Wednesday, March 20, 2013

ẢNH HƯỞNG CỦA TẠP CHÍ SÁNG TẠO



Ảnh hưởng & đóng góp của tạp chí Sáng Tạo
11/12/2011


Thanh Tâm Tuyền cùng nhóm Sáng Tạo là một hiện tượng của văn học miền Nam thời kỳ 1954–1975.

Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên đã vượt lên trên cái nhìn đầy thành kiến và ác ý ở trong nước để khẳng định như vậy. Nhiều nhà phê bình văn học khác cũng công nhận vai trò tiên phong mở đường và công lao cũng như ảnh hưởng lâu dài của tạp chí Sáng Tạo.

Thật vậy, ngoài những sáng tác để lại cho đời sau của các tác giả như Trần Thanh Hiệp, Thanh Tâm Tuyền, Doãn Quốc Sỹ, Mai Thảo, Tô Thùy Yên, Cung Trầm Tưởng, Nguyễn Sỹ Tế, Thái Tuấn, Duy Thanh, Ngọc Dũng hay Cung Tiến, nhóm Sáng Tạo đã đem đến những đổi mới trong cách diễn đạt và suy tưởng cho văn học ở Miền Nam. Để soi sáng và định hướng con đường đi của mình, nhóm thường tổ chức những cuộc hội thảo giữa các thành viên với nhau. Một trong những cuộc hội thảo đáng chú ý nhất sau này được đặt tên là “Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo”.


pic

Tạp chí Sáng Tạo


Trước hết là hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn do Nhất Linh lãnh đạo. Như chúng ta đều biết, văn học Việt Nam thật sự chuyển mình để trở thành một dòng văn học có bản sắc riêng từ khi Tự Lực Văn Đoàn thành hình, gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh xã hội về cách sống, cách nghĩ và quan trọng hơn cả là sự nhận thức về mối liên hệ giữa cá nhân đối với gia đình và xã hội. Tự Lực Văn Đoàn gây thành một phong trào rộng lớn và ảnh hưởng sâu sắc tới giới thanh niên trí thức tiểu tư sản, khiến thanh niên sinh viên mạnh mẽ cởi bỏ những gì mà họ bị trói buộc từ trước đến giờ để xung phong vào công tác xã hội, hay tham gia các phong trào có tính bài phong đả thực, tùy theo hoàn cảnh và ý hướng của từng người. Về mặt văn học, Tự Lực Văn Đoàn đã có những đóng góp vào thơ mới, đưa tiểu thuyết lên một tầm mức cao hơn, trở thành mẫu mực qua nhiều thời kỳ.

Tuy nhiên đối với nhóm Sáng Tạo thì những thành tựu của Tự Lực Văn Đoàn cần phải xét lại. Những thành viên trong nhóm Sáng Tạo cho rằng Tự Lực Văn Đoàn vẫn còn hạn chế trong việc khai phóng một nền văn chương thật sự cho đất nước. Sáng Tạo đã đưa ra nhiều nhận xét mà người đọc thoạt đầu khó thể chấp nhận, nhưng nhìn trên khung cảnh lịch sử văn học thì những sự chống đối của Sáng Tạo không nằm ngoài phạm vi mong muốn một sự khai phá và đổi mới triệt để. Có thể ngôn ngữ của các thành viên Sáng Tạo hơi quá khích hay chủ quan, nhưng cốt lõi vấn đề được họ đào bới rất khách quan và cần thiết cho bất cứ một nền văn học nào. Khao khát khai phá cái mới, cái cần thiết cho một nền văn học là mục tiêu cũng là lý tưởng của các thành viên trong nhóm.


Quan điểm của nhóm về một số vấn đề


  • Văn nghệ tiền chiến
Trong khi thảo luận đề tài “Nhìn lại văn nghệ tiền chiến ở Việt Nam”, Nguyễn Sỹ Tế, một thành viên trong nhóm Sáng Tạo, cho rằng Nghệ thuật tiền chiến là một nghệ thuật của những rung cảm hời hợt, giả tạo. Một phần bởi hoàn cảnh lịch sử an bình không có những thắc mắc sâu xa (ngoại trừ một số ít người long đong làm việc nước), và lịch sử dân tộc hầu như chưa có được những nối kết chặt chẽ với lịch sử nhân loại. Một phần do sự bỡ ngỡ của con người bấy giờ trước sự tiếp nhận cả một lịch sử tiến hoá lâu dài của văn học nghệ thuật Tây Phương, nên bối rối trong sự phán xét và lựa chọn các giá trị.

Thanh Tâm Tuyền mạnh mẽ hơn khi nói rằng nông cạn của nghệ thuật tiền chiến, lỗi chính vẫn là ở những người sáng tác, không phải ở hoàn cảnh. Sự va chạm mạnh mẽ giữa văn hoá Đông-Tây đầu thế kỷ, các nhà văn Tự Lực Văn Đoàn nhìn một cách rất thu hẹp, trong phạm vi cá nhân, mà không hề thấy đó là sự đảo lộn cả một nếp sinh hoạt mấy nghìn năm, mà trong đó dân tộc phải tìm lấy một đường lối giải thoát thích hợp, không bảo thủ luyến tiếc quá khứ thì họ lại đuổi theo một thứ tình cảm cá nhân để giải quyết cho riêng mình.

  • Hội họa Việt Nam
Ở đề tài “Ngôn ngữ mới trong hội họa”, Thanh Tâm Tuyền một lần nữa, rất xuất sắc nhận xét rằng hội họa Việt Nam không có quá khứ, và đây là điều đáng mừng. Ông cho rằng quá khứ không nặng nề nên hội họa Việt Nam tiếp xúc rất dễ dàng với Tây Phương. Ông nói “Hội họa Việt Nam” chỉ là một quy định có tính chất địa danh mà thôi.

Trong hoàn cảnh phôi thai của nền hội họa thời bấy giờ mà nhóm Sáng Tạo đã ý thức được hội họa và văn chương có quan hệ mật thiết như thế nào, đã khởi đầu cho một cuộc vận động toàn diện nhằm hòa nhập thật sự vào dòng chảy văn học thế giới. Sự nhấn mạnh đến những phong trào, những khuynh hướng sáng tác đã tác động đến vấn đề sáng tác và nhận thức mỹ học ra sao đã khiến nhóm Sáng Tạo được nhiều văn nghệ sĩ lẫn trí thức tin tưởng hơn vào chủ trương lẫn lý thuyết của nhóm.

Những sáng tác của anh em Sáng Tạo và những suy tưởng lý luận của họ đã ảnh hưởng sâu đậm tới vận hành của văn học nghệ thuật Miền Nam. Võ Phiến viết trong Văn Học Miền Nam Tổng Quan:

“Tháng 10 năm 1956 tạp chí Sáng Tạo ra đời. Tờ báo đáp ứng một sự thiếu vắng, nó được hoan nghênh ngay. Trước “vận hội mới” quần chúng độc giả chờ đợi một xuất hiện mới trên lãnh vực văn nghệ. Loại thơ văn trên báo Đời Mới của Trần Văn Ân chẳng hạn không còn sức thu hút nữa, những sáng tác ra mắt trên nhật báo không thể thỏa mãn, tờ Mùa Lúa Mới vẫn chỉ là của một địa phương. Tờ Sáng Tạo chính đã đến đúng lúc. Và nó đã nhằm đúng vào tâm trạng quần chúng: chờ cái mới.

Thoạt ra mắt, Sáng Tạo đã phát động ngay “một nền nghệ thuật mới”, “nghệ thuật hôm nay”. Phát động thật ồn ào. Mười bốn năm sau, Mai Thảo nói về lúc khởi đầu ấy vẫn còn nói bằng giọng say sưa: “Chất nổ ném vào. Cờ phất. Xuống núi, xuống đường. Ra biển, ra khơi. Và cuộc cách mạng tất yếu và biện chứng của văn chương đã bắt đầu.” Cách mạng chống lại cái gì? Phá bỏ cái gì vậy? – Những cái không thuộc về hôm nay: “Trong một thực trạng dày đặc những chất liệu của sáng tạo và phá vỡ như vậy, văn học nghệ thuật mặc nhiên không thể còn là tả chân Nguyễn Công Hoan, lãng mạn lối Thanh Châu, những khái niệm Xuân thu, những luận đề Tự lực.” Cuộc cách mạng này “tựu trung vẫn chỉ là lịch sử tiến trình biện chứng của những trào lưu cạn dòng phải nhượng bộ rứt thoát cho những ngọn triều lớn dậy thay thế”.


Tuy nhiên, Võ Phiến tỏ ra nghi ngờ: “Nhưng đến khi cần biết về “ngọn triều lớn” thì không thể biết gì rõ ràng. “Văn nghệ hôm nay” chủ trương ra sao? Đưa ra lý thuyết gì? Vạch ra những đường lối gì? Bác bỏ văn nghệ hôm qua ở chỗ nào? – Nhóm Sáng Tạo không có giải đáp…” Tuy vậy, tác giả Văn Học Miền Nam Tổng Quan cũng công nhận: “Nhìn như một tinh thần, thì đó là một tinh thần đổi mới đầy tự tin, đầy hứng khởi. Tinh thần ấy có sức lôi cuốn, động viên; một tinh thần đáng tán thưởng.”

Và Võ Phiến đã ca ngợi thành quả của tạp chí Sáng Tạo: “Sáng Tạo đã có những đóng góp đáng kể. Mặc dù chỉ xuất hiện trong một thời gian ngắn 31 tháng, nó đã phát huy được một số văn tài đông đảo. Nhiều người trong số đó về sau, sau khi tờ tạp chí đình bản, tiến lên giữ vai trò quan trọng trong những hoạt động văn nghệ riêng biệt của mình. Thanh Tâm Tuyền dần dần viết truyện nhiều hơn làm thơ, viết truyện rất thành công và có ảnh hưởng rộng trong văn giới lớp sau; Doãn Quốc Sỹ chủ trương một nhà xuất bản, giới thiệu thêm một số cây bút mới nữa (trong đó có Phan Nhật Nam); Nguyên Sa rồi đứng ra chủ trương các tạp chí Gió Mới, Hiện Đại, và có một uy thế riêng; Tô Thùy Yên, Sao Trên Rừng (sau đổi ra là Nguyễn Đức Sơn) rồi trở thành những thi sĩ có bản sắc đặc biệt; Dương Nghiễm Mậu sáng tác mỗi lúc mỗi phong phú mỗi độc đáo, chủ trương nào nhà xuất bản nào tạp chí Văn Nghệ (cùng với Lý Hoàng Phong), là một cây bút xuất sắc hoạt động mạnh mẽ cho đến ngày cuối cùng của Miền Nam v. v…”(Võ Phiến “Văn Học Miền Nam Tổng Quan” )


pic

Từ trái: Trần Lê Nguyễn, Mai Thảo, Thái Tuấn, Thanh Tâm Tuyền (chú rể), Mai Hoa (cô dâu), Nguyễn Sĩ Tế, Ngọc Dung, Trần Thành Hiệp


Nhà phê bình văn học Thụy Khuê cũng nhiệt thành ca ngợi những đóng góp của nhóm Sáng Tạo:
 
“…

Ở miền Nam, tháng 10 - 1956, tạp chí Sáng Tạo ra đời tại Sàigòn như một sự “nổi loạn”, một “chất nổ phá đổ cái cũ, tạo dựng cái mới”. Trên Sáng Tạo xuất hiện những tên tuổi: Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Sỹ Tế, Trần Thanh Hiệp, Duy Thanh, Ngọc Dũng, Thái Tuấn, Quách Thoại, Tô Thùy Yên, Cung Trầm Tưởng, Nguyên Sa, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đức Sơn...

Họ tạo dựng cái mới như thế nào? Mai Thảo bảo: “Văn học nghệ thuật mặc nhiên không thể còn là tả chân Nguyễn Công Hoan, lãng mạn lối Thanh Châu, những khái niệm Xuân Thu, những luận đề Tự Lực... Những trào lưu cạn dòng phải nhượng bộ rứt thoát cho những ngọn triều lớn dậy thay thế. [...] Cái vấn đề lớn nhất của chúng ta bây giờ, trước sau vẫn là phải làm sao đoạn tuyệt được hoàn toàn với những ám ảnh và những tàn tích của quá khứ [...]. Công tác chặt đứt với những trói buộc cũ phải được đặt lên hàng đầu... và thơ bây giờ là thơ tự do”(1). Ở bình diện khác, Thanh Tâm Tuyền định nghĩa nổi loạn: “Nổi loạn là một hành động đòi được gia nhập đời sống: Kẻ nô lệ đòi quyền sống như những người tự do. Như thế nổi loạn là điều kiện sáng tạo.”


Trên thực tế, có thể nói Sáng Tạo đã làm được “ngọn triều lớn” trong thời điểm 50 - 60, tương tự như Tự Lực Văn Đoàn những năm 39 - 45: “Thổi nguồn gió mới vào thời đại của họ, thay đổi bộ mặt văn học nghệ thuật.”

Theo Thụy Khuê, “Sáng Tạo đã thành công trong việc hiện đại hóa văn học, đem hai dòng mạch lớn của thế kỷ XX vào văn học Việt: Dòng hiện sinh và dòng siêu thực, với những tính chất nền tảng: Hoài nghi và Mộng tưởng.”

Tiếp tục những nhận định của mình, Thụy Khuê viết:

“Về văn xuôi và tiểu luận, xuất hiện những tiêu đề chính trong văn học hiện đại, chủ yếu biện chứng của Sartre:

1. Đặt lại vấn đề tác phẩm (oeuvre). Có thể có tác phẩm văn học hay không? Có thể có một cuốn tiểu thuyết, một kịch bản, một bài thơ được không? Chữ nghĩa có giá trị gì? Đặt lại vấn đề viết (écriture). Viết như thế nào? Lối viết kể chuyện, có cốt truyện, và cả lối viết hiện thực, tả chân kiểu Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng... đã lỗi thời vì không đạt tới tận cùng tính cách chính xác và xác thực. Bếp Lửa của Thanh Tâm Tuyền là một ví dụ về cách viết, cách đặt lại vấn đề viết.

2. Tác phẩm mở: tác phẩm không còn mục đích hướng dẫn người đọc tới một chủ đích như luân lý, đạo đức, triết học, văn chương, xã hội, v.v... nữa. Tác phẩm không cần kết luận, mà tác phẩm trình bầy một biện chứng, một thẩm mỹ của sự dang dở, mở cửa cho những suy nghĩ khác và sẵn sàng chờ đón những nối tiếp về sau (Bếp Lửa của Thanh Tâm Tuyền, Tháng Giêng Cỏ Non, Bản Chúc Thư Trên Ngọn Đỉnh Trời của Mai Thảo...).

3. Tính chất biến dạng của tác phẩm: tác giả không còn là chứng nhân biện hộ (témoin de la défense) kiểu Gide, mà trở thành chứng nhân không thể loại trừ (témoin inéliminable), kiểu Sartre, chứng nhân nằm trong diễn biến, chao đảo với hoàn cảnh, chịu sự chia phối của các áp lực nội tâm cũng như ngoại cảnh (Tâm trong “Bếp Lửa” của Thanh Tâm Tuyền).

4. Đưa vai trò của nhận thức (perception) vào tác phẩm. Tác phẩm không còn nhiệm vụ khơi gợi cảm xúc và làm mủi lòng theo nghĩa lãng mạn, mà tác phẩm gây nỗi đau, gây khó chịu bằng nhận thức (thơ Thanh Tâm Tuyền).

5. Xuất hiện hình thức mỉa mai, châm biếm hiện đại (ironie moderne) kiểu Sartre, Beckett, thay thế lối châm biếm lãng mạn (ironie romantique), kiểu Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng. Dạng thức này cay độc hơn vì người viết không ở ngoài để ghi nhận hiện thực mà ở ngay trong cuộc, diễu mình, cười mình. Lối tự trào này rải rác trong các tác phẩm của những người cùng thời với Sáng Tạo như Túy Hồng, Nhã Ca, Trần Thị Ngh, ... gọi nôm na là sự “chọc quê” chính mình.

6. Tính cách dấn thân của người nghệ sĩ trong sáng tạo và trong cuộc sống, thể hiện trên hai mặt:

- Chính trị: Chiến sĩ tự do, (...) truyền thống anh hùng (kiểu Malraux) như Trần Thanh Hiệp, Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền,...

- Văn nghệ: Cực lực đổi mới, bài trừ cái cũ: Chống Tự Lực Văn Đoàn, đả kích Vũ Hoàng Chương... Thái độ “chặt đứt” với quá khứ, tính cách “nổi loạn” và những tuyên ngôn thái quá làm gai mắt những người cựu trào như Nguyễn Hiến Lê (Đời Viết Văn Của Tôi), Võ Phiến (Văn Học Miền Nam).

7. Hoài nghi: trên tất cả là hư vô, không có gì hết (Mai Thảo).

8. Dòng mạch siêu thực hòa hợp mộng vào đời, mở những ngưỡng cửa mới cho sáng tác: đập vỡ bức màn kiểm duyệt của lý trí, của ý thức xã hội, tìm đến bề sâu của tâm hồn ẩn dấu trong phần tiềm thức và vô thức, nâng cao vai trò của tưởng tượng, tìm ra những phương pháp tạo hình mới cho thơ và họa, mở thêm một cánh cửa nữa về phía Tự do. Sáng Tạo đã nắm bắt được luồng sinh khí ấy và đem vào văn học Việt.”
(nguồn: http://thuykhue.free.fr/mucluc/sangtao.html)

Một thời đại đã qua. Nhiều biến chuyển được ghi nhận trên dòng lịch sử và văn học Việt Nam. Tuy nhiên, quan điểm và ảnh hưởng của Sáng Tạo vẫn còn có mặt ở đâu đó, trong nhận thức và cách nghĩ, cách viết của các nhà văn hiện đại. Thiết tưởng, công lao đó không nhỏ.

NGUYỄN & BẠN HỮU



Bạn có thể đưa ý kiến của mình vào khung phía dưới. Ý kiến của Bạn sẽ được Tre Online xem xét trước khi đưa lên trang web, phù hợp với Nguyên tắc sử dụng của Tre Online. Ý kiến của Bạn sẽ không xuất hiện ngay lập tức. Tre Online không chịu trách nhiệm về nội dung các ý kiến. 
 
 





Enter Code:

No comments: