa tư tưởng sang sông
Qua muôn trùng hệ thống xiềng gông
Ðảng ra sức dựng thay cầu cống
Thoát khỏi đầu là tư tưởng sống
Sẽ có ngày tạo những kỳ công!
(1971)
ÐẤT NƯỚC TÔI
Ðất nước tôi yếu nghèo bé nhỏ
Lại chịu toàn tai họa quá to
Ðồng bào tôi sống yên lành như thỏ
Cũng mỏi mòn tù ngục nằm co
Các loại mồ hôi đều chảy vào kho
Máu nhuộm cờ, hoa trưng bày đây đó
Mắt địa cầu cận thị lòi to
Lệ cứ tha hồ lụt nhỏ
Miễn là mùi xoa thay thành cờ đỏ
Vẫy mừng bọn cướp tự do
Ðạo mạo, thung dung trên tàn tro xương xọ
Tôi không nhớ hết tên bọn nó
Duẩn, Giáp, Hồ Hề, Chinh Xu gì đó !
(1971)
SẼ CÓ MỘT NGÀY
Sẽ có một ngày con người hôm nay
Vất súng, vất cùm, vất cờ, vất Ðảng
Ðội lại khăn tang, đêm tàn ngày rạng
Quay ngang vòng nạng oan khiên
Về với miếu đường, mồ mả gia tiên
Mấy chục năm trời bức bách lãng quên
Bao hận thù độc địa dấy lên
Theo hương khói êm lan, tan về cao rộng
Tất cả bị lùa qua cơn ác mộng
Kẻ lọc lừa, kẻ bạo lực xô chân
Sống sót về đây an nhờ phúc phận
Trong buổi đoàn viên huynh đệ tương thân
Ðứng bên nhau trên mất mát quây quần.
Kẻ bùi ngùi hối hận
Kẻ bồi hồi kính cẩn
Ðặt vòng hoa tái ngộ lên mộ cha ông
Khai sáng kỷ nguyên tả trắng thắng cờ hồng!
Tiếng sáo mục đồng êm ả
Tình quê tha thiết ngân nga
Thay tiếng ” Tiến quân ca”
Và Quốc tế ca
Là tiếng sáo diều trên trời xanh bao la!
(1971)
ÐƯỢC NGHE BÀ
Ðược nghe bà kể khổ
Con thấy đời con thật là đáng chết!
Con đã đi bóc lột để nuôi bà
Con bây giờ không dám nhận là cha
Dù bà là do con đẻ ra
Con, thành phần địa chủ thối tha
Trước Nhân dân, trước Ðảng, trước bà
Xin thành khẩn cúi đầu chịu tội!
Ðó là lời một cụ đồ ở ngoại thành Hà nội
Trước đấu trường giăng giối với con
(1972)
ÐẢNG ÐẦY TÔI
Ðảng đầy tôi trong rừng
Mong tôi xác bón từng gốc sắn
Tôi hóa thành người săn bắn
Và trở ra đầy ngọc rắn, sừng tê
Ðảng dìm tôi xuống bể
Mong tôi đáy nước chìm sâu
Tôi hóa thành người thợ lặn
Và nổi lên ngời sáng ngọc châu
Ðảng vùi tôi trong đất nâu
Mong tôi hóa bùn đen dưới đó
Tôi hóa thành người thợ mỏ
Và đào lên quặng quý từng kho
Không phải quặng kim cương hay quặng
vàng chế đồ nữ trang xinh nhỏ.
Mà quặng uranium chế bom nguyên tử
(1972)
ĐỒNG LẦY
Ngày ấy, tuy xa mà như còn đấy
Tuổi hai mươi, tuổi bước vào đời
Hồn lộng cao, gió thổi chơi vơi
Bốn phía bao la chỉ thấy
Chân mây, rộng mới tuyệt vời.!
Ngất ngây, làm sao ngờ tới.
Bùn đọng hồ ao mạn dưới phục chờ!
Tuổi hai mươi tuổi của không ngờ.
Không sợ!
Viễn vông đẹp tựa bài thơ
Mơ ước
Ðợi chờ
Vĩ đại.
Nhưng rồi một sớm đầu thu mùa thu trở lại
Tuổi hai mươi mắt nhìn đời trẻ dại
Ngỡ cờ sao rực rỡ.
Tô thắm màu xứ sở yêu thương
Có ngờ đâu giáo giở đã lên đường.
Hung bạo phá bờ kim cổ.
Tiếng mối giường rung đổ chuyển non sông.
Mặt trời sự sống.
Thổ ra từng vũng máu hồng.
Ôi tiếc thương bao mùa lúa vun trồng.
Một mùa thu nước lũ.
Trở thành bùn nước mênh mông
Lớp lớp sóng hồng man dại.
Chìm trôi quá khứ tương lai.
Máu,lệ, mồ hôi, rớt rãi
Ði về ai nhận ra ai!
Khiếp sợ, sững sợ, tê dại!
Lịch sử quay tít vòng ngược lại
Thời hùm beo rắn rết công khai
Ngàn vạn đấu trường mọc dậy giữa ban mai
Ðúng lúc đất trời nhợt nhạt
Bọn giết người giảo hoạt.
Nâng cốc mừng thắng lợi liên hoan.
Ðiệu nhạc cơ hàn thăm thẳm miên man.
Ðiệp khúc lìa tan thúc dục
Ngục tù cất bước oan khiên.
Thành thị thôn quê sơn hải trăm miền.
Hội tụ!
Bãi sú, bờ lau, rừng rú.
Thây người vun bón nuôi cây.
Ðạo lý tối cao của xứ đồng lầy.
Là lừa thầy phản bạn
Và tuyệt đối trung thành vô hạn.
Với Ðảng, với Ðoàn, với lãnh tụ thiêng liêng.
Hạt thóc, hạt ngô phút hóa xích xiềng.
Họa phúc toàn quyền của Ðảng.
Dần dà năm tháng.
Mắt ngả vàng, da sắc xám
Ði về ai nhận ra ai?
Ôi, ngàn hoa run tái!
Ðáng thương giữa chốn đồng lầy.
Sậy úa lau gầy,lạc loài thảm hại
Rồi đây, khi mặt trời thức dậy.
Chắc là hoa đã tàn phai.
Chẳng còn được thấy!
Tôi vẫn ngồi yên mơ màng như vậy
Mặc cho đàn muỗi quấy rầy.
Bóng tối lan đầy khắp lối.
Không còn phân biệt nổi.
Trâu hay người lặn lội phía bờ xa.
Gai ốc nổi trên da
Cái họa áo cơm không chừa ai hết!
Buồn nghĩ tới chuyện xưa thần chết.
Cùng lão tiều đốn cũi già nua.
Tôi ngước trông xem có một ngôi chùa.
Ngôi chùa đã trở thành huyễn mộng.
Con ác điểu hoài nghi xù đôi cánh rộng.
Truy lùng mồ mả cha ông.
Thánh thất miếu đường xáo động.
Con thuyền chở đạo nghiêng trao.
Sóng gió thét gào, man rợ.
Tiếng sinh sinh nức nở, âm thầm.
Mặt đất tím bầm, tiết đọng.
Lá cờ lật lọng.
Nhân buổi dương tàn âm thịnh cao bay!
Thần tượng cuồng quay, hình thay lốt rũ
Hang Pắc Bó hóa thành hang ác thú.
Bác Hồ già hóa dạng bác Hồ Ly.
Ðôi dép lốp nặng bằng trăm đôi dép sắt.
Bộ kaki vàng vàng như mắt dân đen.
Quỷ quái, đê hèn lừa đảo!
Gia tài tra khảo cướp trơn tay.
Từ buổi quỷ vương hớn hở mặt mày.
Ðứng trước Ðảng kỳ trịnh trọng.
Ðọc lời khai mạc thuở hoang sơ.
Tụ tập đảng viên đại hội dưới cờ.
Nguyện đem cuộc đời hơi thở.
Ðạp bằng, phá vỡ.
Ngàn năm văn hiến ông cha.
Ảo vọng dựng lên một thứ sơn hà.
Mê muội,nặng nề không hề nghiêng ngã.
Nó lùa, nó thả.
Lũ mặt người dạ thú xông ra.
Khiến đồng xa.
Nơi mấp mô mồ mả.
Các hồn ma cũng hả vong linh.
Vì thấy địa ngục của mình.
Còn ít nhục hình hơn dương thế!
Mạng sống không bằng con giun con dế.
Ðầu ngửng lên tuy nhìn thấy trời xanh.
Mà chân không thể nào rút khỏi.
Vũng lầy man mọi hôi tanh.
Ma quỉ rình canh, nghiệt ngã.
Rau cháo cầm hơi, mồ hôi tầm tã
Bọn sậy lau đã chán cả chờ trông.
Hầu cam phận sống trong bùn xám
Ðời càng u ám.
Quỷ vương càng đình đám liên hồi.
Ôi, dần dà tôi không phải là tôi.
Một khối rũ mòn nhức nhối
Mang đầy mộng ước thiu ôi.
Nếu tôi đổ mồ hôi
Mồ hôi sẽ hòa máu phổi.
Nhưng những niêu cơm quá vơi mà Ðảng đem phân phối.
Không nhường thịt gân một chỗ để đàn hồi!
Bao đêm rồi tôi nguyện luyện hồn tôi
Trút bỏ buồn đau tiếc hối.
Nén dập hờn căm dữ dội
Ngày đêm dìm luộc thân tôi.
Nhão nhừ, nóng hổi!
Nhưng làm sao trút và nén nổi.
Nhưng làm sao điếc, mù, câm nổi.
Khi con người chưa sống được bao nhiêu.
Cũng như khi chưa yêu mến thật nhiều
Làm sao biết ghét!
Chỉ quả bóng xì hơi đã bẹp
Mới để cho Người_ Ðịnh mệnh_ dẵm lên trên
Còn những đại dương sóng dậy vang rền.
Chỉ dịu lắng khi mệt vì bão táp!
Tôi ngồi yên nghe thời gian chậm chạp
Mang tâm hồn thấm hết cảnh trăng suông
Trên đồng không nước lội sông buông
Cây cỏ,lạnh mờ hoang vắng.
Ôi những bờ xa lời xanh nhạc nắng.
Nếu có kẻ cho đời là cay đắng.
Hãy vào đây nếm thử vị đồng lầy.
Cho dạ dầy, óc, tim , lưỡi , cổ.
Biết biệt phân tân khổ ngọt bùi!
Giữa biển vui không hiểu tiếng cười.
Là những kẻ cuộc đời chưa dậy sóng.
Trời cao, biển rộng có cũng như không!
Một tiếng quạ đêm ảo não rỏ xuống đồng.
Tôi tỉnh hẳn trở về cơn ác mộng.
Muỗi nhơn nhơn từng đàn vang tiếng động
Những con cưng của ngừng đọng tối tăm.
Chúng trưởng sinh trong đêm tối nhiều năm.
Nên chúng tưởng màu đen là ánh sáng!
Ếch nhái vẫn đồng thanh đểu cáng
Chửi bới mặt trời, ca ngợi đêm đen.
Lũ sậy lau còm cõi đứng chen.
Hơi có gió là cúi đầu rạp hết.
Bát ngát xung quanh một mầu khô chết
Ðồng lầy mỏi mệt.
Lặng câm, lũ kiến đi về.
Ôi, cuộc đời hay một cơn mê,
Mà người, ngựa, trâu bò giống nhau đến thế!
Những chiếc sơ mi bỏ ngoài để che bụng phệ.
Ði về chễm chệ xe “dim”
Lúc vuốt xoa
Lúc hăm dọa.
Lúc gật gù
Với một lũ lù lù rác rơm ẩm mốc
Những loài thảo mộc.
Ngu ngốc, ù lì , nhẫn nhục
Nằm đợi ngày tàn mục thối tha
Mặc cuốc kêu thê thảm đêm ngày.
Xác gầy, khổ não!
Bọn gỗ đó phải chờ giông bão.
Mới chịu ào ào nhổ rễ đứng lên.
Nhưng hình như Trời đã bỏ quên
Mảnh đất đồng lầy xám ngắt.
Như tôi vẫn ngồi đây héo hắt
Mắt thâm quầng trông ngóng trời xanh
Bốn chung quanh ếch nhái vẫn đồng thanh
La ó mong làm hỏng tim hư óc.
Ðể trai tráng say mùi chết chóc.
Ðể người già yên vui tang tóc.
Tóm lại là để tình nguyện ly tan.
Nhưng mặt trời mùa thu mà như tiết đại hàn.
Súng ống từng đoàn run run, nhớn nhác.
Ðảng lùa đi, tan tác, thương vong.
Mái ngói, mái gianh lệ thảm ròng ròng.
Nhỏ xuống bốc hơi trong lòng vạc bỏng.
Ðảng dữ thét gào, hóc xương ngang họng.
Giọng thều thào, gượng gạo hung hăng.
Lưới thép nền chuyên chính tung quăng
Khốc liệt, bậy xằng, ức oan, cay đắng
Dân đen tay trắng cam đành.
Từ rừng núi hoang vu tới phố xá thị thành.
Từ hải đảo xa xôi tới ruộng đồng bát ngát
Mặc áo vàng cảnh sát.
Tràn lan, nhợt nhạt cả màu xanh!
Cuộc sống đồng lầy rộp rát, nhoét tanh
Bom đạn chiến tranh còn giật giành chút xương da thảm hại.
Cái cảnh mười đi, hai ba trở lại.
Caí cảnh một trai giành nhau chín gái.
Ðương diễn ra và sẽ còn diễn mãi
Nếu Ðảng còn nắm vận mạng tương lai
Lũ sậy lau xưa chỉ biết thở dài
Cũng phải ngước trông đất trời, vấn hỏi?
Trăng lặn…sao tàn.
Bình minh không mong mỏi.
Từ từ xuất hiện trong sương.
Một bình minh héo hắt thảm thương.
Ðẩy dân tộc trên giường xuống đất.
Hãy lắng nghe một điều chân thật!
Bình minh đây đau khổ nhất địa cầu.
Nó báo hiệu một ngày không một phút
Thảnh thơi, thoải mái, ngẩng đầu.
Bình minh đây muôn thuở một mầu.
Nó báo hiệu mồ hôi kiệt quệ.
Những con người, không, những chiếc máy thảm thê.
Không dầu, không mỡ
Hỏng vỡ trước thời gian
Hãy coi chừng phải giữ vẻ hân hoan.
Tiếng khóc, tiếng than làm yêu ma run sợ.
Tội chúng phạm vô cùng man rợ.
Lộ ra, ai để chúng sinh tồn?
Nên lo âu, hốt hoảng, bồn chồn.
Chúng nghe ngóng bỏ tù tiếng nói
Hỡi tất cả những chân trời sáng chói!
Hãy hiểu rằng yên lặng nơi đây
Giữa chốn đồng lầy.
Là tiếng gọi lâm ly đầy tuyệt vọng
Biết bao giờ mùa thu lật lọng
Bị lôi lên dàn lửa trời hè!
Tôi vẫn chờ trông muôn vạn tiếng ve.
Dạo khúc tưng bừng báo trước.
Mùa hè khắp nơi đang tiến bước
Tiêu diệt thu đông
Lấy lại sắc hồng.
Phá củi sổ lồng cho đàn chim bất hạnh.
Nhưng giờ đây thu lạnh
Vẫn thỏa sức tung hoành
Giết hại màu xanh.
Sặc sụa mùi tanh.
Nó dùng máu hãm những dòng nước mắt.
Vắt những giọt mồ hôi.
Bịt tiếng người câm bặt.
Mong bốn phương lặng ngắt giữa cơ hàn!
Ðể nó tự do vang dạo khúc đàn.
Yêu ma!
Lừa bịp người xa
Buốt có người gần.
Trời đất ơi, nếu có quỷ thần.
Quỷ thần sao dung tha mãi đó?
Ðôi lúc nghe mơ hồ trong gió
Tiếng đời qua sỗng vỗ vọng về đây.
Bao ước mơ chìm chết đã lâu ngày.
Lại nghẹn ngào trỗi dậy.
Ðau xót, thương tâm.
Bên ngoài kia cuộc sống vang ầm.
Sao đây mãi âm thầm trong nấm mộ?
Phẫn nộ.oàn lên,bao khổ!
Không gian hỡi hãy tan tành sụp đổ
Cho thời gian đừng làm khổ con người.
Cho đười ươi, khỉ đột hết reo cười.
Trong tối đen đày đọa
Ôi, cái buổi đất trời giáng họa
Cũng là ngày hể hả trái tim đau!
Nhưng gió kể làm gì chuyện bốn bể năm châu.
Chuyện những chân trời bấy alu yêu dấu.
Tuyết ấm rơi, lòng người đôn hậu.
Ðảo thần ngời sáng ngọc châu
Gió hãy thương kẻ bị đóng trên tọa độ thảm sầu.
Giấc chân trời mòn mỏi thương đau.
Bốn phía trước sau toàn bóng
Những người trâu đầm mình trong bùn đọng.
Hoặc trong hầm trong xưởng rũa gân xương.
Ðể tối về theo lệnh Diêm Vương.
Vác bụng đói tới nghe bầy quỷ dữ
Giả danh nghĩa là những vì thiên sứ.
Ðặt chương trình hút máu mài xương.
Nhưng lấy tên xây dượng thiên đường.
Ðể mong mộ thêm nhiều nô lệ mới.
Tôi không hiểu loài ễnh ương ca ngợi.
Cái thiên đường khủng khiếp của ma yêu
Ðược chúng cho công xá bao nhiêu.
Mà đêm tối to mồm , đinh nhức óc.
Ấy cơm cá ma vương đầy xương hóc
Hãy coi chừng kẻo khó nuốt trôi qua.
Cứ ca đi, hơi lạc điệu bài ca.
Là Ðảng ném toàn gia vào hỏa ngục!
Tháng năm trôi mùa thu ô nhục
Vẫn kéo dài ngang nửa dãy Trường Sơn
Chúng tôi tuy chìm ngập dưới bùn trơn
Song sức sống con người hơn tất cả
Trước sau sẽ vùng lên quật ngã.
Lũ quỉ yêu xuống tận đáy đồng lầy.
Huyệt chôn vùi thu nhục nhã là đây.
Hè xuân sẽ huy hoàng đứng dậy.
Dù chúng tôi hẩm hiu không được thấy.
Màu hè

No comments: