Sunday, July 7, 2013

SƠN TRUNG * DÂN TỘC VIỆT NAM HAI LẦN BỊ LƯỜNG GẠT


DÂN TỘC VIỆT NAM 
HAI LẦN BỊ LƯỜNG GẠT

SƠN TRUNG



Trong lịch sử hiện đại, dân tộc Việt Nam hai lần bị lường gạt. Lần thứ nhất là tập đoàn Hồ chí Minh, lần thứ hai là tập đoàn Ngô Đình Diệm. Hai  bọn  này đã dùng nhãn hiệu tự do, dân chủ, nhưng thực sự họ chỉ là bọn gian manh xảo quyệt, buôn dân bán nước, không kể gì đến vận mệnh đất nước, tưong lai dân tộc và đời sống của nhân dân Việt Nam.

I. TẬP ĐOÀN CỘNG SẢN

Tập đoàn cộng sản Việt Nam tuyên bố giương hai ngọn cờ giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân và gỉải phóng giai cấp vô sản thoát cảnh nghèo khổ và bị bóc lột.Nay ta thử xét thành quả của họ trong hai mục tiêu trên.

 1. GIẢI PHÓNG DÂN TỘC


Về mục tiêu giải phóng dân tộc, họ chỉ là kẻ thay chủ Pháp Mỹ bằng chủ Nga Hoa. Hồ Chí Minh và bè lũ cộng sản thực tế là những kẻ nô lệ của cộng sản quốc tế. Ngày nay, Liên xô đã từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, cònTrung quốc nghiễm nhiên trở thành đế quốc mới.

Trước đây, Việt cộng đã nhận viện trợ của Trung Cộng, dẫn đến việc Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng công nhận Trường Sa, Hoàng Sa thuộc chủ quyền Trung Cộng. Từ 1954, quân Trung Cộng viện cớ lập các trung tâm huấn luyện cho Việt Cộng, họ đã chiếm đất đại biên giới. Vì cần Trung Cộng viện trợ, Hồ Chí Minh và đảng cộng sản im lặng, mặc cho Trung Cộng xâm lược.


Sau trận chiến Hoa Việt năm 1979, Trung Cộng chiếm thêm đất đai biên giới. Sau mấy lần đo đac, năm 1980 ,Trung Cộng đã chiếm Nam Quan, Bản Dốc.. Từ năm 2000, Trung Cộng vẽ bản đồ lưỡi bò và tuyên bố Biển Đông thuộc chủ quyền họ. VIệt Nam và các nước ở biển Đông bị Trung Cộng đe dọa xâm lăng. Năm 1989, các nước Đông Âu vùng lên cởi bỏ ách cộng sản. Vì sợ làn sóng cách mạng tràn qua Á châu, năm 1990, Nguyễn Văn Linh qua Trung Quốc xin bảo hộ.


Như vậy trước sau Việt Nam bị Trung Cộng xâm lấn biên cương và hải đảo. Chủ nghĩa cộng sản là một chủ nghĩa thực dân, và Việt Nam trở thành nô lệ của Trung Quốc, Hồ Chì Minh và đảng cộng sản đã lộ rõ bộ mặt bán nước. Nếu nhân dân ta không cương quyết chống Trung Cộng, dần dần Việt Nam lại trở về thời kỳ Bắc thuộc.


II. GIẢI PHÓNG GIAI CẤP


Về mục tiêu giải phóng giai cấp thì khắp nơi cộng sản đã thất bại. Mác tuyên bố thiết lập xã hội chủ nghĩa không giai cấp, không còn chủ và thợ, không còn giai cấp cai trị và bị trị, nhưng thực tế trong chế độ cộng sản có nhiều giai cấp, nhất là giai cấp mới nay đã trở thành tư bản đỏ với bao đặc quyền đặc lợi.


Hồi Mác còn sống đã tuyên bố xanh dờn rằng giai cấp tư bản đang dẫy chết và giai cấp vô sản sẽ là kẻ đào mồ chôn giai cấp tư bản. Mác còn bảo chủ nghĩa xã hội sẽ gấp năm gấp mười tư bản( cũng như tư bản đã gấp năm gấp mười phong kiến), nhưng than ôi, chế độ cộng sản chỉ gây chiến tranh và nghèo đói và là một chủ nghĩa độc tài vô nhân đạo. Vậy thì rõ ràng là Mác là kẻ hoang tưởng và không tưởng nếu không là kẻ gian giảo, lường gạt thiên hạ.


Trong hành động, cộng sản lại càng tỏ ra gian manh xảo quyệt. Sau 1954, cộng sản cải cách ruộng đất, chia ruộng cho dân nghèo nhưng được vài tháng, hay một năm là họ thu hồi đắt đai, bắt nông dân phải làm nông nô trong các hợp tác xã. Họ tuyên bố sẽ giải phóng nông dân khỏi ách trâu cày nhưng ngoài bắc từ 1955 cho tới nay, nông dân vẫn phải còng lưng cày thay trâu. Lần nữa, chúng ta thấy cộng sản chỉ là kẻ lừa bịp, dùng chiêu bài chia ruộng đất, của cải cho dân nghèo để họ tin mà theo mình.


Mỗi nông dân xuất sắc trước đây làm ở HTX mỗi ngày chỉ đuợc 1 ký lúa. Ngày nay nông dân làm khoán thực ra cũng chỉ là kiếp làm đầy tớ nộp tô nộp tức chẳng khác gì nông dân nghèo trước 1945. Sau 1975, cộng sản tuyên bố từ nay dân Việt Nam sẽ được các nước anh em tái thiết, nhân dân ta ai cũng sẽ có nhà mới, mỗi nhà đều có TV, máy lạnh, quạt máy...nhưng cho đến nay nhân dân ta nghèo vẫn hoàn nghèo, chỉ có bọn cán bộ tỉnh, thành phố và truơng ương là béo bở. Rõ ràng cộng sản vẫn gian giảo, xảo quyệt, hứa hẹn hão huyền , cho dân chúng đi tàu bay giấy.


Tại Liên Xô, TRung Quốc, kinh tế chỉ huy đã đem đến hàng chục triêu người chết đói, nhân dân khốn khổ. Vì vậy, Đặng Tiểu BÌnh đã từ bỏ kinh tế chỉ huy mà thực hiện kinh tế thị trường, giao thương cùng tư bản. Trung Cộng, Việt Cộng nay theo kinh tế thị trường nhưng vẫn giữ lá cờ cộng sản, duy trì đảng cộng sản để kìm kẹp nhân dân, và một số cộng sản gộc và gia đình đã thành tư bản đỏ, trong khi nông dân bị cuớp nhà cướp đất và chịu bao sư bất công, bóc lột nặng nề. Toàn dân mất tự do và vô sản trước sau vẫn là giai cấp bị bóc lột và bị trị.


Ngày nay cộng sản chủ trương đổi mới, vì đổi mới kinh tế sẽ đem lại lợi nhuận cho chúng về nhiều mặt. Ngày nay, chúng đã làm chủ nhiều công ty, nhiều ngân hàng. Con cái chúng sang Âu Mỹ du học, và chúng đã tẩu tán tài sản ra ngoại quốc để phòng khi hữu sự. Chúng bán đất đai nông dân để lấy tiền bỏ túi trong khi nông dân thiếu đất canh tác. Các cuộc nổi loạn ở Thái Bình, Hà Đông đã bị dẹp yên và những chiến sĩ cách mạng đã chết hoặc ngắc ngoải trong lao tù. Bao giờ những chiến sĩ này đưọc thấy ánh mặt trời tự do, dân chủ thực sự?


Tóm lại, cộng sản đã hoàn toàn lừa đảo nhân dân thế giới và nhân dân Việt Nam. Trong khi dân chúng ngày càng nghèo khổ, bọn cộng sản gộc ngày càng giàu sang phú quý, chúng đã cho ta thấy tất cả những lời hứa hẹn của chúng về độc lập, tự do, hạnh phúc, công bằng, bình đẳng chỉ là những lời phỉnh phờ, lường gạt. Tại Việt Nam, cộng sản đã gây nhiều tội ác qua các vụ cộng sản giết hại các đảng viên các đảng phái quốc gia, các tôn giáo và dân chúng với tội danh mơ hồ như phản động, làm tay sai cho giặc.Chúng đã gây trọng tội trong CCRĐ, Chỉnh Đốn đảng, Cải tạo công thương nghiệp, Nhân Văn Giai Phẩm. Chúng cướp tự do dân chủ của nhân dân, thi hành chính sách độc tài chuyên chế. Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản lãnh nhiệm vụ tiền phong trong chủ nghĩa đế quốc của Trung Cộng. Bọn họ gây chiến tranh nhằm tiêu diệt nhân dân Viêt Nam để Việt Nam trở thành núi rừng hoang vu cho Trung Cộng xâm chiếm.


Chủ nghĩa cộng sản đem lại nghèo đói và đau khổ cho nhân dân. Trong lịch sử thế giới, chủ nghĩa cộng sản tàn ác nhất, họ đã giết khoảng 150 triệu người cho thỏa tính gian tham và tàn ác của họ.



II. TẬP ĐOÀN NGÔ ĐÌNH DIỆM


Tập đoàn Ngô Đình Diệm đã tạo cho họ một nhãn hiệu chống cộng cho nên họ đã được Mỹ trong giai đoạn chống cộng ủng hộ họ. Nhìn về bề ngoài, gia đình Ngô Đình Diệm quả xứng đáng nhận lãnh vai trò chống cộng ở xứ này bởi các lý do sau:
a. Gia đình Ngô Đình Diệm theo Thiên Chúa giáo là một tôn giáo đã bị Cộng Sản coi là kẻ thù số một, rất nhiều tín đồ Thiên chúa giáo đã bị cộng sản giết hại.Vả lại, khi đến Việt Nam, người Pháp cũng như người Mỹ thường muốn dùng những người Thiên chúa giáo là những người cùng tín ngưỡng với họ.

b. Gia đình Ngô Đình Diệm là kẻ thù của cộng sản vì cộng sản đã sát hại cha và anh của Ngô Đình Diệm là Ngô Đình Khả , và Ngô Đình Khôi.
c. Người Mỹ thích dân chủ, ghét quân chủ . Sau thắng trận đệ nhị thế chiến, Mỹ tính bỏ chế độ quân chủ tại Nhật nếu không có sự can thiệp của đại sứ Mỹ tại Nhật .
Vì ghét quân chủ cho nên Mỹ ủng hộ Khomeni ở Iran, kết quả ông dân chủ này lại quá độc tài dã man hơn ông quân chủ! Vì ghét quân chủ cho nên Mỹ không ưa Bảo Đại, muốn đưa một nhân vật khác, và họ đã chọn Ngô Đình Diệm là một kẻ đã sống lâu năm tại Mỹ, được thế lực tôn giáo tại Mỹ và Vatican ủng hộ. Vì Pháp đã rút lui và người Mỹ lại muốn Ngô Đình Diệm thay thế mình, Bảo Đại thấy mình hoàn toàn mất chỗ đứng. Nếu trái ý họ thì một là ông sẽ bị giết, hai là ông sẽ bị Ngô Đình Nhu đảo chánh! Đằng nào thì cũng mất hết cho nên Bảo Đại đành nhượng bộ, bằng lòng cử Ngô Đình Diệm làm thủ tướng, để từ đó Ngô Đình Diệm cướp chính quyền.

Bọn Cần Lao đã tô điểm cho tập đoàn Ngô Đình Diệm, tạo ra những huyền thoại nào là yêu nước, thương dân, và chống cộng, chống thực dân triệt để( bài phong, phản thực, chống cộng).
Khi lên cầm quyền, Ngô Đình Diệm đã đội cái lốt chống cộng và đạo đức yêu nước thương dân cho nên nhiều người trong đó có Mỹ đã lầm tưởng gia đình họ Ngô là tốt. Đó chỉ là bề ngoài. Bề trong , họ Ngô chi vì quyền lợi cá nhân, quyền lợi phe nhóm mà thôi. Họ cần ông Diệm làm tổng thống để họ có cơ hội bóc lột, đàn áp nhân dân Viêt Nam và ăn chận viện trợ Mỹ. Họ không quan tâm chút xíu nào đến quốc gia dân tộc, họ chỉ vì cá nhân họ , và vì phe nhóm họ. Tự do, dân chủ, chống cộng chỉ lằ nhãn hiệu dán ở bên ngoài. Họ bất chấp thủ đoạn, họ đã làm lợi cho cộng sản và họ đã bắt tay với cộng sản ngay từ buổi đầu.
Đứng về phương diện chính trị nhân bản , đạo đức tôn giáo và chính nghĩa quốc gia nhiều tài liệu đã phê phán. Nay chúng ta thử xem lại một vài điểm quan trọng để rút bài học lịch sử.


1. CHÍNH SÁCH BẠO NGƯỢC PHI NHÂN


Sau 1954, đất nước ta tạm ngưng chiến tranh, đáng lẽ Ngô Đình Diệm nên thực thi nền chính trị nhân bản, đem lại tự do, dân chủ cho nhân dân thì lại thi hành chính sách tàn bạo, phi nghĩa.


Khi lên cầm quyền, tập đoàn Ngô Đình Diệm chỉ nghĩ đến việc củng cố quyền lực mà không nghĩ đến tương lai đất nước. Những ngày đầu tiên, họ Ngô đã bắt bớ, giết hại những người không thuộc phe đảng của mình, nhất là những người quốc gia đang làm việc cho chính quyền quốc gia thời bấy giờ bởi vì họ ra sức triệt hạ vây cánh Bảo Đại. Họ khủng bố các tôn giáo, đảng phái vì họ bắt chước cộng sản, muốn chỉ một mình Ngô Đình Diệm làm chính trị, một mình Ngô Đình Diệm được tôn sùng và một mình Thiên chúa giáo ngự trị ở xứ này. Gia đình họ Ngô xem đất nước này tài sản của họ, họ mặc sức chia chác, chiếm đoạt. Ngô Đình Cẩn thao túng miền Trung như là một vương quốc. Ngô Đình Nhu quản lý thanh niên,và vợ y cai trị phụ nữ, và Ngô Đình Thục cai quản tôn giáo. Họ coi khinh luật pháp. Ngô Đình Cẩn, Ngô Đình Nhu và Trần Lệ Xuân không có chức vụ chánh thức trong guồng máy quốc gia thế mà nắm trọn mọi quyền hành khiến cho tướng lãnh và trí thức phải sụp lạy, tôn thờ. Ngoài Ngô Đình Diệm là tổng thống, Ngô Đình Cẩn, Ngô Đình Nhu đều có công an mật vụ riêng, chúng muốn bắt ai, giết ai là tùy ý.


Ngô Đình Cẩn đã vì đãu thầu thua mà bắt nhà thầu Nguyễn Đắc Phương tra tấn đến chết, đoạn quăng xác xuống đất mà bảo là tự tử! Ngô Đình Cẩn đã hãm hại Nguyễn Văn Yến để chiếm khách sạn Morin ở Huế. Ngoài ra những linh mục thuộc tập đoàn Ngô Đình Diệm đã ra sức thao túng, bóc lột, cướp tài sản dân chúng như linh mục Đinh Xuân Hải ở Sàigon. Có những linh mục bắt các quận trưởng phải nộp tiền bạc, để làm cái này, làm cái kia, nếu ai không tuân lệnh, chúng sẽ báo cáo xấu lên tổng thống mà bị mất chức hoặc bị ngồi tù. Vì muốn Ngô Đình Thục đuợc làm hồng y, bọn Ngô Đình Diệm đã dùng mọi thủ đoạn để gia tăng giáo dân trong đó có việc cưỡng bách sĩ quan, binh sĩ và dân chúng theo Thiên Chúa giáo, ai không theo bị chúng vu khống là cộng sản rồi bắt bỏ tù. Họ khủng bố Cao Đài , Hòa Hảo, tận diệt Quốc dân đảng và Đại Việt. Nguyễn Chánh Thi cũng tố cáo các ông Quận phá đình chùa, cấm theo đạo ông bà, bắt theo đạo Thiên chúa.

Nguyễn Chánh Thi đã nhận định rất đúng về sự lộng hành của một số linh mục thời Diệm Nhu:

"Cứ hầu như mỗi một tỉnh của miền Nam, nhất là tại Miền Trung, cứ mỗi một tỉnh có một linh mục có quyền sinh sát trong tay mà chả ai đả động đến, vì đằng sau linh mục là sức mạnh chánh quyền. Họ còn lộng hành hơn là nhận đơn kiện cáo của con chiên, rồi phê vào đơn, đưa đến tỉnh trưởng hay quận trưởng, bảo phải xử theo ý của linh mục, không thì mất chức. Các ông linh mục ở dưới chế độ Ngô Đình Diệm, phần đông sống như các ông vua của một xứ xưa kia! "(1).


Tài liệu của Nguyễn Mạnh Quang rất đầy đủ về tội ác của họ Ngô, gồm có những điểm chánh yếu như:
-Dân chúng chỉ biết nghiến răng ngậm miệng chịu đựng vì kêu trời nào có thấu. Ngay cả Phật giáo bị chính phủ Sài gòn bãi bỏ ngày nghỉ lễ Phật Đản trong chương trình nghỉ lễ hàng năm để quân nhân công chức không thể đi chùa, đã kêu ca với không biết bao nhiêu đơn từ mà vẫn không được hồi âm huống gì dân đen yếu thế cô. Verdana, Arial, Helvetica, sans-serif">Cái biểu tượng uy quyền khiếp đảm nhất của Ngô Đình Cẩn và cũng là khí giới tàn độc nhất để Cẩn xây dựng bạo lực và quyền uy là "Ban Công tác miền Trung" (tức là Ban Mật Vụ Lưu Động), một tổ chức lấy bạo lực vừa làm cứu cánh vừa làm phương tiện, một cách nôm na là người khác có khổ đau thì mình mới khoái lạc. Ban công tác miền Trung như một đoàn hung thần bủa màng lưới sắt xuống đời sống của Quân Dân Chính miền Trung mà cuối màng lưới, ở cái nút khoá oan nghiệt là trại giam người có tên là "Chín Hầm", một trại giam tuy lộ liễu hơn nhưng lại khủng khiếp hơn trại P42 ở Sở Thú Sài gòn của Ngô Đình Nhu. Sau này, khi Ngô Đình Cẩn bị xử tử, trại Chín Hầm, trước khi bị phá huỷ, trở thành một trung tâm thăm viếng của dân Thừa Thiên để dặn nhau ghi nhớ đời đời tội ác của nhà Ngô (3).


Chúa dạy bác ái, Liên hiệp quốc đã ra Tuyên ngôn Nhân quyền, trong đó có quyền tự do tôn giáo, không ai được cưỡng bách người khác theo tôn giáo của mình. Cách mạng Pháp đã nhận thấy sự dã man của Thiên chúa giáo thời Trung Cổ nên đã  đưa thần quyền ra khỏi thế quyền.

Tình hình Việt Nam bị cộng sản xâm lược, một chính phủ quốc gia chánh nghĩa phải biết yêu dân, thực hiện đoàn kết dân tộc, không kỳ thị giai cấp, địa phương, tôn giáo, chủng tộc...


Già đình Ngô Đình Diệm theo chính sách tàn bạo là vì quyền lợi cá nhân, coi khinh quyền lợi tổ quốc. Hành động của họ chẳng khác gì hành động của bọn lưu manh ngoài chợ, thấy vàng bạc, cá thịt là cướp giật, coi thường luân lý, pháp luật và dư luận quần chúng trong nước và quốc tế . Làm như thế là họ cố tình bôi xấu chế độ, làm dân chúng bất mãn, họ làm cho cộng sản thêm vây cánh, thêm lợi thế chính trị, và rõ ràng là đẩy dân chúng chạy về cộng sản. Việc tập đoàn Ngô Đình Diệm khủng bố dân chúng và các tôn giáo, đảng phái chỉ làm cho nước mất về tay cộng sản như lời của Võ Văn Hải, chánh văn phòng đặc biệt của ông Diệm nói với Nguyễn Chánh Thi trước 1960:Nếu tình trạng này cứ tiếp diễn thì chẳng mấy chốc Việt Cộng sẽ thay thế ông Diệm trong dinh Độc lập này (4).

Và sau này, ngày 7-7-1963, nhà văn Nhất Linh đã viết trong di chúc của ông để kết tội và cảnh cáo Ngô Đình Diệm và bè lũ: Sự bắt bớ và xử tử tất cả các phần tử đối lập Quốc gia là một tội nặng sẽ làm cho nước mất vào tay cộng sản (5).


2. BẮT TAY VỚI CỘNG SẢN


Rất nhiều tài liệu đã nói đến việc này.Ngô Đình Diệm dùng chiêu bài chống cộng nhưng thực tế, Ngô Đình Diệm bắt tay với cộng sản. Việc Ngô Đình Cẩn bán gạo cho cộng sản không những vì tham lợi mà còn có mục đich bắt tay với cộng sản để cầu lợi mà bán nước, phản bội quốc gia.


1. VIỆC NGÔ ĐÌNH CẨN BÁN GẠO CHO CỘNG SẢN NĂM 1956



Vì tiền bạc, vì mưu chiếm lợi ích cá nhân, gia đình Ngô Đình Diệm thủơ đầu tiên đã bắt tay với cộng sản. Đó là việc Ngô Đình Cẩn và bà Cả Lễ đã bán hàng tấn gạo cho cộng sản năm 1956, Mỹ phát giác nhưng nhờ thế lực Ngô Đình Diệm mà Ngô Đình Cẩn trắng án, trong khi phó tỉnh trưởng Quảng Nam là Bùi Quang Sơn làm vật tế thần, bộ trưởng kinh tế Trần Văn Mẽo và Ung Bảo Toàn bị đầy Côn Đảo đến 30-4-1963 mới được tự do (6) .


Điều đáng ghi nhận là, chính LM Trần Hữu Thanh, ngôn sứ “Chủ Nghĩa Nhân Vị”, một nhân vật thân cận của chế độ, cũng đã lên tiếng tố cáo các vụ tham nhũng, đặc biệt là vụ “Gạo miền Trung nầy”.(7)
Nguyễn Việt Nữ cũng nói đến vụ gạo miền Trung và viện dẩn tài liệu của Liên Thành và Nguyễn Lý Tưởng:


. Liên Thành cũng “tưởng nhớ” Linh Mục Trần Hữu Thanh và nhắc đến việc ông tố cáo Ngô Đình Cẩn bán gạo cho cộng sản:

Ngài là tiếng nói ngay thẳng trước những bất công của mọi chế dộ, là Tuyên úy Thanh niên Liên doàn Công Giáo Miền Trung (1945- 1946 dưới thời Việt Minh), chống tham nhũng (vụ gạo miền Trung) dưới thời TT Ngô Ðình Diệm,

Nguyễn Lý Tưởng trong bài- “Tưởng Nhớ LM GiuSê Trần Hữu Thanh cũnh nói đến vụ gạo Miền Trung: Ông Cố-Vấn Ngô Đình Cẩn còn dính líu đến “vụ gạo Miền Trung” (đầu-cơ tích-trữ gạo, không phải chỉ để bán giá chợ đen, mà còn để tiếp-tế cho cộng-sản ngoài Bắc) (8)


Chính nhờ vụ này mà luật sư Lê Trọng Quát được bè lũ Ngô Đình Diệm ban ơn cho làm chân tay thân tín , đuợc ban cho nhiều ân huệ lớn lao.


2. VIỆC NGÔ ĐÌNH THỤC BẮT TAY VỚI VIỆT CỘNG


Việc tướng Nguyễn Chính Thi khám phá đường dây cộng sản với triều đình họ Ngô, việc họ Ngô tiếp tế thuốc men, lương thực cho cộng sản như hàng đống thuốc tây của các dược phòng bộ hạ Ngô Đình như bọn Trang Hai, La Thành...


Quyển hồi ký của Nguyễn Chánh Thi đã cho ta biết ông là một con người trung trực, yêu nước, có lập trường quốc gia thực sự vì khi ông bôn đào sang Cao Miên, dù khó khăn vẫn giữ lập trường quốc gia, không vì tức giận Ngô Đình Diệm mà chạy theo cộng sản như một số người khác. Điều quan trọng nhất là quyển này nói lên một sự thực quan trọng mà ít người quốc gia lưu tâm. Quyển hồi ký này cho ta biết lịch sử Việt Nam hiện đại mà trong đó tập đoàn Ngô Đình Diệm đã cấu kết với cộng sản, làm giàu trên xương máu quân đội và nhân dân Việt Nam. Bọn Ngô Đình Diệm dùng chiêu bài chống cộng để ăn tiền viện trợ Mỹ và ngồi trên đầu trên cổ nhân dân Việt Nam nhưng thực chất chúng nuôi chiến tranh, sống và làm giàu nhờ chiến tranh. Nói rõ hơn, tập đoàn Ngô Đình Diệm đã buôn bán với cộng sản, bắt tay với cộng sản, bọn họ không yêu nước Việt Nam mà yêu tiền bạc.


Trong khoảng 1958, mặt trận Giải phóng đã hoạt động mạnh mẽ. Ngô Đình Diệm cấm người vào rừng chặt cây đốn củi vì sợ họ liên lạc với cộng sản. Nhưng sự thực là họ giành độc quyền khai thác lâm sản cho Ngô Đình Thục. Làm sao Ngô Đình Thục có thể ra vào Long Khánh và các nơi núi rừng? Xin thưa là họ đã bắt tay với cộng sản! Làm sao một vị lãnh đạo Thiên Chúa giáo, một vị chống cộng, từng khởi xướng thuyết cần lao nhân vị. ..lại có thể làm ăn tại mật khu cộng sản? Chính là họ đã đem quốc gia trao đổi cho cộng sản để lấy tiền! Chúng ta cũng chẳng cần có trong tay một văn kiện mật, hay một băng cassette thu buổi mật đàm giữa tập đoàn họ Ngô với cộng sản mới hiểu biết việc này. Chỉ cần nhìn những đoàn xe chở gỗ từ Long Khánh chạy về sờ sờ giữa thủ đô Sài gòn là chúng ta biết có việc làm ăn, buôn bán giữa tập đoàn Ngô Đình Diệm mà đại diện là Sáu Tộ và cộng sản. Nguyễn Chánh Thi đã viết về việc này:


Riêng chúng tôi trong chiến dịch đốt nhập chiến khu D của Việt cộng, tuy kế hoạch đã thực hiện đúng mức trăm phần trăm, niềm vui của chúng tôi không được trọn vẹn. Vì ngay giữa trung tâm sào huyệt của đối phương, chúng tôi lại có thêm bằng chứng phản bội của lớp ngưòi cầm quyền. Trong các căn cứ của chúng, Việt cộng ăn thứ gạo hạng tốt, thắp đèn bằng dầu hôi và xăng, dùng một số xa xỉ phẩm nhập cảng như xà phòng thơm, thuốc đánh răng ngoại hóa, thuốc lá thơm Anh, Mỹ. Để ấn hành các tài liệu tuyên truyền, chúng dùng máy ronéo và có đủ các loại giấy tốt. Theo lời khai của các tù nhân, những thứ này đều do nhóm thợ rừng tiếp tế từ Biên Hòa lên. Những lúc cần, Việt cộng chỉ cần cải trang thành công nhân theo xe gỗ về tận Sài gon. Các xe này thường đưọc gọi là xe chở gỗ của Đức Cha, và các cơ quan kiểm soát không bao giờ dám đụng tới. Thế là công ty làm gỗ đã đem lại cho Đức Cha Ngô Đình Thục hàng tỷ bạc lãi. Các xe này đã chở luôn cả cộng sản về tận thủ đô để chúng gây ra cảnh máu đổ xương rơi trong đám quần chúng hiền lương vô tội (9)


Tiến sĩ Hoàng Ngọc Thành cũng xác nhận việc này. Ông viết:

"Tổng giám mục Ngô Đình Thục giao cho ngưòi tin cẩn là Sáu Tộ lo viêc khai thác ( gỗ rừng trong tỉnh Long Khánh và Biên Hòa). Sáu Tộ trả thuế cho cộng sản để được tự do khai thác và thâu lợi tức lớn. Sau khi đức cha Thục thuyên chuyển ra Huế làm tổng giám mục, bà Nhu tiếp tục việc này."(10)

Ông Ngô Đình Diệm yêu nước, gia đình Ngô Đình Diệm chống cộng là như thế đó! Chúng tôi trước đây cũng nghe tin rằng. trong khi hành quân vào mật khu cộng sản, quân ta thấy rõ từng kho thuốc men, dụng cụ y khoa của các nhà tư bản thuộc tập đoàn Ngô Đình Diệm như là Trang Hai, La Thành.. Làm sao cộng sản có cả những kho hàng lớn lao như thế nếu những nhà tư bản này không chở từng xe lên chiến khu cho Cộng sản?

Và chúng tôi trước đây cũng nghe tin rằng nhiều đơn vị hành quân trong rừng, nửa chừng đuợc lệnh bỏ lại vũ khí, đạn dược, xe tăng.. .Ai đã tiếp thu những thứ này? Tất nhiên là cộng sản. Họ Ngô tiếp tay cho cộng sản để cộng sản giết hại nhân dân ta, chiến sĩ ta.


3. DIỆM NHU THẢ CÁC YẾU NHÂN CỘNG SẢN.

+Tỉnh trưởng Nguyễn Trân thả Việt Cộng

Trúc Giang - trong bài Việt Cộng nằm vùng thời nào cũng có viết như sau:

Cuối năm 1957, dưới thời tỉnh trưởng Nguyễn Trân, một mẻ lưới của cảnh sát Định Tường tung ra, bắt giữ những ký giả đem về giam tại Mỷ Tho, gồm có những người nằm vùng trong những tờ báo như sau: Triệu Công Minh (báo Tiếng Dội), Lương Ngọc (Trời Nam), Nam Thanh (Lẻ Sống), Đồng Văn Nam, Phương Ngọc, Phan Ba (Buổi Sáng), Nguyễn Bảo Hoá (Ánh Sáng), vợ Nguyễn Bảo Hoá là dược sĩ Mã Thị Chu (Tiếng Chuông), LS Nguyễn Văn Diệp, đạo diễn Lê Dân, Mai Thế Đông (giám đốc cải lương).
Nguyễn Trân tổ chức tranh luận công khai tại rạp hát Viễn Trường, Mỷ Tho, nếu nhận CNCS là sai và ăn năn hối cải thì được thả ra. Sau khi được thả, toàn bộ dông tuốt vô bưng, xem như Nguyễn Trân thả cọp về rừng. (11)


Trong Ván Bài Lật Ngữa, Nguyễn Trương Thiên Lý tức Trần Bạch Đằng cũng nói dến việc Nguyễn Trân bày ra việc đấu lý mà thả Việt Cộng:

Vừa đặt chân đến Mỹ Tho, Trân lập tức thực hiện một pha ngoạn mục: tổ chức đấu lý giữa một số cán bộ cộng sản bị bắt, 14 Việt Cộng đưa trong khám ra tranh luận với tỉnh trưởng trước 2.000 người. Kể ra đó là một sáng kiến có giá trị nếu những người bị bắt không phải trải qua hằng tháng trời lấy khẩu cung cực kỳ thô bạo ở ty cảnh sát. Sáng kiến mau chóng biến thành màn dàn dựng và Nguyễn Trân, đạo diễn kiêm diễn viên. Báo chí tường thuật từng câu đối đáp và ai cũng biết kết quả: Cộng sản không có chính nghĩa. (12)


Phan Tùng Sơn, trong báo Quân đội Nhân Dân thuật lời Thiếu tướng Nguyễn Văn Khiêm (Nguyễn Duy Hoàng, bí danh Sáu Trí )-về cuộc đấu lý này :

Sáng hôm sau cuộc tranh luận được bắt đầu trước hàng ngàn người, mấy chục ký giả, quay phim, nhiếp ảnh và rất nhiều người từ Sài Gòn về dự. Loa phóng thanh phát oang oang. Nguyễn Trân hí hửng mở màn bài diễn thuyết của mình. Cứ sau mỗi phát biểu xuyên tạc của Trân lại có một ký giả phát biểu phản bác lại lập luận của hắn. Dần dần đuối lý, Trân nổi giận không còn đếm xỉa gì đến cái “bình đẳng, dân chủ” mà trước đó hắn đã nói, hắn chiếm luôn mi-crô rồi tuyên bố chấm dứt tranh luận. Hôm sau, một tờ báo ở Sài Gòn đăng bài với cái tít to tướng: “Tỉnh trưởng Nguyễn Trân bị thất bại thảm hại”. Trân bị một phen bẽ mặt. (13)..


Hoàng Hải Thủy nói rõ hơn việc Nguyễn Trân thả yếu nhân VC Trần Bach Đằng:

" Khoảng năm 1960 – tôi viết “khoảng năm” vì tôi không nhớ đúng năm, tôi viết “khoảng năm” để bạn đọc không chê tôi viết sai năm tháng — ông Nguyễn Trân, Tỉnh Trưởng Ðịnh Tường, bắt được một tổ Việt Cộng do tên Trần Bạch Ðằng cầm đầu. Tổ VC này tới 15, 16 người, trong số có hai người trong làng báo Sàu Gòn là Trần Chi Lăng và Văn Mạnh. Ðúng ra chỉ có Trần Chi Lăng là ký giả, Văn Mạnh là nhân viên trị sự toà báo Sàigonmới. Văn Mạnh là anh cháu họ của bà Bút Trà.Thay vì bắt được Việt Cộng, Công An Ðịnh Tường điều tra xong giải cả bọn lên Tổng Nha Cảnh Sát Công An Quốc Gia, ông Tỉnh Trưởng Nguyễn Lương lại mở một cuộc gọi là “đấu lý ” với bọn Trần Bạch Ðằng. Cuộc “đấu lý” được tổ chức vào một sáng chủ nhật ở Rạp Hát trong thị xã Mỹ Tho. Vì anh cháu Văn Mạnh, bà Bút Trà xuống thị xã Mỹ Tho “xem” cuộc “đấu lý.” Bà đi xe hơi nhà báo với cô Kim Châu, con gái bà. Tôi – H2T — với tư cách phóng viên Nhật báo Sàigonmới – com-lê ca-vát – đi theo.Trên sân khấu rạp hát, một bên là cái bàn dài cho khoảng 12 Việt Cộng ngồi, trong số có anh Trần Chi Lăng và anh Văn Mạnh. VC Trần Bạch Ð8àng ngồi giữa bàn. Tất cả đền bận quần áo xi-vin, tức sơ-mi, quần Tây, Bên kia sân khấu là cái bàn nhỏ một mình ông Tỉnh Trưởng Nguyễn Trân ngồi. Gọi là “đấu lý” nhưng tôi thấy chẳng có cái gì gọi là đấu, là lý. Ông Tỉnh nói thao thao bất tuyệt. Ông nói giọng người miền Trung, tôi nghe mà nhiều câu tôi chẳng hiểu ông nói gì. Ông nói cả giờ. Ông nói xong, Trần Bạch Ðằng nói vài câu. Tôi chẳng nhớ TB Ðằng nói cái gì vì một lẽ dễ hiểu là y nói vớ vẩn, nói cho có nói, y nói vì y không thể không nói.

Hôm nay, 50 năm sau buổi sáng tôi xem cuộc ông Tỉnh Trưởng Nguyễn Trân đưa bọn VC Trần Bạch Ðằng ra đấu lý trước công chúng, tôi ghi nhận:
Trần Bạch Ðằng không nói lời nhận tội, không xin khoan hồng.
Trần Bạch Ðằng không hứa nếu được thả bọn y sẽ không theo Việt Cộng nữa.
Ðược thả, Trần Bạch Ðằng đi ngay ra khu Việt Cộng, ký giả Trần Chi Lăng trở về Sài Gòn, chị vợ trẻ của anh – chị này cũng là phóng viên tờ nhật báo nào tôi quên tên – có anh chồng mới, anh chồng mới của chị cũng là ký giả, anh ký giả này trẻ tuổi, chưa vợ con;  anh Trần Chi Lăng sống yên phận và yên lặng ở Sài Gòn. Sau Tháng Tư 1975 tôi nghe nói anh được cho làm chủ một cái gọi là Cưả Hàng Ăn Uống ở Sài Gòn. Tôi không có dịp nào đến Cửa Hàng Ăn Uống có anh làm “chủ nhiệm.”
Chuyện cuối cùng tôi được anh em kể về Trần Chi Lăng là anh về ở nhờ nhà một  ký gả bạn anh, anh làm cô con chủ nhà có bầu. Cô này bằng tuổi con gái anh, anh bằng tuổi ông bạn ký giả chủ nhà. Văn Mạnh trở về làm trong tòa báo Sàigònmới. Nhân viên toà báo chẳng ai théc méc về chuyện anh theo bọn VC. Sau khi báo Sàigònmới bị Nguyễn Khánh đóng cửa, tôi và Văn Mạnh không lần nào gặp lại nhau. (14)

 Trong  Hồi Ký, Đỗ Mậu cũng viết về Nguyễn Trân: "Vào Mỹ Tho. Ông ta lại mở chợ phiên luôn mấy tháng và bày trò đấu lý với những người cộng sản đang bị giam. (15)

 An Ninh và Quân đội ta hành quân bắt được nhiều cán bộ cộng sản cao cấp  nhưng Ngô Đình Diệm bày ra vụ Nguyễn Trân đấu lý với cộng sản rồi thả ra.Trong số này có Trần Bạch Đằng. Ai đời ông Tỉnh trưởng lại đấu lý với tù nhân rồi tự tiện thả ra? Làm quận trưởng, tỉnh trưởng phải biết đó  tội chết. Nguyễn Trân làm việc này là do lệnh Nhu Diệm. Hai ông Diệm Nhu muốn bắt tay với Việt Cộng nên thả Việt Cộng gộc ra nên bày ra trò đấu lý. Cái trò giả dối này làm sao qua mắt của các thức giả!
Việc ông Tỉnh Trưởng Nguyễn Trân đưa bọn VC Trần Bạch Ðằng ra “đấu lý” trước công chúng là việc làm ngớ ngẩn. Giống như chuyện cổ tích, ông quan ra câu đối cho học sinh, học sinh đối được thì được thưởng tiền.  Ở đây cái  mục đich  nếu cộng sản công nhận là sai và ăn năn hối cải thì được thả ra. Tất nhiên thằng tù cộng sản nào cũng  mong được thả.
Làm quan thì phải xử tù theo luật , không có việc không xử mà đem ra đấu lý rồi thả. Muốn thả thì cứ thả, thiếu gì cách cần gì làm trò trẻ con như vậy! Tại sao các ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu và các cố vấn, luât sư Lâm Lễ Trình,, Trần Chánh Thành, Trần Trung Dung  thông minh tài ba lại để xảy ra việc này ư?  Em nhỏ lên ba cũng biết bọn Trần Bạch Ðằng sẽ không cãi lý với ông Tỉnh, bọn chúng biết xong cuộc “đấu lý” chúng sẽ được thả. Chúng không ngu gì mà cãi lý với ông Tỉnh. Và cả miền Nam ai cũng biết đó là chuyện hài hiện đại và thưởng thức cái thông minh của Diệm Nhu và các lãnh đạo tối cao!

Trong các tài liệu về Nguyễn Trân, các tài liệu của Việt Cộng thì khoe khoang, dối trá biểu lộ con người nhà báo, nhà văn cộng sản gian manh, lường gạt.

+Diệm Nhu thả Lê Duẩn.

Đỗ Trọng đã ghi chép các tài liệu về việc thả Lê Duẩn. Ông cho biết Tạp chí Đông Phương, phát hành miền Đông Hoa Kỳ tháng 8 năm 2001, từ trang 36 đến trang 40 do Cựu Tướng Lý Tòng Bá, người chỉ huy Sư Đoàn 7 của trận Ấp Bắc.Hành quân bắt được LÊ DUẨN nhưng cuối cùng được cố vấn Ngô Đình Nhu thả ra sao.(16)


Cũng trong bài trên, ông Đỗ Trọng ghi như sau theo hồi ký Huỳnh Văn Cao:
Từ tàu hải quân đến các cánh quân trung đoàn, radio thông báo cho nhau là đã bắt được Lê Duẩn.Tôi ra lệnh cho các tàu hải quân đem tất cả các người bắt được về Bộ Tư Lệnh Hành Quân, hãy đối xử lịch sự vơí họ? Và các cánh quân bắt đầu rút lui. Chiều lại, tôi giao cho Tư Lệnh Sư Đoàn 21 chỉ huy cuộc hành quân. Tôi và cố vấn Connor bay về Cần Thơ. ...Bắt được họ rồi, tôi đã ra lệnh cho cánh quân ngoài biển giải họ về cho tôi. Tôi điên gì mà ra lệnh thả họ đi".Chúng tôi sang phòng ăn, dùng bữa trưa. Mọi việc trắng đen trong các cuộc Hành Quân tại Sư Đoàn 7 và vùng IV Chiến Thuật là trung thực rõ ràng như vậy. Thế mà một số tác giả Mỹ đã nói rằng tôi nghe lời khuyến dụ của Tổng Thống Diệm nên đã để cho Việt Cộng chạy thoát trong các cuộc hành quân....Để cho rõ ràng Lê Duẩn do ai ra lệnh thả? tác giả viết thơ nhờ Cụ Lê Tấn Bửu, Cựu Thượng Nghị Sĩ VNCH, rất thân quen cũng là người hàng xóm với tướng Huỳnh Văn Cao ở Arlington, VA, Hoa Kỳ, để hỏi tướng Cao hư thực như thế nào? và may thay được Cụ Lê Tấn Bửu, cựu Thượng Nghị Sĩ VNCH gởi thơ cho biết như sau: (17)




4. DIỆM NHU VÀ THỦ HẠ THÔNG TIN CHO VIỆT CỘNG VÀ THAY ĐỔI KẾ HOẠCH HÀNH QUÂN ĐỂ CỨU VIỆT CỘNG


Đỗ Trọng ghi lại Hồi Ký Huỳnh văn Cao:

Tướng Huỳnh Văn Cao còn cho biết cả Đại tướng Harkins cũng nghi ngờ TT Diệm. Bởi vì cuộc hành quân nào của QLVNCH sắp mở ra mà báo cho Tổng Thống phủ thì VC đều biết trước! Cho thấy người Mỹ, CIA đã biết và theo dõi bám sát ông Ngô Đình Nhu từ lâu. Và người Mỹ nhiều lần đòi Tổng Thống Diệm loại trừ ông Nhu. Các tướng lãnh cũng đòi loại trừ ông Nhu nhưng ông Diệm cương quyết giữ ông Nhu! (18).

Huỳnh Văn Cao cũng nói đến kế hoạch hành quân của ông bị thay đổi : "Sau khi tôi rời Bộ Tổng Tham Mưu thì kế hoạch laị hoàn toàn đổi mới. Bộ Tổng Tham Mưu cho một lực lượng nhảy Dù gồm 2 đại đội, có một bộ phận chỉ huy, sắp xếp như vậy thì ĐÚNG sách vở, mà KHÔNG ĐÚNG với thực tế chiến trường. Chờ cho máy bay chuẩn bị đầy đủ để chở một lực lượng Nhảy Dù thì gần hết ngày, thả quân Dù xuống mặt trận thì trời sắp tối, và khi máy bay thả Dù xong thì trời tối om. Có số nhảy xuống đúng DZ, nhưng chỉ để nằm tại chỗ qua đêm, có số mắc tòn ten trên cây (Một kiếp người 19) (19).


5. DIỆM NHU THIÊU LÀM SUY YẾU LỰC LƯỢNG QUỐC GIA


Đỗ Mậu đã nói rõ về hành vi Ngô Đình Diệm phá hoại quốc gia.

"Không những chỉ tiêu diệt các đảng phái là những tổ chức đấu tranh chính trị, chính quyền Ngô Đình Diệm còn thực hiện chính sách tiêu diệt các tôn giáo khác, vốn là sức mạnh và nền tảng xã hội của quần chúng miền Nam. Nhân những biến động quân sự của các giáo phái võ trang vào những năm đầu mà chủ yếu do Bình Xuyên và một vài lực lượng võ trang chủ xướng, ông Ngô Đình Nhu đã cố tình đồng hóa các lực lượng võ trang phiến loạn này với toàn bộ các tôn giáo của miền Nam (địa dư) mà biểu tượng là Cao Đài và Hòa Hảo. Không phát xuất từ quan niệm Yêu Nước là Yêu Dân, không chủ xướng chính sách Dân Có Mạnh Nước Mới Giàu, nên chính quyền Ngô Đình Diệm đã xem dân như một phương tiện để phục vụ chế độ, đã phải xem dân như kẻ thù, chỉ sợ quần chúng mạnh thì sẽ cướp mất cái chính quyền đang đem lại đặc quyền đặc lợi cho gia đình và phe đảng. Vì vậy chính quyền Diệm mới phải tiêu diệt Hòa Hảo, đánh phá Cao Đài và cuối cùng khai chiến với Phật giáo. Mục đích tối hậu của chủ trương này là để Công giáo hóa nhân dân miền Nam, dành cho Công giáo ngôi vị độc tôn." (20)


Đỗ Mậu còn kết tội Diệm Nhu và Thiệu đã làm suy yếu lực lượng quốc gia bằng cách dùng những người Thiên Chúa giáo bất tài: và sa thải, đày ải các phần tử Phật giáo ưu tú:

Thành phần nhân sự Công giáo và thuộc-chế-độ-Diệm cũ không chỉ nắm chức vụ lãnh đạo để khuynh loát ngành Lập pháp, mà quan trọng hơn, còn cả trong ngành Hành pháp: Bộ trưởng Đặc Trách Liên Lạc Quốc Hội nằm trong tay ông Cao Văn Tường, một người trung thành với nhà Ngô đã từng được ông Ngô Đình Nhu cho làm Đệ Nhất Phó Chủ tịch Quốc Hội thời Đệ Nhất Cộng Hòa.

Bộ Ngoại Giao thì do các ông Trần Chánh Thành, Trần Văn Lắm hay Vương Văn Bắc thay phiên nhau cầm đầu mà ông Thành và ông Lắm ai cũng biết là thuộc hạ nhà Ngô cũ. Bộ Ngoại giao là một bộ phụ trách việc vận động quốc tế, tranh thủ dư luận thế giới yểm trợ Việt Nam Cọng Hòa, nhất là trong giai đoạn phải thương thuyết với Hà Nội và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Nhưng nhìn lại dĩ vãng ta thấy các nhà ngoại giao của chúng ta chỉ coi sinh mạng quốc gia là trò đùa. Ông Trần Văn Lắm đi phó hội tại Paris thì chỉ vênh vang lập lại lời tuyên bố “Hòa bình đã trông thấy ở cuối đường hầm” của Kissinger mà thôi, mặc dầu những điều kiện hòa bình đó chỉ giúp mở cửa cho Cộng Sản dễ dàng tấn chiếm miền Nam. Còn ông Vương Văn Bắc mới lên giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao được ít tháng đã vội vã cho vợ con xuất ngoại an cư ở nước ngoài và thỉnh thoảng mượn cớ công du để đi thăm. Hậu ý của ông là khi có biến, ông có thể trốn thoát dễ dàng không bận bịu thê nhi. Cái hậu ý đó nói lên rõ ràng việc ông biết lo cho gia đình trước khi lo cho một quê hương mà ông biết như lá vàng sắp rụng.


Bộ Thông Tin dĩ nhiên phải để cho ông Ngô Khắc Tỉnh, học trò cũ của Giám mục Ngô Đình Thục và là cựu Dân biểu gia nô thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Nhưng khi số trường đại học, trung học, số trường kỹ thuật được Hoa Kỳ và các nước đồng minh gia tăng viện trợ thì ông Thiệu bèn hoán chuyển ông Ngô Khắc Tỉnh qua nắm Bộ Giáo Dục để có thể kiểm soát lực lượng giáo chức và thanh niên sinh viên, vốn là lực lượng tiền phong luôn luôn dễ dàng nổi loạn. Để ông Tỉnh có đủ uy tín đối phó với lớp trí thức khoa bảng, ông Thiệu cử một phụ tá cũng khoa bảng giúp Tỉnh và dĩ nhiên vị phụ tá này phải là một tín đồ Công giáo gốc Huế, thân tín với chế độ cũ: ông Bùi Xuân Bào......

" Thiệu đã vá lại được mạng lưới Cần Lao Công Giáo bị rách vào năm 1963 để phủ xuống một quân lực mà các thành phần ưu tú và trong sạch nhất thì nằm ở tuyến đầu khói lửa chứ không phải tại các phủ bộ ở thủ đô Sài Gòn.(21)


Nguyễn Chánh Thi kết tội chính phủ Ngô Đình Diệm:

- bóp nghẹt tự do báo chí, đàn áp đảng phái (38). Các sĩ quan hay dân chúng theo Việt Nam Quốc Dân đảng thì bị bắt như trung úy Nguyễn Thế Phồn [67], ông Phạm Hữu Anh [108].

-Gia đình họ Ngô dùng thế lực để tranh các vụ đấu thầu, để mua rẻ các bất động sản ở Huế như vụ khách sạn Morin.

-Bà Ngô Đình Nhu buôn lậu hạt xoàn tại Pháp, anh em ông Diệm và Trần Kim Tuyến chuyển ngân bất hợp pháp ra ngoại quốc [70].

- Các quận trưởng quân sự bắt dân đóng góp và tác oai tác quái khiến dân ngả theo cộng sản (66). Cứ mỗi Bảo An hay Dân Vệ chết, mỗi người dân phải đóng 5 đồng [72].
- chính quyền Ngô Đình Diệm tin dùng sĩ quan trung thành hơn là sĩ quan có khả năng chiến đấu [40]. (22)


Ông cho biết cảm nghĩ của ông trước sự gian ác, kỳ thị tôn giáo, và phản bội của chính quyền Ngô Đình Diệm, đồng thời ông cũng nói lên lý do của cuộc đảo chánh:

Sở dĩ từ lâu chúng tôi muốn dẹp bỏ mọi nỗi bất bình là vì muốn bảo tồn chủ lực quốc gia để thanh toán kẻ thù số một của đất nước là cộng sản. Nhưng nhận xét sự hy sinh của chúng tôi trở thành vô nghĩa nếu không muốn nói là ngu muội, mù quáng, khi chúng tôi được biết chính
những kẻ mệnh danh là lãnh đạo quốc gia đang trực tiếp nối dáo cho quân thù để giết hại chúng tôi. Những kẻ từng ngày từng giờ tuyên bố vì dân vì nước đã đặt quyền lợi riêng tư của gia đình và phe đảng lên trên quyền lợi tối cao của Tổ quốc. Chúng đang xây dựng sự nghiệp giàu sang trên xương máu quân đội và nhân dân Việt Nam . Chúng tôi tình cờ khám phá ra sự thật đau lòng ấy trong cuộc hành quân vào chiến khu D {23)


Nguyễn Việt Nữ trích dẫn tài liệu của Nguyễn Trân trong Công và Tội như sau

Tác giả Nguyễn Trân viết nơi trang 331 mà PSGĐ đề cập trên, nguyên văn: "Số đồn bót bị rút hẹp lai theo kế hoạch của Ngô Đình Nhu, bỏ ngỏ một phần lớn các xã thôn cho Cộng Sản. Dân vệ phải nạp võ khí tốt để nhận vũ khí thô sơ và dao găm, nên không đủ khả năng tự vệ cho chính họ chứ chưa nói tới việc bảo vệ dân chúng. Đây là cơ hội bằng vàng cho Cộng Sản thi hành chính sách khủng bố, ám sát Hội đồng Xã, tấn công các đồn bót và phục kích các đoàn quân chính quy, gây ra cảnh bất an khắp nơi”. (24)


6. CUM TÌNH BÁO A 22 TRONG DINH ĐỘC LẬP .


Nhiều tài liệu cho biết Phạm Xuân Ẩn, Vũ Ngọc Nha, Phạm Ngọc Thảo và các điệp viện cộng sản đều ở dưới trướng của Giám mục Lê Hữu Từ, được Hoàng Quỳnh can thiệp và được các linh mục nuôi dưỡng, che giấu.


Lê Xuân Nhuận nói đến vai trò “Nhóm Giáo Dân Tranh Đấu” nằm trong tay LM Hoàng Quỳnh, người đã tuyên bố: “Thà mất nước chứ không thà mất Chúa”. Rằng Tổng Thống Thiệu đã sử dụng Vũ Ngọc Nhạ làm liên lạc viên giữa mình và “Nhóm Giáo Dân Ki-Tô giáo ”, nhằm tìm chỗ dựa chính trị cho mình. Vũ Ngọc Nhạ, một điệp viên Cộng Sản, trở thành “ông Cố vấn” lần hai, mạnh hơn thời làm “Cố vấn” cho cố Tổng Thống NĐ Diệm. Tháng 7-1969, Cảnh Sát Quốc Gia phá vỡ Cụm tình báo chiến lược A-22 của đối phương, bắt giữ Vũ Ngọc Nhạ, (kẻ được Linh Mục Hoàng Quỳnh che chở) và Huỳnh Văn Trọng là Phụ tá của TT Thiệu, tất cả 42 cán bộ và cơ sở điệp báo, hoạt động sâu rộng và có ảnh hưởng trong nhiều cơ quan chính quyền cũng như các tổ chức chính trị.

Vụ án được đưa ra xét xử tháng 11-69, thế mà vào tháng 6-1971, khi bị chính phủ Nguyễn Văn Thiệu cầm tù ngoài Côn Đảo còn được Tòa thánh Vatican và Giáo hoàng Paulus VI tặng Bằng Khen và Huy chương "Vì hòa bình" ... ..Tháng 7-1969, Cảnh sát quốc gia phá vỡ cụm tình báo chến lược A 22 của đối phưong, bắt giữ Vũ Ngọc Nhạ, và Huỳnh Văn Trọng là phụ tá của Tổng thống Thiệu, tất cả 42 c án b ộ và cơ sở điệp báo, hoạt động sâu rộng và có ảnh hưởng nhiều cơ quan chính quyền cũng như các tổ chúc chính trị. Vụ án được đưa ra xét xử vào tháng 11-1968.Thế mà tháng 6-1971, trong lúc Nhạ c òn ở t ù Côn đ ão, y đã được tòa thánh Vatican và giáo hoàng Phao lồVI ban tặng bằng khen và huy chương "Vì hòa bình".(25)


Trúc Giang cho biết chính Nguyễn Văn Thiệu, LM Hoàng Quỳnh đã tiếp tay cho cụm A22 trong dinh Độc Lập.

"Một bất ngờ của vụ án là TT Thiệu không tin đó là sự thật mà cho là CIA đã dàn cảnh. Do đó, thời gian Vũ Ngọc Nhạ bị đày ở Côn Đảo thì TT Thiệu đã triệu hồi viên tỉnh trưởng Côn Sơn về Saigon và thay thế vào đó một người thân tín của mình để có điều kiện chăm sóc cho Vũ Ngọc Nhạ và Huỳnh Văn Trọng như là những thượng khách. Vì thế, Vũ Ngọc Nhạ đã đánh giá:"Đó là một cuộc dạo chơi trên Thiên Đàng".

* Tiếp tục hoạt động

Đầu năm 1973.Vũ Ngọc Nhạ và Huỳnh Văn Trọng được đưa về khám Chí Hòa, Saigon. Trong thời gian ở Chí Hòa, nhờ sự giúp đở của LM Hoàng Quỳnh, Vũ Ngọc Nhạ móc nối, bắt bắt liên lạc với nhóm "Thành Phần Thứ 3" của Dương Văn Minh." (26)


Về Phạm Ngọc Thảo, Trúc Giang cho biết:

Phạm Ngọc Thảo có một hàng rào bảo vệ rộng lớn từ các Xứ Đạo Biên Hòa, Hố Nai, Thủ Đức, Saigon. Có nhiều linh mục giúp đở in ấn và phát hành. Chính quyền Thiệu-Kỳ kết án tử hình và treo giải thưởng 3 triệu đồng cho ai bắt được Thảo.

Võ Văn Kiệt (Sáu Dân) kể lại "Tôi thấy Thảo gặp khó khăn nên đi tìm anh để đưa về chiến khu, nhưng anh bảo vẫn còn khả năng đảo chánh để ngăn chận việc đế quốc Mỹ đưa quân viễn chinh vào miền Nam". (Võ Văn Kiệt)
Lâm Văn Phát ra trình diện và chỉ bị cách chức.
Phạm Ngọc Thảo phải trốn nhiều nơi, cuối cùng bị bắt tại Đan Viện Phước Lý, xã Vĩnh Thanh, quận Nhơn Trạch, Biên Hòa.
Lúc 3 giờ sáng ngày 16-7-1965, Thảo vừa ra khỏi Đan Viện Phước Lý thì bị An ninh Quân Đội phục kích bắt và đưa về 1 con suối nhỏ gần Biên Hòa để thủ tiêu. Tuy nhiên, Thảo không chết, chỉ bị ngất xĩu vì đạn trúng vào càm. Khi tĩnh dậy, Thảo lê lết về một nhà thờ và được Linh mục Cường, Cha Tuyên Uý của Dòng Nữ Tu Đa Minh cứu chữa.
Và Thảo bị phát giác, bị đưa về Cục An Ninh QĐ đường Nguyễn Bĩnh Khiêm. Thảo bị tra tấn cho đến chết vào đêm 17-7-1965. 43 tuổi. (27)


Nguyễn Đức Vinh (An Ninh Thế Giới) viết về vụ án Vũ Ngọc Nhạ:

Cả 4 người chủ chốt gồm: Nhạ, Trọng, Thúy, Hòe đều bị kêu án khổ sai chung thân, đày ra Côn Đảo. Ngoạn mục hơn nữa, ngày 23-6-1971, tại Roma có một đại lễ cầu nguyện cho những ân nhân của Giáo hoàng, Phêrô Vũ Ngọc Nhạ đã được ghi nhận "người con hiếu thảo của Chúa, vệ sĩ nhiều công đức của Giáo hội, ân nhân của Giáo hoàng Paul VI", được Đức Thánh Cha ban ơn chết lành, tặng bằng khen và huy chương của Giáo hoàng. Hai ngày sau, 25-6, một linh mục khâm sai của Vatican đã vào tận khám Chí Hòa trao tặng các phần thưởng cho Vũ Ngọc Nhạ.

Sự tưởng lệ của Giáo hoàng Paul VI đã giúp Vũ Ngọc Nhạ dù đang ngồi tù, uy tín vẫn tăng vùn vụt. Suốt những năm nhà tình báo chịu cảnh lưu đày tại Côn Đảo, hàng loạt dân biểu, chính khách, chức sắc tôn giáo và cả cha tuyên úy trong quân đội Mỹ đều viết thư, nhắn hoặc ra tận nơi để thăm hỏi và xin Vũ Ngọc Nhạ cho ý kiến!

Chiều ngày 23-7-1973, Vũ Ngọc Nhạ được trao trả tại Lộc Ninh, với danh xưng là "linh mục Giải phóng". Cho đến lúc đó, khắp miền Nam Việt Nam vẫn không một kẻ nào nghi ngờ vị trí, ảnh hưởng của anh trong chính trường miền Nam. Linh mục Hoàng Quỳnh và nhiều vị chức sắc khác của nhà thờ Vatican vẫn đều đặn từ Sài Gòn liên lạc với anh ở vùng giải phóng. Niềm tin lớn đến mức, ngày 12-11-1974, vị linh mục chống Cộng khét tiếng Hoàng Quỳnh còn sẵn lòng theo chân Liên - con gái lớn của Vũ Ngọc Nhạ - ra vùng căn cứ của ta ở Đồng Lớn (Trung Lập Thượng, Củ Chi) để cùng anh bàn bạc về lực lượng thứ 3 và chính phủ ba thành phần ớ miền Nam theo Hiệp định Paris.


Và chính với tư cách của một người thuộc lực lượng thứ 3, trưa ngày 30-4-1975, Vũ Ngọc Nhà đã đứng cạnh Dương Văn Minh khi viên Tổng thống cuối cùng của chế độ Sài Gòn tuyên bố đầu hàng Cách mạng vô điều kiện. Vào phút đó, với tâm trạng rối bời, Tổng thống cuối cùng đã không hề để ý thấy một chi tiết: Con người nhỏ bé đứng bên cạnh ông ta đang nở một nụ cười, nhẹ nhàng nhưng rất tươi tắn và mãn nguyện - nụ cười của người chiến thắng. (28)


Như các tài liệu trên đây chứng tỏ việc này nhiều người biết chứ không phải một ai tung tin vịt để làm mất uy tín Vatican và  họ Ngô. Việc biểu dương này chứng tỏ Vatican từ lâu đã ủng hộ cộng sản,.


7. NGÔ ĐÌNH DIỆM BẮT TAY VỚI CỘNG SẢN


Khoảng 1960, ngưòi Mỹ đã thấy rõ con người tham lam, lạm quyền thế của vợ chồng Ngô Đình Nhu nên đã khuyến cáo vợ chồng y nên đi ra nước ngoài. Tức giận vì bị người Mỹ ngăn cản hành động của vợ chồng y nên Ngô Đình Nhu càng lộng hành hơn, tỏ ra thách đố với người Mỹ. Tâm lý của Ngô Đình Nhu là tâm lý trả thù , tâm lý làm liều của kẻ cùng quẫn.

Sau 1960, Ngô Đình Diệm  bị đảo chính nhưng lại được an toàn. C ó thể do người Mỹ can thiệp, có thể do Nhu Diệm bên ngoài thỏa hiệp nhưng bên trong có mục đich trì hoãn chờ cầu viện. Việc này đã giúp Diệm Nhu trở lại chính quyền, và vợ chồng Nhu trở nên kiêu căng cuả kẻ đại thắng.

Về việc tập đoàn Ngô Đình Diệm mật đàm với cộng sản dã có nhiều tài liệu đề cập đến. Khởi đầu có lẽ là Mặc Đỗ trong cuốn Bốn Mươi xuất bản tại Sài gòn sau 1963 . Trung tướng Trần Văn Đôn cũng như Mặc Đỗ đã nói đến việc đại sứ Ba Lan Manelie, và Robert Shaplen đứng ra làm trung gian mật đàm giữa Hà Nội và Sàigòn.


Đỗ Mậu cho biết có 4 nguyên nhân khiến Diệm Nhu bắt tay với cộng sản.

Trong lúc biến cố Phật giáo đang sôi nổi thì trong giới chính trị và tình báo tại Thủ đô Sài Gòn có hai vấn đề cũng được thảo luận và theo dõi gần như công khai. Đó là nguồn tin về những vận động của chính quyền Nhu–Diệm nhằm thỏa hiệp với Cộng Sản Hà Nội và những tin tức về các cuộc đảo chánh có thể xảy ra.

Sài Gòn như lên cơn sốt mùa hè với những tin đồn phóng đại, những giả thuyết đầy mâu thuẫn và những vận động ngầm sôi nổi. Đề tài về âm mưu thỏa hiệp với Hà Nội là đề tài nóng bỏng nhất vì không những nó liên hệ đến chế độ Diệm mà còn trực tiếp tạo nhiều hệ quả lớn lao cho vận mệnh của miền Nam Tự Do.


Sau cách mạng 1–11–1963, các bí mật từ từ lộ ra qua các tài liệu Việt Nam và quốc tế, những nhân chứng trong cuộc cũng từ từ tiết lộ những sự kiện cụ thể để ta có thể nghiêm túc trình bày lại diễn tiến của âm mưu này, cũng như để ta có thể chín chắn suy nghiệm về biến cố mà hai anh em Nhu–Diệm đang từ theo Mỹ đến chống Mỹ và đang từ chống Cộng đến thỏa hiệp với Cộng.

Âm mưu thỏa hiệp với chính quyền Cộng Sản Hà Nội của chế độ Diệm là một trong những động cơ quan trọng, nếu không muốn nói là động cơ thách đố nhất, thúc đẩy quân đội cùng với toàn dân đứng lên làm cuộc cách mạng 1–11–63. để ngăn chận và trừng phạt dòng họ Ngô Đình. Chính âm mưu này đã là nguyên động lực làm cho nhiều tổ chức chống chế độ có thể đoàn kết hợp tác với nhau mà không ngại ngùng, và đến khi tiếng súng cách mạng phát khởi thì các đoàn thể quần chúng và nhân dân cả nước cũng đều một lòng yểm trợ cho cuộc cách mạng lật đổ Ngô triều thành công.


Có nhiều nguyên nhân dẫn đến quyết định thay đổi lập trường và chính sách chống Cộng của hai anh em ông Ngô Đình Diệm nhưng tựu trung có thể gồm lại trong bốn điểm chính: thứ nhất là sự chống đối càng lúc càng quyết liệt của nhân dân và các lực lượng chính trị đối lập tại miền Nam; thứ hai là áp lực càng lúc càng nặng nề của lực lượng chính trị võ trang của kẻ thù Cộng Sản; thứ ba là sự căng thẳng trong mối bang giao Việt–Mỹ mà những đổ vỡ có thể mang đến các di hại trầm trọng; và thứ tư, quan trọng nhất, là bản chất thủ đoạn cũng như tính chủ quan của ông Ngô Đình Nhu. Nếu chỉ có một, hay hai, hay cả ba nguyên nhân mà thôi thì chưa chắc hai ông Diệm–Nhu đã thỏa hiệp với Cộng Sản, nhưng vì bốn nguyên nhân vừa khách quan vừa chủ quan này đã, chậm chạp nhưng chắc chắn, cùng phối hợp với nhau nên đã đánh bật lập trường chống Cộng của anh em Ngô Đình, dù từ lâu mối thù giết anh ruột đã bắt gốc rễ vào tâm trí họ, và dù sự nghiệp chính trị của họ được xây dựng trên quyết tâm chống Cộng của quân dân miền Nam. (29)


Trung tướng Trần Văn Đôn đã cho biết việc ông Nhu tiếp xúc với Phạm Hùng:

"Đầu tháng hai, 1963, trung tá Bường, tỉnh trưởng Bình Tuy dùng xe Dodge 4x4 chở ông Nhu và ông C. đi săn. Trung tá Bường đưa ông Nhu đến chỗ hẹn. Đến nơi trung tá Bường và ông C. chờ ngoài xe. Chỉ có ông Nhu vào. Người đương nói chuyện là Phạm Hùng, có hai ngưòi nữa ngồi bên cạnh. Ông Nhu hứa khi nối xong xe lửa thì bà Nhu và Ngô Đình Lệ Thủy sẽ đi xe đầu tiên ra Hà Nội."(30)


Việc mật đàm là chuyện bí mật nhưng anh em ông Diệm đã cố ý khoe cho mọi người biết. Đó là chuyện cành đào mừng xuân. Trần Văn Đôn cho biết đầu năm quý mão (1963), tổng thống Diệm chỉ một cành đào trong dinh Độc lập và bảo đó là của Văn Tiến Dũng gửi (31).


Theo Cao Thế Dung , bà Tố Liên ở Sài gon, có chồng là bạn với Ngô Đình Nhu, đuợc Ngô Đình Nhu trao cho nhiệm vụ sang Vientiane, trao một bức thư cho môt người từ Hà Nội sang, vốn là bạn cũ của Ngô Đình Nhu, trước cùng làm ở thư viện Hà Nội. Tết quý mão cũng người này đem cây mai quý của Hồ Chí Minh qua Hồng Kông, rồi qua Lào, từ Lào vào Saigon tặng Ngô Đình Diệm. Cao Thế Dung dã hỏi Trần Kim Tuyến, Cao Xuân Vỹ thì hai ông đều phủ nhận việc họ Ngô mật đàm với cộng sản mà chỉ có thể là sự thăm dò.(32)
Nhiều tài liệu khác lại nói là của Hồ Chí Minh gửi cành mai. Dù ai thì cũng là cộng sản trung ương gửi, dù mai hay đào cũng không có gì khác biệt nhưng đó là một sự kiện chứng thực việc mật đàm giữa ông Diệm và cộng sản. Tại sao ông Diệm lại công khai nói điều này? Ông tin chắc là mật đàm đã thắng lợi, ông đã thoát khỏi gọng kìm của' đế quốc Mỹ'? Ông càng kiêu căng, thách đố thì ông càng chết sớm!


Người Mỹ có biết việc tập đoàn Ngô Đình Diệm thỏa hiệp với cộng sản không ? CIA Mỹ nhất định là biết. Tài liệu của Ngũ Giác Đài cho thấy là họ đã được báo động về hành vi phản bội của Ngô Đình Diệm đối với tổ quốc Việt Nam và nước Mỹ.

Sự báo động của người Mỹ về những ý định của chế độ ông Diệm gia tăng kể từ tháng 9 năm 1963. Trong tháng ấy, các bản tường trình được công bố tiết lộ rằng ông Diệm đã bí mật hội kiến với một nhà ngoại giao người Pháp, đuợc cử sang Hà Nội, sau khi chủ tịch Bắc Việt Hồ Chí Minh công khai đề cập đến một cuộc ngưng bắn có thể có trong cuộc chiến, và tổng thống De Gaulle ở Ba Lê bất thần kêu gọi mới, loại bỏ hết ảnh hưởng ngoại quốc khỏi toàn thể Việt Nam (33).


Theo tài liệu Ngũ Giác Đài, Ngô Đình Nhu đã nửa úp nửa mở khi tuyên bố với báo chí:

"Đại diện Ba Lan trong ủy hội quốc tế kiểm soát đình chiến tại Việt Nam là ông Miecayslaw Manelli, tiếp theo đó có gặp ông Nhu, và có tin đã mang theo một thư của thủ tướng Bắc Việt. Ông Nhu tuyên bố rằng trong thư ấy thủ tướng đã xin tôi mở các cuộc thương thuyết trên căn bản đề nghị ngưng bắn của Hồ Chí Minh và đã nêu ra nhiều chi tiết có thể coi hầu như là một đề nghị hấp dẫn "(34).


Tuy nhiên, tình báo của Trung Hoa quốc gia thì quả quyết có sự tiếp xúc giữa ông Nhu và Phạm Hùng ở rừng Lá Phan Thiết năm 1962. Ông Vương Vũ Văn,trưởng lưới tình báo Trung hoa quốc gia tại Chợ Lớn khi về Đài Loan, được Tưởng Kinh Quốc cho xem tài liệu của CIA về ngày giờ và địa điểm ba lần ông Nhu gặp Phạm Hùng và một sứ giả đặc biệt của Hồ Chí Minh từ Hà Nội vào. Và cũng theo Cao Thế Dung, Lưu Thành Hữu, cựu sĩ quan tùy viên của ông Nhu, vào năm 1970 kể lại chi tiết với tác giả việc ông Nhu gặp Phạm Hùng ở Rừng Lá trong một chuyến đi săn mà Lưu Thành Hữu được tháp tùng vì ông là chuyên viên săn bắn "(35) .


Đỗ Mậu đã viết đầy đủ nhất về việc Ngô Đình Diệm bắt tay với cộng sản .Ông kể rõ mọi việc từ việc đại sứ Ba Lan , Ấn Độ và Pháp đã cùng nhau giúp Nhu Diệm mật đàm, và cuộc trao đổi giữa ông và Võ Văn Hải bí thư ông Diệm:

"Ông cụ và ông Nhu đã thay đổi lập trường rồi anh Mậu ơi. Bây giờ là chống Mỹ, bắt tay Pháp để nói chuyện với Hà Nội, chúng ta làm gì chứ? "(36).


Một tài liệu rất đặc biệt, đó là tác phẩm Ngô Đình Diệm , nỗ lực hòa bình dang dở của Nguyễn Văn Châu nói về việc ông Diệm và ông Nhu tiếp xúc với cộng sản. Tập tài liệu này là luận án cao học về sử học của ông ở đại học Paris VII, nhan đề tiếng Pháp là Ngô Đinh Diêm En 1963: Une Autre Paix Manquée . Ông Nguyễn Văn Châu là người phủ Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, là người đồng châu và đồng tôn giáo với ông Diệm. Năm 1961, ông thăng trung tá, và làm chủ tịch quân ủy Cần Lao, đồng thời là giám đốc cơ quan phụ trách tuyên truyền bí mật ở miền Bắc Việt Nam. Ông lấy bà chị của Trần Lệ Xuân, là Trần Lệ Chi nhưng bàn dân thiên hạ lúc đó kháo nhau rằng bà Lệ Chi yêu người khác, một Pháp kiều, hai bên ly dị. Vì việc này, bà Nhu ban hành luật gia đình cấm đàn ông bỏ vợ, đàn bà bỏ chồng, nhưng ông Châu bất tuân luật gia đình, bỏ sang Pháp học và tiếp xúc với cộng sản như thầy Nhu và Diệm của ông. Cái nhan đề tiểu luận và lời nói đầu của ông đã công nhận việc hai ông Diệm Nhu liên lạc với cộng sản là có thực.


Ông viết:

"Ít người biết rõ là trong năm 1963, Ngô Đình Diệm và Hồ Chí Minh đã chuẩn bị cho một thỏa ước ngầm để chấm dứt cuộc chiến anh em bắc nam, đồng thời loại bỏ sự can dự của ngoại quốc "(37).

Nguyễn Văn Châu vốn là đệ tử họ Ngô, lại dày công tìm đọc ở thư viện Pháp, thư viện quốc hội Mỹ và gặp gỡ các viên chức tình báo Mỹ cho nên tài liệu của ông rât đáng tin cậy. Ông đã cho ta biết về việc Ngô Đình Diệm mật đàm với cộng sản như sau:

Không khí căng thẳng mà William Colby , Richard Nixon và một số tác giả, bình luận gia khác cảm nhận đó, trở nên sôi nổi khi các cơ quan thông tấn và thông tin Mỹ mở chiến dịch chống đối chính quyền Ngô Đình Diệm nhân vụ Phật giáo nổi dậy. Sự chống đối người Mỹ càng lúc càng lớn mạnh cho hiểu tại sao tổng thống Diệm đã để cho ông Nhu nối lại dây liên lạc bằng hữu với nước Pháp để đi đến thỏa hiệp với anh em thù hận Bắc Việt đồng thời vẫn giữ thành đồng chống cộng tại Đông Nam Á.


Kể từ tháng 6-1963, vài liên lạc và thảo luận được thiết lập giữa hai chính phủ Nam và Bắc Việt qua trung gian của đại sứ Ấn Độ Ram C.Goburdhyn và đại sứ Ba Lan Mieczylaw Maneli thuộc Ủy Hội quốc Tế kiểm Soát Đình Chiến đưọc thành lập sau hiệp định Genève 1954. Trong cuộc phỏng vấn dành cho nhà báo thiên cộng người Úc Wilfred Burchett vào tháng 7 năm 1963, Hồ Chí Minh tuyên bố:


-"Sự can thiệp ngoại bang phải chấm dứt. Trong viễn tượng đó, cuc ngưng bắn sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp. Dù sao đi nữa, ông Diệm vẫn là một ngưòi yêu nước dù theo cách của ông ta. Cũng theo Wilfred Burchett, trong hai năm cuối cùng của chế độ Ngô Đình Diệm, đại sứ Pháp ở Sài gòn Roger Lalouette đã yết kiến thường xuyên ông cố vấn Ngô Đình Nhu, có lúc kéo dài nhiều giờ. Không ai biết rõ nội dung của những cuộc gặp gỡ này, nhưng bắt đầu có dư luận tung tin chính sách của người Mỹ ở miền Nam Việt Nam trong thực tế nhằm che dấu một âm mưu nhắm thanh toán anh em tổng thống Diệm. Một thời gian ngắn sau đó có một sự kiện khá bất thường xảy ra. Chính quyền Băc Việt vẫn cấm tất cả mọi chuyến bay trực tiếp từ Hà Nội vào Sài gòn, nay cho phép tổng lãnh sự Pháp ở HàNội Jacques de Burzon bay vào Sài gòn để gặp tổng thống Diệm. Đại sứ Lalouette đưa ông tới dinh Gia Long trình bày với tổng thống Diệm rằng Hồ Chí Minh không còn coi ông là kẻ phản bội, bù nhìn trong tay người Mỹ mà nói về tổng thống Diệm như một con người tốt, một người Việt yêu nước dù thế nào đi nữa. Ngày 29-9-1963, tướng De Gaulle tuyên bố đề nghị một giải pháp cho vấn đề Việt Nam, sau đó đại sứ Lalouette siêng năng tới yết kiến ông cố vấn Nhu thường xuyên hơn nữa và nhắc nhở ông Nhu nắm lấy cơ hội đề nghị của tổng thống Pháp. Trong khi đó, đại sứ Ba Lan Mieczylaw Maneli thuộc Ủy hội quốc tế Kiểm soát đình chiến, nhìn nhận ông Nhu là một lý thuyết gia đứng đắn duy nhất ngoài thế giới cộng sản, về du kích chiến, đã đến gặp ông cố vấn để đưa tin riêng của thủ tướng Bắc Việt Phạm Văn Đồng.


Khi về đến Sài gòn để dự đám táng người em linh mục của tôi bị tử nạn lưu thông tại Vũng Tàu, tôi được biết sứ điệp này có thật. Một phụ tá thân cận của ông Nhu cho tôi hay những liên hệ giữa một bên Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng, một bên Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu không còn là liên hệ giữa kẻ thù địch với nhau mà trở thành bạn . . .Phạm Văn Đồng đưa đề nghị mở những cuộc thương thảo trên căn bản đề nghị ngưng chiến của Hồ Chí Minh, đề nghị thảo luận về những liên lạc kinh tế buôn bán giữa hai miền, vấn đề chính trị sẽ giải quyết sau. Ngoài ra hai bên còn trao đổi sứ điệp bằng cassettes giữa Hồ Chí Minh và Ngô Đình Diệm ( Những cassettes này hiện đuợc lưu trữ tại một viện đại học ở California, theo lời xác nhân của sư huynh giáo sư Gaselin Mai Thông Tâm khi tôi gặp sư huynh tại Orlean vào năm 1965. Những chi tiết này được hai ông Cao Thế Dung và Trần Kim Tuyến ( tức Cao Vị Hoàng và Lương Khải Minh) tác giả cuốn "Làm Thế Nào Để Giết Một Tổng Thống "xác nhận. Một người từng làm giám đốc Phòng Nghiên Cùu chính trị thuộc phủ Tổng thống, người kia từng là nhân viên phủ tổng thống (38).


Nguyễn Văn Châu tiếp theo cho chúng ta biết những điều sau:

- Ông Nhu tiết lộ với thị trưởng Đà Lạt Trần Văn Phước vào tháng 9-63, nhân cuộc đi săn cọp có sự tham dự của đại sứ Lalouette : Đã tới lúc phải hành động cách khác.

Với việc Cabot Lodge được cử làm đại sứ, chúng ta sẽ mất một phần lớn viện trợ Mỹ. Pháp đã hứa viện trợ cho chúng ta. Bắc Việt muốn thương thảo với miền Nam, tại sao ta không thử nói chuyện với họ xem sao!

- Ông Nhu tiếp xúc với đại diện cộng sản tại tư thất đại sứ Ấn Độ Goburdhijn, theo một lịch trình định trước hoặc hai, ba lần một tháng.

- Khi tuyên bố với ký giả Joseph Alsoph rằng ông không muốn thương thuyết mà không cho người Mỹ biết, là ông Nhu đã dấu việc tiếp xúc vói cộng sản.

-Tác giả có mặt tại Sài gòn khi ông Diệm liên lạc với De Gaulle xin viện trợ Pháp thay thế viện trợ Mỹ (39).


Tổng hợp các tài liệu về Ngô Đình Diệm, chúng ta thấy có những ý kiến sau:

- Một số cho rằng cho rằng họ Ngô yêu nước, không bao giờ bắt tay với cộng sản. Đây là quan điểm của bộ hạ Ngô Đình Diệm.

- Một số cho rằng ông Diệm bắt tay với cộng sản là sự thực, là để mưu cầu hòa bình. Đó là phe cánh khác của Ngô Đình Diệm, đại diện là Nguyễn Văn Châu.

- Một số có tài liệu Ngô Đình Nhu mật đàm với cộng sản nhưng lại cho rằng không biết thực hay hư. Đại diện khuynh hướng này là Cao Thế Dung.

-Ông Lê Tùng Minh cho rằng việc này là do Hồ Chí Minh tung ra mục đích là làm cho Mỹ và Ngô Đình Diệm mâu thuẫn nhau (40)


Tài liệu của Lê Xuân Nhuận cho biết các sự kiện như sau:

-1"Không phải tự-nhiên mà tờ tuần-báo Newsweek nổi tiếng của Hoa Kỳ vào ngày 24 tháng 12 năm 2001 bỗng đăng một bài tổng-kết tình-hình hoạt-động cuả CIA ở Đông Nam Á, và chú lên trên bức ảnh cuả cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm một câu như sau:

“1963: The Kennedy administration begins to see South Vietnamese President Ngo Dinh Diem as a communist tool and decides that “Diem must go.” The CIA engineers coup attempts that eventually lead to his assassination in November.” (1963: Chính-quyền Kennedy bắt đầu thấy rõ Tổng Thống Ngô Đình Diệm cuả Nam Việt-Nam là một công-cụ cuả cộng-sản và quyết định rằng “Diệm phải ra đi.” Cơ-quan CIA thiết kế các mưu toan đảo chánh rốt cuộc đưa đến việc ám sát ông ta trong tháng 11.”


-2. Theo tiến-sĩ Lâm Lễ Trinh, cựu Bộ-Trưởng Bộ Nội-Vụ dưới thời Đệ-Nhất Cộng-Hòa, trong bài “Mạn Đàm với cựu Đổng-Lý (Văn-Phòng Tổng-Thống Ngô Đình Diệm) Quách Tòng Đức” thì: “Ông Ngô Ðình Nhu đã tìm cách thương-lượng với Bắc Việt để loại ảnh-hưởng của Hoa Kỳ. Ông Nhu đã mời Manelli, Trưởng Phái-Đoàn Ba Lan trong Ủy-Hội Quốc-Tế Kiểm-Soát Đình-Chiến để nhờ liên-lạc với Hà Nội qua Ðại-Sứ Pháp là Roger Lalouette đưa đề-nghị mở cuộc tiếp-xúc giữa 2 bên. Bắc Việt chấp-nhận ngay. Ông Nhu giả vờ đi săn với ông Cao Xuân Vĩ ở Cao Nguyên rồi nửa đường rẻ xuống vùng Tánh Linh ở Phước Tuy để gặp đại-diện của Bắc Việt. Cụ Cao Xuân Vĩ đã xác-nhận điều này. Trong cuộc gặp-gỡ, 2 bên đồng ý tái-lập trước tiên về liên-lạc bưu-điện và sau đó về giao-thương để tiến tới thống-nhất đất nước trong hòa-bình. Sau cuộc tiếp-xúc đó, ông Nhu cố ý tiết-lộ nội-dung cuộc tiếp-xúc cho báo-chí biết để ngầm thông-báo cho Washington.


Ông Quách Tòng Đức xác-nhận là “chính ông Nhu có đề-cập đến chuyện này trong vài phiên nhóm với tướng-lãnh tại Bộ Quốc-phòng và ngày 23.7.1963 tại suối Lồ Ồ khi nóí chuyện với các cán-bộ xây-dựng Ấp Chiến lược khoá 13.”

Một nguồn tin khác cho biết ông Nhu xử dụng trung gian cuả bốn đại sứ: Roger Lalouette (Pháp), d’Orlandi (Ý), Goburdhun (Ấn Độ) và Manelli (Ba Lan), (hai ông sau là thành viên của Ủy ban Quốc tế kiểm soát đình chiến) cũng như Tổng lãnh sự Pháp ở Bắc Việt Jacques de Buzon, để liên lạc với Hànội. Ông QTĐ nói có nghe dư luận này nhưng không biết rỏ chi tiết.

Ông cũng có nghe xầm xì rằng ông Nhu đã gặp một đại diện Văn phòng Chính trị CS (Phạm Hùng?) trong lần đi săn tại Quận Tánh Linh, Bình Tuy.

Song song với sự tiết-lộ của ông Nhu, Tổng-Thống Pháp De Gaulle lên tiếng kêu gọi loại bỏ “ảnh-hưởng ngoại-quốc” ra khỏi VN, còn Hồ Chí Minh lên tiếng nói rằng “một cuộc ngưng bắn có thể được 2 bên thỏa-thuận.”

Ông Nhu đã hội kiến với Maneli lần đầu vào ngày 25/8/63 tại Bộ Ngoại giao VNCH và kế đó là vào ngày 2/9/63 tại phòng đọc sách của ông (“War of the Vanquished”, Mieczyslaw Maneli).

Ông Quách Tòng Đức xác-nhận: một Tết Nguyên-Đán trước 1963, một cành đào đỏ lộng-lẫy được trưng-bày nơi phòng khánh-tiết Dinh Độc-lập với tấm thiệp in tặng của Chủ tịch Nhà nước Cọng hoà Xã hội Miền Bắc”. Ông Đức kết-luận: “hành-động độc-lập (không cho Mỹ biết) của ông Nhu đã làm Washington tức-giận hơn. TT Kennedy bật đèn xanh cho Lodge tiến-hành cuộc đảo-chánh nhanh chóng hơn.”(41).

Trong các tài liệu trên, tài liệu của Đỗ Mậu và Nguyễn Mạnh Quang là đầy đủ nhất về tội ác của tập đoàn Ngô Đình Diệm. Tài liệu của Nguyễn Văn Châu cũng khá đầy đủ về việc Ngô Đình Diệm bắt tay với cộng sản nhưng lập luận của ông sai lầm.  Tài liệu của Lê Xuân Nhuận  xuất bản sau các tài liệu trên nên mang tính cách cập nhật cho lịch sử Việt Nam từ 1945 cho đến 1975.  Chúng ta thấy rằng nguồn tin tình báo của CIA , tướng lãnh và sĩ quan Việt Nam cộng Hòa trong đó có Nguyễn Văn Châu đã xác nhận việc tập đoàn Ngô Đình Nhu bắt tay với cộng sản là có thực .


Đối với đất nước Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh, một nhân viên cao cấp hay tầm thường, một quốc trưởng hay sĩ quan tiếp xúc với giặc đều phạm tội phản quốc. Hơn nữa, cộng sản rất gian trá, thương thuyết, giao thương với cộng sản chỉ là một hình thức đầu hàng, sớm hoặc muộn cũng bị cộng sản thanh toán. Họ Ngô khôn ngoan nhưng khôn ngoan sao bằng Mỹ và cộng sản! Nếu Mỹ không can thiệp , để cho Ngô Đình Diệm đàm phán thành công thì việc trước nhất là Mỹ phải cuốn gói một cách nhục nhã vì mục tiêu của cộng sản và Ngô Đình Nhu là loại bỏ ảnh hưởng ngoại quốc khỏi Việt nam, mà theo cộng sản, ngoại quốc là Mỹ, và Việt Nam sẽ rơi vào tay cộng sản một cách nhanh chóng chứ không phải là đạt hòa bình như ông Nguyễn Văn Châu suy nghĩ!

Ông Diệm Nhu đã cao mà ông Châu càng cao hơn! Làm sao có thể vừa bắt tay với cộng sản mà lại vừa ăn tiền viện trợ Mỹ và làm tiền đồn chống cộng ở Đông Nam Á ? Cộng sản bằng lòng chăng? Mỹ chấp thuận việc đó sao? Dân tộc Việt Nam tin vào điều đó chăng?


Một số người chỉ trích việc giết Ngô Đình Diệm, và họ căm thù Dương Văn Minh nên họ  đã giết thiếu tá Nhung mà trả thù. Nhưng người ra lệnh giết Diệm Nhu là chính quyền Mỹ, các ông sao không lên tiếng kết tội chính quyền Mỹ  và chống Mỹ mà sau 1975 lại chạy sang nương náu Mỹ?
 Họ cũng chỉ trích các tướng lãnh cộng hòa là phản bội Ngô Đình Diệm, sao họ không trách Ngô Đình Diệm phản bội vua Bảo Đại và quốc gia Việt Nam. Họ mạt sát các tướng lãnh là tay sai ngoại bang vậy họ thì sao? Họ cũng đã từng làm việc cho Pháp, cho Mỹ, cho Nga, cho Tàu kia mà!
Nếu Ngô Đình Diệm phản quốc, bắt tay với cộng sản không lẽ các tướng lãnh yêu nước cũng phải theo chủ họ Ngô mà đầu hàng cộng sản?  Trong trường hợp này nên trung với Tổ quốc Việt Nam hay trung thành mù quáng với anh em Ngô Đình?

Trong chiến tranh, việc xử tử những kẻ phản bội là việc thường.. Việc giết anh em nhà họ Ngô về chính trị và quân sự là  việc tất yếu trong thế cờ lúc đó. Sau cách mạng 1963, nếu để anh em họ Ngô sống thì nhiều tai họa sẽ xảy đến cho Mỹ và Việt Nam, nhiều người sẽ chết hơn là hai cái mạng của anh em Diệm Nhu. Việc đầu tiên là bọn họ có thể tuyên bố đuổi Mỹ ra khỏi nước và kêu cứu cộng sản. Pháp và Trung cộng đang bắt tay trong chiến tranh Việt Nam vì Pháp rất thích Nam Kỳ thuộc địa mà Trung Cộng thì muốn nắm cả hai miền Nam Bắc. Tình hình lúc đó rất nguy ngập, quân Việt Cộng đang tiến đánh khắp nơi, và quân Trung Cộng đang chờ đợi ở Biển Đông hay Trường Sơn, chỉ nghe một lời cầu cứu của Nhu Diệm thì trong vài tiếng đồng hồ quân Trung Cộng và Pháp tiến vào Saigon.  Nếu không, họ sẽ gây một cuộc nội chiến trong một cuộc nội chiến. Việc này sẽ làm tiềm lực quốc gia suy yếu, và giúp cộng sản nhanh chóng chiếm miền Nam. Hơn nữa, đời người chỉ một lần gặp may, và không ai bị lừa đảo hai lần. Anh em ông Diệm đã đuợc tha trong đảo chánh 11- 1960 của Nguyễn Chánh Thi, nhưng họ đã nuốt lời cam kết, lịch sử không cho họ tái diễn tấn tuồng lừa đảo! Đó là quy luật trong chính trị và trong cõi đời!

 Nhiều người cho rằng nếu anh em họ Ngô còn sống, thì đất nước Việt nam đâu có rơi vào tay cộng sản! Đây lại là một điều hão huyền. Bản thân họ Ngô là trục lợi, họ đã thương thuyết, buôn bán với cộng sản, đâu có nghĩ đến quốc gia dân tộc!Bắt tay với cộng sản là đầu hàng cộng sản thì sao có thể  cứu nước?

Vì việc này, người Mỹ và hội đồng cách mạng đã tiến hành việc lật đổ Ngô Đình Diệm và giết anh em Ngô Đình Diệm. . Nhìn cảnh tượng dân chúng hoan hô quân đội trong ngày 1-11-1963, chúng ta đã thấy lòng dân là như thế nào. Dường như trong ngày 1-11-63, báo chí, tướng lãnh và ngưòi Mỹ đều không nói gì về việc hai ông Diệm Nhu mật đàm với cộng sản cho nên người ta cứ tưởng vì Phật giáo mà Mỹ và tướng lãnh đã lật đổ họ Ngô! Người ta không nói rõ việc mật đàm, vì đó là một việc cơ mật, là niềm tủi nhục của Việt Nam cộng hòa, là nỗi đắng cay của Mỹ, nói ra sẽ làm cho lòng dân chúng và quân sĩ rúng động, chỉ có lợi cho cộng sản mà thôi! Ai đời một ông tổng thống mà đi bắt tay với cộng sản thì còn nước non gì cái đường lối chống cộng nữa. So sánh việc các tướng lãnh lật đổ Ngô Đình Diệm và việc cộng quân tiến vào Saigon , ta  thấy nhân dân hân hoan việc lật đổ Ngô Đình Diệm nhưng lạnh lùng và sợ hãi khi quân cộng sản vào Dinh Độc lập.

Nhiều người thương tiếc Ngô Đình Diệm nên kết tội nhiều người.Nhưng những lời kết tội đó chỉ là phiến diện. Người giết gia đình ông Diệm chính là ông Diệm và gia đình ông. Ông Diệm giết hại nhiều dân, bắt buộc dân bỏ đạo là trái với đức bác ái của chúa, và trái quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, ông giết hại nhiều người tài giỏi, yêu nước, gia đình ông Diệm giết người cuớp của, liên lạc với cộng sản, tiết lộ bí mật quân sự, nuôi dưỡng, che giấu kẻ thù, đó là những tội đáng xử tử. Ông là kẻ phản bội dân tộc Việt Nam, phản bội vua Bảo Đại đã tín nhiệm ông. Vua Bảo Đại đã kể lại việc ông trao việc nước cho Ngô Đình Điệm như sau:
 Cầm lấy tay ông ta, tôi kéo sang một phòng bên cạnh, trong đó có cây thánh giá. Trước thánh giá tôi bảo ông ta:
–Đây Chúa của ông đây, ông hãy thề trước chân dung Chúa là giữ vững đất nước mà người ta đã trao cho ông. Ông sẽ bảo vệ nó để chống lại bọn Cộng Sản, và nếu cần, chống luôn cả người Pháp nữa.
Ông ta đứng yên lặng một lúc lâu, rồi nhìn tôi, sau nhìn lên Thánh giá, ông nói với giọng nghẹn ngào:
–Tôi xin thề. “
( 42  )

Năm 1954, ông Diệm đã đặt tay lên Thánh giá mà thề bảo vệ tổ quốc, chống cộng sản, thế mà ông lại bắt tay với cộng sản.  Ngày 1-11-1963, ông Diệm lại thề lần nữa:

"Tôi tiến, hãy theo tôi;
tôi lùi, hãy bắn tôi;(43)
Ông bắt tay với cộng sản thế là ông đã phạm lời thề! Người Việt Nam tin quả báo, quả báo kiếp sau, quả báo nhãn tiền . Khoảng 1956, sét đánh mả ông Ngô Đình Khả, một ngôi mộ ở trong thành phố Huế, do công binh xây cất rất chắc chắn thế mà bị sét đánh nứt đôi. Và sau 1963, dòng dõi họ Ngô nhiều người bị  bất đắc kỳ tử dù  họ ở ngoại quốc! 

Chính các lời thề của ông đã giết ông. Đa số người Việt Nam sợ mắc lời thề, sợ phạm điều ác, sợ quả báo. Chính hai ông tự giết mình khi công khai mở cành đào tại Dinh Độc Lập trước mắt Đại sứ Mỹ. Đó là sự kiêu hãnh, lòng tự tìn thành công đã đến nơi. Nhưng đó là đầu óc ấu trĩ, dại dột của anh em nhà Ngô . Ngoài ra, chính tập  đoàn của ông vì lòng tham mà đẩy ông vào việc phản bội tổ quốc và lâm vào chỗ chết!


Nói tóm lại, Ngô Đình Diệm và tập đoàn là một lũ buôn dân bán nước, lừa bịp dân chúng, họ dùng danh nghĩa quốc gia để chiếm đoạt đất nước này làm tài sản riêng; ho mang nhãn hiệu dân chủ để thi hành gia đình tri;  họ dùng danh nghĩa chống cộng nhưng thực tế là bắt tay với cộng sản từ khởi đầu cho đến chung cuộc.
Đất nước ta trải trăm năm Pháp thuộc, rồi nửa thế kỷ chiến tranh tàn phá và  cộng sản kìm kẹp, dân ta mong mỏi một vị lãnh đạo tài ba và nhân đức xuất hiện. Dân ta ở miền Nam tự do, nhưng một số chịu ảnh hưởng dân chủ Tây phương, một số bị cộng sản đầu độc cho nên không thích chế độ quân chủ. Đúng lúc này, Ngô Đình Diệm xuầt hiện, Người ta tin tưởng ông là cứu tinh của dân tộc, nhưng chỉ vài ngày, vài tháng, người ta đã thấy bộ mặt gian ác của nhà họ Ngô và bọn thủ hạ.


Nếu ông Ngô Đình Diệm và bọn bộ hạ không kỳ thị tôn giáo, không coi nước Việt Nam là của riêng của gia đình ông và tập đoàn ông  thì nhân dân Việt Nam rất cảm ơn Thiên Chúa giáo đã đưa đến đất nước này một người con yêu của chúa đã thực hiên đúng lời dạy bác ái của chúa!
Nếu Hoa Kỳ chọn được một Ngô Đình Diệm dân chủ, công bình chính trực và thật tâm chống cộng, thì nhân dân Việt Nam hoan hô Hoa Kỳ sáng suốt trong việc giúp đỡ Việt Nam xây dựng dân chủ và chống sản xâm lược. Đau đớn thay, người Việt Nam cảm thấy mai mỉa vì tập đoàn cộng sản và tập đoàn Ngô Đình Diệm đã nhân danh dân chủ mà làm những điều phi dân chủ, phản dân hại nước. Và họ cũng cảm thấy buồn cười vì Hoa Kỳ có nhiều người tài giỏi nhưng đã sai lầm chọn  Ngô Đình Diệm, một kẻ phản dân chủ và phản bội Hoa Kỳ! Và cũng thật khôi hài vì Hoa Kỳ có CIA khắp nơi thế mà bị anh em Diệm Nhu cho một cú đá hậu đau điếng !



8. PHONG TRÀO THIÊN CHÚA GIÁO BẮT TAY CỘNG SẢN


Sau 1963, các giám mục, linh mục, trí thức Thiên chúa giáo nổi lên chống các chính phủ miền Nam sau đó chống Thiệu tham nhũng, đòi hòa bình, chống Mỹ xâm lược cụ thể như linh mục Trần Hữu Thanh, bà Nguyễn Thị Thanh và các báo chí như Dại Dân Tộc, Tin Sáng, Điện Tín, nhà xuất bản Trình Bày.


Lê Xuân Nhuận viết:

Trên bàn cờ thời-sự Miền Nam Việt-Nam, vào giai-đoạn cuối-cùng của lịch-sử Việt-Nam Cộng-Hòa, chỉ còn có một ván cờ mới―chung-kết và chung-quyết:

Đối-thủ chính bên phía đối-lập với Chính-Quyền là các Nhóm “Giáo-Dân Tranh Đấu”, do đại-khối hơn 300 linh-mục trong “Phong Trào Chống Tham Nhũng” và cả đám linh-mục cộng-sản nằm vùng, tay sai và thân-Cộng, “lãnh-đạo tinh-thần” Kitô-Giáo Việt-Nam, đứng ra thao-túng tình-hình.
Ở trên đầu và sau lưng họ là Tòa Thánh La-Mã với đích-thân Giáo-Hoàng Phaolô VI cùng với hàng chục quốc-gia chư-hầu của Vương-Quốc Vatican.Thế đánh cạn-tàu ráo-máng của nội-thù đã chiếu bí Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu, trực-tiếp mở đường cho ngoại-địch hạ gục đối-thủ trong nước cờ kết-thúc giữa Bắc-Việt Xâm-Lược với Việt-Nam Cộng-Hòa.(44)


Trong một bài khác gi ới thiệu giáo hoàng Paul VI, Lê Xuân Nhuận viết khá đầy đủ về vai trò của Ngài trong chiến tranh Việt Nam::
... Ngày 4-10-1965, Giáo Hoàng Paul VI viếng nước Mỹ.
Sau chuyến đi cuả GH Paul VI, màu sắc ngoại giao Roma rõ nét: liên lạc trực tiếp với Hà Nội và Trung Quốc. Hồng y IginoEugenio liên lạc với đại diện VN ở Âu châu. Hồng y Paolo Bertoli qua trung gian người Pháp làm việc với Saigon và Hà Nội. Đại diện Vatican ở Cambodia tiếp xúc với Việt-Cộng. Học giả, luật gia, sử gia, hàng giáo phẩm, nhân viên ngoại giao… đổ xô về Roma. GH và ông Hồ Chí Minh trực tiếp trao đổi thư từ... (Xem A)
Tóm lại, lập trường của Vatican rất rõ ràng: Cổ võ Hòa bình, chấm dứt chiến tranh, quan hệ tốt với chính quyền miền Bắc và Chính phủ lâm thời miền Nam.
Giáo Hoàng Phao Lô Đệ lục đã tiếp kiến phái đoàn của MTGPMN Việt Nam. (Xem B) ( Ngọc Nhạ, điệp-viên cộng-sản trong Phủ Tổng-Thống VNCH) còn được Tòa thánh Vatican và Giáo hoàng Paulus VI tặng bằng khen và Huy chương "Vì hòa bình" vào tháng 6 năm 1971 (trong lúc Nhạ đang ở tù tại Côn Đảo). (Xem C)


Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu đích-thân đi trực-tiếp cầu-cứu với Giáo-Hội Kitô La-Mã, là một trung-tâm quyền-lực chính-trị khác của thế-giới. Tuy nhiên, Giáo-Hoàng Paul VI không tiếp-kiến, dù Thiệu là một tổng-thống của một quốc-gia có tỷ-số giáo-dân đông thứ nhì tại lục-địa Á-Châu, mà cũng là một con chiên...
Đã thế, Giáo-Hoàng còn chỉ-trích Thiệu, lại còn tiếp-kiến cặp Nguyễn Thị Bình và Xuân Thủy, Trưởng Phái-Đoàn cộng-sản tại hòa-hội Paris... (Xem D)
LÊ XUÂN NHUẬN
Tham-Khảo


Tại sao Hồng Y Francis Spellman Muốn Dội Bom Nguyên Tử Xuống Việt Nam?
Cécilia Trần Thị Vĩnh-Tường 12/11/2010

... Giáo Hoàng Paul VI xung trận “Jamais plus la guerre”
…không là anh em nếu không có lòng trắc ẩn…

Gìữa một nước Mỹ tang tóc, đại ngươn soái “Ba thước gươm, một cỗ nhung yên” thúc ngựa xông vào vòng lửa đạn chính là giáo hoàng Paul VI. Vừa nhậm chức GH tháng 6/1963, Paul VI chớp mắt thấy tiêu tùng hai tổng thống Ki-tô Vatican mất công gầy dựng: tháng 11-1963, TT Ngô Đình Diệm và Kennedy chết thảm trong vũng máu bởi chính tay người Mỹ. Từ đó, bên tai tiếng bom rền vang hơn tiếng thánh ca. Giáo Hoàng Paul VI lo lắng về việc Spellman thủ hai vai một lúc: hồng y New York và tổng tuyên úy quân đội, khiến thế giới suýt mấy lần đối diện với thế chiến ba. GH đã cố nói chuyện với Spellman nhiều lần, nhưng chỉ nói với hai cái tai điếc đặc.


Ngày 4-10-1965, lần đầu tiên một giáo hoàng Vatican viếng nước Mỹ vốn là đất của giáo hội Tin Lành. Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc U Thant và các viên chức cao cấp trong chính phủ ra đón GH ở máy bay. Ngoại giao Roma cực kỳ tinh vi qua mắt được cả thượng đế trên trời lẫn loài nguời dưới thế: hai đại diện Chúa: Paul VI và Spellman tươi cười cho cả thế giới chụp hình...

Người khách danh dự phải đến trụ sở Liên Hiệp Quốc trước GH 30 phút là bà quả phụ Jackie Kennedy. Bài diễn văn lịch sử dài 3354-chữ, GH Paul VI dùng tiếng Pháp. Mảnh dẻ như cây sậy Pascal trong cơn gió cuồng bay, Paul VI dứt khoát:

Jamais plus la guerre! Jamais plus la guerre!

Chiến tranh!! Không!! Không bao giờ nữa!!..Chỉ hoà bình mới soi sáng định mệnh nhân loại …Nếu muốn là anh em, hãy bỏ khí giới xuống…Yêu người sao được khi lăm lăm vũ khí trong tay! sẽ không là anh em nếu không có lòng trắc ẩn…”

Lời tuyên bố bung ra như bom 30 kilotons. Người thông dịch toát mồ hôi, cà lăm không tin ở tai mình. 116 đại biểu các quốc gia nồng nhiệt đứng dậy hoan hô, trừ đại biểu Albanie tẩy chay. Buổi tối tại Yankee Stadium trước 90.000 người, diễn văn 1460-chữ bằng tiếng Anh, Paul VI nhắc “Peace/hòa bình” tới 28 lần, như những thông điệp sau này của Đức DaLai LaMa. Đức Lê Lợi, xong chiến tranh chống quân Minh, cũng trả kiếm cho rùa thần. Không cần chữ nghĩa dài dòng, bài học để lại đời sau vẫn đúng như ngàn năm trước: mài gươm cho sắc đánh giặc ngoài, xong việc binh đao, phải coi dân là trọng.


“Hỡi anh em! Ta có ba điều gửi lục địa trẻ trung rạng rỡ này: Hãy yêu hoà bình! Hãy phục vụ hòa bình! Ta mang tặng hồng y Spellman phiến đá cậy từ đền thờ Saint Peter’s Basilica ở Roma, hồng y hãy vì danh Chúa xây dựng một giáo hội cho tương lai, trong Đức Tin và Đức Mến”

Một trăm triệu người khắp thế giới nghe thông điệp của vị chủ chăn Vatican qua TV. Người Mỹ vỡ toang đón niềm vui. Cả nước Mỹ mềm môi say thánh ý như say rượu nho. Mừng nhất là các bà mẹ héo hon sửa soạn cho con đăng lính đi VN hay qua Canada trốn lính, trong đó có mẹ của James Carroll. Chỉ vài ngày sau, 100.000 người khắp nước Mỹ nhảy múa mở đầu “Phong Trào Hoà Bình.” Thu xếp lại bản đồ thế giới, thông điệp cuả giáo hoàng rất rõ: Vatican muốn chiến tranh VN chấm dứt, nếu không, không “đi” với Hoa Kỳ nữa.


Các quốc gia đang lâm chiến nhẩy tango trên than hồng. KGB, CIA, MI6 vồ lấy hai bài diễn văn, kính hiển vi xét từng dấu phẩy dấu chấm. Washington bí mật cho loan tin “Giáo hoàng không biết ngài nói gì”. Sự thật thế nào? 1. GH biết/không biết trận chiến toàn cầu đều là con cờ cuả đế quốc vô hình Knights of Malta: bao giờ đạt chỉ tiêu sản xuất bom đạn mới ngưng chiến được 2. GH đã có mật ước với một trong hai (hoặc cả hai) siêu cường Liên Sô/Hoa Kỳ? 3. GH Paul VI vẫn được coi là có khuynh hướng cộng sản. Khi còn là bộ trưởng ngoại giao Vatican, ông đã từ chối chiếc mũ hồng y GH Pius XII ban, thà nhận một nhỉệm sở xa xôi với chức giám mục khiêm nhường, để phản đối chính sách thân Phát Xít của GH Pius XII. Giáo hoàng Paul VI mang niềm bí ẩn ấy về cõi thiên đàng và chỉ nói riêng với Chúa, vị hôn phu 2000 tuổi...


Sau chuyến đi cuả GH Paul VI, màu sắc ngoại giao Roma rõ nét: liên lạc trực tiếp với Hà Nội và Trung Quốc. Hồng y IginoEugenio liên lạc với đại diện VN ở Âu châu. Hồng y Paolo Bertoli qua trung gian người Pháp làm việc với Saigon và Hà Nội. Đại diện Vatican ở Cambodia tiếp xúc với Việt-Cộng. Học giả, luật gia, sử gia, hàng giáo phẩm, nhân viên ngoại giao… đổ xô về Roma. GH và ông Hồ Chí Minh trực tiếp trao đổi thư từ...


Dư luận miền Nam VN ghét oan cái đám phản chiến tốt đen Jane Fonda, John Kerry, trong khi GH Paul VI, McNamara, McBundy là phản chiến thượng hạng. Người Việt vỗ tay nhạo báng trên xác chết người Việt mấy chục năm nay mà không biết (hay không dám chỉ đích danh) kẻ mang chiến tranh choàng lên cổ người Việt là HY Spellman. Có đọc một nhận xét từ người ngoại quốc “Nguời Việt khi không đánh ngoại xâm thì chúng nó đánh nhau”.Chúng nó đánh nhau! Một tâm thức chắc chắn được tình báo các nước đối tác nghiên cứu/khai thác, khi cần áp dụng với giá rẻ mạt hay hứa hẹn tầm phào là tạo ngay đuơc chia rẽ, hỗn loạn. Lời thề kinh hãi cuả dòng Jesuits/dòng Tên gặp đất tốt, khỏi bón phân phiếc chi hết… “Con đã được đào tạo để lẳng lặng gieo mầm mống tị hiềm và thù ghét giữa cộng đồng, địa phương, quốc gia đang hòa bình, và khích bác chúng gây đổ máu, lôi kéo chúng giao chiến với nhau, và gây ra khởi loạn hay nội chiến ở các quốc gia…”...

Cécilia Trần Thị Vĩnh-Tường (Mùa Vu Lan 2010)

Lương Tâm Công Giáo:

http://luongtamconggiao.wordpress.com/2012/02/08/tgm-nguy%E1%BB%85n-van-thu%E1%BA%ADn-nguyen-nhan-13-nam-l%C6%B0u-d%E1%BA%A7y-kh%E1%BB%95-nh%E1%BB%A5c-i/


... đường lối của Vatican thông qua Giáo Hoàng Phao lồ Đệ lục là kêu gọi hòa bình, chấm dứt chiến tranh, gián tiếp chống lại quan điểm của người Mỹ và chính quyền VNCH. Năm 1968, Giáo Hoàng Phao lồ Đệ lục đã lập ra ngày Quốc tế Hòa Bình. Ngài còn kêu gọi Hòa Bình bằng thương thuyết tại Việt Nam và trung Đông.

Cụ thể hơn, Ngay từ 2/5/1967 khi chiến tranh leo thang đến đỉnh điểm của nó, GH Phaolô VI đã đưa ra đề nghị và giải pháp: “Phải chấm dứt các cuộc oanh tạc trên lãnh thổ Bắc Việt và đồng thời cũng phải chấm dứt những cuộc xâm nhập vũ khí và vật liệu chiến tranh vào miền Nam.”

Trong Hội nghị thường niên của các giám mục Việt Nam, nhân dịp này, Giáo Hoàng Phao Lồ đệ lục đã gửi một tâm thư đề ngày 13-2-1965 mà Ngài bầy tỏ như sau đã được đăng trên tờ Xây Dựng: “Tuy xa cách ngàn dậm mà lòng vẫn gần gũi và theo sát những biến cố dồn dập ngày nay đang rung chuyển và gây nên cảnh thịt rơi máu đổ trên mảnh đất Việt Nam.”

Và Ngài hứa tìm cách đưa lại Hòa bình cho Việt Nam.

Ngài viết tiếp, “Ta đã cố gắng dùng đường lối kín đáo để tiếp xúc với nhiều nhân vật đại diện trong các chính phủ, mục đích là thành khẩn xin các vị đó tìm lấy một giải pháp danh dự, nhưng hòa bình cho các vấn đề khó khăn quốc tế đang làm ta lo nghĩ”.


Tóm lại, lập trường của Vatican rất rõ ràng: Cổ võ Hòa bình, chấm dứt chiến tranh, quan hệ tốt với chính quyền miền Bắc và Chính phủ lâm thời miền Nam. Sau 30 tháng tư, yêu cầu các Giám Mục ở lại, hợp tác với chính quyền mới theo chính sách Hòa giải Dân tộc. Trong tinh thần đó, rất nhiều bài báo, truyện ngắn trong các tờ tập san Đất Nước, Hành Trình, Trình Bầy cổ võ cho Hòa Bình, chống chiến tranh và Hòa Hợp Hòa Giải. Lý Chánh Trung, một trong những thành phần trí thức cực đoan viết rằng: Tôi cổ võ cho Hòa Bình vì tôi là người Việt Nam và hơn thế nữa, tôi là một người công giáo.

Lý do thứ ba là sau khi Hiệp Định Paris được ký kết ngày 27/1/1973, miền Bắc đã nghĩ ngay đến việc thiết lập một tòa đại sứ của họ tại Ý Đại Lợi tại số 156, đường Bravetta. Tòa đại sứ này chắc hẳn không nhằm lợi thế chính trị đem lại từ nước Ý cho bằng nhận được sự ủng hộ của Vatican.

Và trên thực tế, Giáo Hoàng Phao Lô Đệ lục đã tiếp kiến phái đoàn của MTGPMN Việt Nam.

... Theo linh mục Cao Văn Luận cho biết Hồng y Casaloli, phụ trách ngoại giao của Tòa thánh nhờ linh mục Luận về nước nhắn nhủ lại: yêu cầu các giám mục Việt Nam không di tản, chuẩn bị sống chung và tìm cách hợp tác với chính quyền mới một khi tình thế đã thay đổi.

Và việc bổ nhiệm Giám mục Nguyễn Văn Thuận sau này thật ra nằm trong tinh thần sống chung và hợp tác với chính quyền mới. Bằng chứng là ở Nhatrang, Giám mục Thuận đã khôn ngoan giao hảo với chính quyền mới và đã được họ cho phép mở lại chủng viện để sinh hoạt bình thường. (45)
Wikipedia

http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C5%A9_Ng%E1%BB%8Dc_Nh%E1%BA%A1 .

BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 0215
VỀ GIÁO HOÀNG PHAOLÔ VI


Cuộc công khai nổi dậy chống chính quyền Quốc gia là một chủ trương mới của giáo hội Vatican dưới triều Phaolồ VI. Đây là một ý thức mới, một thay đổi tư duy trong hàng ngũ lãnh đạo tối cao của Vatican, và đó là một mệnh lệnh được truyền từ Vatican xuống các thần dân của Chúa. Mênh lệnh đó là phải bắt tay với cộng sản để chung sống hòa bình. Vì mệnh lệnh này các nhà thờ nay ngoài cha cố đeo thánh giá nay lại có các đồng chí mang AK v ào ra. Và các đấng chăn chiên mặc áo chùng thâm nay đi dép râu, đội nón cối. Nhiều người ca tụng Paul VI rằng Ngài đã mang lại hòa bình cho Việt Nam nhưng thực sự Ngài đã mang lại đau khổ cho nhân dân Việt Nam và tai họa cho giáo hội. Ngài chỉ là một con người, những suy nghĩ toan tính của Ngài có thể sai lầm.


GM Nguyễn Thái Hợp đã nói rõ việc này:

Nguy hiểm nhất là các thế lực ngoại bang đều biết khai thác, lợi dụng chiêu bài chống Cộng. Một số người, vì nhiều lý do, đã trở thành lực lượng hậu thuẫn cho họ. Những thân phận ấy bị hút vào cơn lốc “giống như những chiếc lá mà giông bão cuốn lên, tan tác mọi ngã, rồi tự rơi xuống”.

Tuy nhiên, cuối cùng quan điểm của Vatican II, của Đức Gioan XXIII và nhất là của Đức Phaolô VI đã ảnh hưởng tích cực trên nhận thức và thái độ của các giám mục Việt Nam đối với cuộc chiến. Đối diện với cuộc chiến tranh ngày càng tàn khốc tại Việt Nam, Đức Phaolô VI tuyên bố, với tư cách một người lãnh đạo tôn giáo, ngài không thể không lên tiếng. Kể từ lễ Giáng sinh năm 1964, ngài đã đưa ra nhiều đề nghị và sáng kiến hòa bình cho Việt Nam bằng con đường thương thảo. Ngày 13.2.1965, ngài gửi thư cho các giám mục Việt Nam để chia sẻ những nỗ lực vận động của ngài cho hòa bình Việt Nam. Trong cuộc triều yết ngày 29.11.1965, ngài cho biết “hằng mong ước cùng cầu nguyện để được thấy ngày mà tiếng súng sẽ im bặt và nền hòa bình thực sự sẽ chiếu dọi trên đất nước Việt Nam, trong niềm hân hoan và hòa hợp dân tộc”.[17] Qua Thông điệp Mân Côi, ngày 15.9.1966, ngài lại kêu gọi hai miền Nam Bắc chấm dứt chiến tranh và thương thuyết.


Hơn thế nữa, ngài đã gửi đặc sứ là TGM Sergio Pignedoli tới Sài Gòn để gặp gỡ các giám mục Việt Nam từ ngày 30/9 đến ngày 6.10.1966 nhằm thúc đẩy tinh thần hòa bình và hòa giải. Nhờ cuộc gặp gỡ và trao đổi này, các giám mục Việt Nam đã hoàn toàn hiệp nhất với Đức giáo hoàng để lặp lại lời kêu gọi thiết tha: “Nhân danh Chúa, xin hãy dừng lại. Hãy gặp gỡ nhau, hãy đi tới bàn hội nghị, hãy thành thật thương thuyết. Ngay bây giờ hãy giải quyết các mối bất hòa tranh chấp, dù có phải chịu thiệt thòi chút ít, vì thế nào rồi cũng phải hòa giải, nhưng có lẽ với nhiều tai họa thảm khốc hơn, mà hiện nay không ai lường được”.

Cũng chính Đức Phaolô VI đã tiếp kiến phái đoàn của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, do ông Xuân Thủy dẫn đầu, mà từ chối tiếp kiến ông Nguyễn Văn Thiệu, tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Sự kiện này khiến cho nhiều người ờ miền Nam lúc đó rất ngỡ ngàng và bất bình với Vatican. (46)


Chúng ta thấy rõ một số giáo dân theo cộng sản là vì chủ trương hòa bình của giáo hoàng Phaolồ VI. Đa số giáo dân tin tưởng tuyệt đối giáo hoàng đúng như Nho gia dạy bảo: Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung.".Vì vậy mà một số tu sĩ Thiên chúa giáo tuyên bố:" Thà mất nước chứ không mất đạo'. Người cộng sản một số cũng nói" Thà mất nước chứ không mất đảng"  để cam tâm bán nước cho Trung cộng. Đảng cộng sản tất nhiên phải bị tiêu diệt dù bám Trung Cộng, nhưng Chúa, Phật không bao giờ mất trong trái tim người tín đổ chung thủy sáng suốt và nhân hậu. Chúa, Phật vẫn tồn tại trong ta dù ta ngồi tù hay làm nô lệ.Chúa Phật ở trên trời và ở lòng ta , nếu ta bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất. Người Việt Nam lấy trung hiếu làm đầu: ( Trai thì trung hiếu làm đầu ---Có trung hiếu đứng trong trời đất ), không bao giờ chịu  bỏ mất tổ quốc. Dù người Việt quốc gia phải bỏ nước ra đi vì tự do, trong tâm chúng ta vẫn tràn ngập tình yêu quê hương, luôn mong muốn quang phục quê hưởng để xây dựng Việt Nam tự do dân chủ thật sự.

Đa số người Việt Nam yêu nước, thành thử trong khi một số tu sĩ đi theo cộng sản trong Giáo hội quốc doanh, một số  độc lập và bất khuất đã ủng hộ giáo hội tư doanh. Đó là hành động chính nghĩa, yêu tổ quốc, yêu tự do, bảo vệ giang sơn và bảo vệ Phật pháp của Phật tử trong giáo hội Việt Nam Thống Nhất. Có những tôn giáo  coi lời của giáo chủ là chân lý nhưng giáo chủ chưa phải là Thượng Đế, những ông giáo chủ trung cổ đã cậy oai lực của Thượng Đế mà giết hại các nhà khoa học, và gây ra cuộc chiến tranh tôn giáo. Sau này cách mạng Pháp và các nhà luật pháp,  chính trị các nước đã phê phán sự kiện này, và chính điều này đã cho ta thấy Thượng Đế  là chân lý nhưng Thượng Đế không nói, không viết, chỉ các vị giáo chủ, giáo tông, giáo lãnh đóng vai phát ngôn và hành động sai lầm. Điều đó cũng dễ hiểu bởi vì các vị ấy cũng chỉ là con người.  Đồng bào Phật giáo, Cao Đài, Hòa Hảo có tự do trong mọi hoạt động của mình, không chịu sự câu thúc của các giáo chủ, giáo hoàng hay một thế lực gian ác nào cho nên đa số đã yêu nước yêu đạo, giữ nước và giữ đạo.

Đứng về phương diện ý thức hệ, giáo hoàng cũng chỉ là con người, có những sai lầm, có những chính sách khác nhau. Chẳng hạn Hồng Y Spellman có chủ trương khác với chủ trương của giáo hoàng Phaolo VI, và đường lối của giáo hoàng Paul VI là trái với chủ trương của các giáo hoàng tiền nhiệm.Và trong giáo hội cũng có những xung đột, không phải tất cả có ý kiến thống nhất, tất cả đều đúng.

Ta có thể nói rằng quan điểm của Giáo hoàng Phaolo VI có nhiều sai lầm.  Trong  cuộc thế hiện nay, một số vì quyền lợi nào đó theo cộng sản mà lại ẩn nấp dưới danh nghĩa yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu vô sản, yêu công bằng, chống áp bức. Một số che đậy sự dại dột hoặc lưu manh của họ bằng danh từ hòa bình, hòa hợp hòa giải, nhân đạo...

Nhìn sâu xa, ta thấy khi chủ trương hòa bình, Ngài đã phạm it nhất ba sai lầm trầm trọng.

(1). Bất công, thiên vị.

Nói rõ ra là Ngài thiên cộng. Hành động hòa bình là của song phương chứ không phải một bên. Vatican nhượng bộ nhưng cộng sản vẫn cứng rắn, vẫn mạnh tay đánh đập nhân dân, bỏ tù nhân dân. Trong thương thuyết và kêu gọi hòa bình ngài đã làm những việc bất công. Tại sao Ngài tiếp Xuân Thủy mà không tiếp Nguyễn Văn Thiệu, ông ta cũng là con chiên của chúa đấy? Việc này chứng tỏ ngài muốn hy sinh miền Nam cho cộng sản để đổi lấy những lợi lộc nào đó.

 Dù sao đi nữa, giáo hoàng phải gặp cả đôi bên trình bày ý kiến của ngài và lắng nghe ý kiến của họ. Ngài tỏ thái độ khinh bỉ Nguyễn Văn Thiệu, ghét bỏ miền nam mà  cầu cạnh cộng sản. Ngài tỏ lòng yêu hòa bình, Ngài đã khen tặng Vũ Ngọc Nhạ, tại sao Ngài không khen tặng Nguyễn Chí Thiện,  lúc này cũng đang ở tù ngoài Bắc ? Ngài kêu gọi 300 giám mục, linh mục miền Nam chống chính phủ sao ngài không kêu gọi các giám mục, linh mục ngoài Băc tập họp độ 50 ông biểu tình chống độc tài, chống chiến tranh và đả đảo Liên Xô, Trung Cộng?  Ngài cũng như một số người khác kêu gọi miền Nam  trung lập, chống Mỹ tại sao không kêu gọi miền Bắc nói không với  Liên Xô, Trung Cộng, và kêu gọi Việt Cộng trung lập, độc lập?


Ngài tỏ ra thiên vị rõ rệt. Làm quan mà bất công thì dân bất phục, làm cha mà bất công thì con cái bất mãn. Làm lãnh tụ mà bất công thì thế giới cười chê!  Không lẽ Ngài cũng nhẹ dạ mà tin theo những lời đường mật của cộng sản? Không phải là giáo hoàng thì muốn làm sao thì làm , nói sao thì nói mặc dầu một số con chiên sẵn lòng tuân phục, mù quáng tin tưởng.  Một số người kết tội Phật giáo Ấn Quang bắt tay với cộng sản thì Giáo hoàng và Vatican cũng vậy mà thôi.Nếu có người ca tụng giáo hoàng, ca tụng nhóm LM Trần Hữu Thanh yêu chuộng hòa bình thì cũng nên ca tụng Phật giáo Ấn Quang mới là công bằng!

(2). Thiếu sáng suốt

Trung lập làm sao trong khi Bắc Việt được Liên Xô và Trung Quốc viện trợ mà bảo Việt Nam chống Mỹ  thì Việt Nam một mình sao chống nổi Việt Cộng, Trung Cộng và Nga Cộng? Chống Mỹ thì lấy ai giúp đỡ? Vatican có thể giúp Việt Nam chống Trung Cộng xâm lăng không? Pháp là một kẻ giả dối. Pháp kêu gọi loại trừ các lực lượng ngoại quốc ở Việt Nam nhưng Pháp lại muốn thay chân Mỹ như thế mà Pháp lại kêu gọi loại trừ quân ngoại quốc ra khỏi Việt Nam ư?

Có lẽ giáo hoàng Paul VI đã đi theo phong trào trung lập quốc tế. Trước cuộc chiến tranh lạnh tư bản cộng sản, trước xung đột Mỹ Nga, và xung đột Nga Hoa, Ấn Độ đã chọn đường lối trung lập. Phong trào không liên kết là một tổ chức quốc tế gồm các quốc gia tự xem mình là không thuộc hoặc chống lại bất kỳ khối cường quốc lớn nào. Phong trào này chủ yếu là chủ trương của Thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru, cựu tổng thống Ai Cập Gamal Abdul Nasser và chủ tịch Nam Tư Josip Broz Tito.

Tổ chức được thành lập tháng 4 năm 1955; đến năm 2007, nó có 118 thành viên. Mục đích của tổ chức như đã ghi trong Tuyên bố La Habana năm 1979 là đảm bảo "sự độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh của các quốc gia không liên kết" trong "cuộc chiến chống lại chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa thực dân kiểu mới, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc.....Họ đại diện cho gần hai phần ba thành viên Liên Hiệp Quốc và 55 phần trăm dân số thế giới, đặc biệt là những quốc gia được xem là đang phát triển hoặc thuộc thế giới thứ ba. Tổ chức được thành lập tháng 4 năm 1955; đến năm 2007, nó có 118 thành viên. NHưng cái tổ chức Phi liên Kết này là một loại loại trung lập dối trá,là trung lập thân Nga, trung lập thân trung cộng. Hồ Hữu Tường, Phạm Công Tắc đã sai lầm khi theo chủ trương này vì nước ta nếu không có MỸ làm sao đượng cự với Nga, Tàu? Hồ Hữu Tường, Phạm Công Tắc sai lầm mà giáo hoàng Paul VI cũng sai lầm.

Khoảng1962, Pháp biết Mỹ muốn rút khỏi Việt Nam, nhân Mỹ và chính phủ Ngô Đình Diệm có mâu thuẫn, Pháp muốn Ngô Đình Diệm hất Mỹ mà trở về trong vòng tay của Pháp. Pháp có lẽ đã vận động với giáo hoàng với bao lời ngon ngọt, và bao hình ảnh huy hoàng một Đông Dương trung lập, người Pháp sẽ trở lại Việt Nam sẽ giúp Vatican mở rộng nước trời! Nhưng theo Pháp và Trung Cộng thì  sao là trung lập? Đuổi Mỹ, dầu hàng Việt Cộng tức là theo Nga, theo Tàu, theo Pháp, tức là chịu mất nước, nhưng khi mất nước, giáo dân có được tự do thờ Thượng Đế như cũ hay là sẽ bị kìm kẹp nặng hơn và mất tự do hơn?

(3). Hòa bình thất bại

 Cuộc hòa giải của Vatican từ đó đến nay đã có những thắng lợi gì? Chỉ thấy nhân dân Việt Nam hai miền cùng đạu khổ vì Tổ quốc bị xâm chiếm, nhân quyền và dân quyền ngày càng bị chà đạp.
Ai cũng muốn tự lập, độc lập , không nhờ cậy người khác, nhưng Việt Nam là một nước bé nhỏ thì biết làm sao? Sự hiện diện của Mỹ tại miền Nam không là tai họa mà chính sự rút lui của Mỹ mới là đại bất hạnh cho miền Nam.  Mặc dầu Ngài kêu gọi dân miền Nam ở lại, nhưng gần  nửa triệu người đã vượt biên. LM. Cao Văn Luận là sứ giả của Giáo hoàng đã chuyển lời kêu gọi giáo dân ở lại hưởng hòa bình và xây dựng XHCN, sao bản thân ngài không ở lại mà chạy sang Mỹ? Lời giáo hoàng kêu gọi nhưng có lẽ đa số con chiên đã bỏ ngoài tai vì dân Hố Nai Biên Hòa, dân Bắc di cư đa số đã ra đi.Chính các ông bà hăng hái kêu gọi hòa bình chống Mỹ thì ngay sau 1975 đã cuốn gói theo "đế quốc Mỹ" như LM Trần Hữu Thanh, BS Nguyễn Thị Thanh.
 Sau 1975 cho đrến nay,  nguời Việt hai miền  cũng tiếp tục bỏ nước ra đi. Một triệu người? Hai triệu người?  Ngay cả những kẻ đã từng ôm chân Việt Cộng như  Trưong Như Tảng, Đoàn Văn Toại, Lê Văn Hảo, Nguyễn Văn Hảo, Châu Tâm Luân...  sau một thời gian phục vụ cộng sản đã phải bỏ nước mà đi. .Đó là những câu trả lời mạnh mẽ về quan điểm hòa bình của Ngài. .Cái uy danh của Ngài đâu có cứu được các sĩ quan, viên chức Thiên chúa giáo khỏi bị tù, đất nhà thờ không bị tước đoạt. Cái  chủ trương hòa bình của Ngài đâu cứu được đất Thái Hà, nhà thờ Đồng Hới, giáo xứ Cồn Tiên và hàng chục, hàng trăm, hàng ngàn nhà cửa, ruộng đất của dân oan?
Thực tế cho thấy sau 1975, hoà bình trở lại, nhưng nhân dân ta khổ hơn thời chiến tranh. Số lớn sĩ quan, nhân viên hành chánh cao cấp của VNCH bị tù, bị giết, nhân dân bị cộng sản tịch thâu tài sản, bị đối xử phân biệt, mất mọi thứ tự do. trong khi cộng sản có mọi thứ quiyền hạn và mọi thứ tự do, đó là tự do đàn áp, tự do cướp nhà, cướp đất của nhân dân, tự do cướp tài sản quốc gia, và tự do chia chác mọi quyền lợi kinh tế tài chánh trong khi nhân dân đói khổ, phải đi lao động khắp nơi trên thế giới trong đó có dịch vụ buôn người và dịch vụ bán dâm.


Mặc dù giáo hoàng tuyên bố vì mục đich hòa bình nhưng thật sự chiến tranh vẫn tiếp diễn, đó là chiến tranh cho độc lập và chiến tranh cho tự do dân chủ. Mặc dù giáo hoàng kêu gọi hòa bình nhưng xã hội vẫn sống trong bất an và đau khổ. Chính các tông đồ của chúa cũng bị hành hạ tù đày, chính tài sản của nhà thờ bị tịch thu. Nói tóm lại, chính sách hòa bình của Giáo hoàng Phaolo VI đã thất bại. Ngài cũng như đám GPMN, như các ông Thích Nhất Hạnh, Phạm Minh Mẫn, Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín chỉ làm lợi cho cộng sản, và đã bị cộng sản lợi dụng.


Giáo hội Vatican gồm những bậc đại thánh nhưng chính các vị đã không giữ đạo trung dung, đi từ cực đoan này sang qua cực đoan khác.Trước và trong chiến tranh Pháp Việt, các bậc chăn chiên tàn sát cộng sản, căm ghét ghét những ai là vô thần hoặc không cùng tôn giáo với các vị,  nay các vị lại quỳ lạy cộng sản, mặc cho cộng sản đạp lên đầu lên cổ.

Một số người nhẹ dạ vì ảo tưởng hòa bình như giám mục Nguyễn Kim Điền:

" Ngày 1.4.1975, nghĩa là chỉ một tuần sau khi tiếng súng im bặt trên thành phố Huế, Tổng giám mục Nguyễn Kim Điền đã gửi cho các tín hữu một bức tâm thư, vừa thấm đậm tinh thần Tin Mừng, vừa chứa chan tình dân tộc: “Chiến tranh đã chấm dứt trên giáo phận Huế (…). Chúng ta hãy cùng nhau cảm tạ Thiên Chúa về hồng ân quý giá này (…) Giờ đây, đã đến lúc chúng ta hoan hỉ, sẵn sàng và hăng say cộng tác với mọi người thiện chí, dưới sự chỉ đạo của chính quyền cách mạng, để xây dựng lại quê hương sau bao đổ vỡ tang tóc, hầu đem lại tự do, hạnh phúc cho đồng bào ruột thịt. Hơn bao giờ hết, đây là lúc chúng ta cần đoàn kết, yêu thương và phục vụ người khác(…). Giờ đây, chúng ta hãy khoan dung tha thứ mọi lỗi lầm, đừng nghi ngờ, thù hận ai và gây sợ hãi cho ai”.(47)


Giám mục Nguyễn Kim Điền viết như thế là nịnh giáo hoàng, nịnh cộng sản mà đui mù và điếc trước nỗi khổ của nhân dân miền Nam mà từ đó cho đến nay ngày càng thêm bi thảm. Không lẽ GM Nguyễn Kim Điền không có anh em bà con đi tù cộng sản hay chết chìm giữa biển trên con đường đi tìm tự do? Không lẽ Ngài ở kín trong lâu đài cao không nghe nhân dân miền Trung, miền Nam kể khổ :"  Giặc từ  miền Bắc vô đây Bàn tay nhúng máu đồng bào/..Giặc từ  miền Bắc vô đây Bàn tay nhúng máu anh em/..."


Theo tài liệu của Giám mục Nguyễn Thái Hợp, giáo hoàng Phaolo đã can thiệp vào Việt Nam từ 1964. Chúng ta không biết trước đó Ngài có chỉ đạo hòa bình cho Ngô Đình Diêm hay không. Nếu như thế là Ngô Đình Diệm đã phản bội quốc gia theo lệnh giáo hoàng Phaolo VI. Nếu Ngô Đình Diệm hoạt động tự phát, tức là do lòng gian tham, không yêu nước, không thương dân, đã vì quyền lợi gia đình và phe nhóm mà lừa đảo nhân dân Việt Nam.


Chúng ta ca tụng những con người của chính nghĩa quốc gia như Nhất Linh, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, - Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ đã tuẫn tiết. Chúng ta ca tụng tinh thần tranh đấu cho dân chủ và tự do của  các nhà văn trong Nhân Văn Giai Phẩm. Chúng ta kính trọng những nhà tu bất khuất như Cố Hòa thượng Huyền Quang, Hoà thượng Quảng Độ, Thượng tọa Thích Thiện Minh, hội trưởng Lê Quang Liêm, LM. Nguyễn Văn Lý, LM. Phan Hữu Lợi. Chúng ta tán thưởng những người cộng sản giác ngộ đã từ bỏ cộng sản như Trần Xuân Bách, Nguyễn Văn Trấn, Trần Độ , Nguyễn Kiến Giang. Chúng ta yêu Chúa nhưng không bắt tay với Satan, chúng ta yêu hòa bình nhưng không yêu kẻ ác. Chúng ta tranh đấu cho hòa bình, tự do, dân chủ thực sự chứ không cam chịu nô lệ. Chúng ta không để mất Việt Nam. Chúng ta giữ độc lập và tôn trọng tư do nhân quyền trong đó có tự do tôn giáo. Phật, Chúa, Thành Thần luôn tồn tại trong ta không bao giờ mất. Với tinh thần yêu nước , yêu dân theo truyền thống, người Việt Nam sẽ đoàn kết và tiến lên tranh đấu với quỷ dữ và sẽ chiến thắng huy hoàng. Rên rỉ, van xin là hèn yếu và giả đối. Nhân dân Việt Nam đã và sẽ thành công trong việc giữ nước và giữ đạo.

Sơn Trung


Chú thích:
_____
1. Nguyễn Chánh Thi, Việt Nam Một TrờI Tâm Sự, Xuân Thu, CA, 1987, tr. 80, 205
2. Nguyễn Mạnh Quang, Việt Nam Đệ Nhất Cng Hòa Toàn Thư 1954-1963. tác giả xuất bản,
WA, 1998, 191-192.
3. Đỗ Mậu. Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi. Văn Nghệ, CA, 1993, ch.8, 13-17
4. Nguyễn Chánh Thi, 81.
5. Hồ sơ cái chết Nhất Linh .Văn Học, Saigon. số 109, th.10-1962.
6. Đỗ Mậu, Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi. Văn Nghệ, CA, 1993,.406.
7. Lê Xuân Nhuận. Biến Loạn Miền Trung, Xây Dựng .CA, 2012 tr. 236, 237, 238)
8. Nguyễn Việt Nữ. Lãnh chúa Ngô Đình Cẩn đầu cơ gạo để tiếp tế cho cộng sản Bắc Việt lúc nào? http://anhthudatviet.blogspot.ca/2013/06/lanh-chua-ngo-inh-can-au-co-gao-e-tiep.html
9. Nguyễn Chánh Thi, 47-51.
10. Nguyễn Mạnh Quang, 400.
11. Trúc Giang .Việt Cộng nằm vùng thời nào cũng có http://www.vietlist.us/SUB_Reader/reader622.shtml
12. Nguyễn Trương Thiên Lý. Ván Bài Lật Ngữa. Phần IV
13. Phan Tùng Sơn. Kỳ 2: Những cuộc đấu trí trong lao tù . Quân Đội Nhân Dân. http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/61/250617/print/Default.aspx
14. Công tử Hà Đông-Ký giả Saigon.--http://hoanghaithuy.wordpress.com/2012/12/19/ky-gia-sai-gon/ )
15. Đỗ Mậu. sđd, 58.
16 Lý Tòng Bá. (Tạp chí Đông Phương, phát hành miền Đông Hoa Kỳ tháng 8 năm 2001, từ trang 36 đến trang 40) là người chỉ huy Sư Đoàn 7 của trận Ấp Bắc.Hành quân bắt được LÊ DUẨN nhưng cuối cùng được Diệm Nhu thả. (Đỗ Trọng trich trong Nhìn lại sự thật lịch sử 50 năm qua.Anh Em Diệm, Nhu Thỏa Hiệp Với CSBV.
.http://daovang.free.fr/NhinLaiLichSu50NamQuaTTDiemVaCVNhuThoaHiepVoiCongSanBacViet.html)
(17). Huỳnh Văn Cao. Một Kiếp Người . tr.18-19. Tác giả cũng nói đến việc Diệm Nhu thả Lê Duẩn. Đỗ Trọng trích lại. Nhìn lại sự thật lịch sử 50 năm qua.Anh Em Diệm, Nhu Thỏa Hiệp Với CSBV
...http://daovang.free.fr/NhinLaiLichSu50NamQuaTTDiemVaCVNhuThoaHiepVoiCongSanBacViet.html
18. . Đỗ Trọng trích lại. tài liệu trên.
19. Đỗ Trọng. . tài liệu trên
20. Đỗ Mậu, s đd, chuơng XIX
21. Đỗ Mậu, như trên.
22. Nguyễn Chánh Thi, sđd, 38-108
23. Nguyễn Chánh Thi sđd, 47
24. Trich Nguyễn Trân. Công và Tội. Nguyễn Việt Nữ. Bệnh 4 không và thuốc chữa. Http://anhthudatviet.blogspot.ca/2013/02/benh-bon-khong-va-thuoc-chua.html
25. Lê Xuân Nhuân, Biến Loạn Miền Trung, 45, 483.
26.Trúc Giang.Cụm tình báo chiến lược A.22 của VC ở Dinh Độc lập. Chuyển Luân. -http://www.chuyenluan.net/index.php?option=com_content&view=article&id=6107:cum-tinh-bao-vc-o-dinh-doc-lap&catid=15:gopnhatcatda
27.Trúc Giang. như trên.
28.Nguyễn Đức Vinh.- Vũ Ngọc Nhạ.Báo An ninh thế giới- WIKIPEDIA)
29. Đỗ Mâu, ibid. chương XVI, Từ đồng minh vớI Mỹ đến thỏa hiệp với cộng sản, 537 -602.
30. Trần Văn Đôn, Việt Nam Nhân Chứng, Xuân Thu, CA, 1989, 183-184.
31. Trần Văn Đôn sđd, .597.
32. Cao Thế Dung, Việt Nam Ba Mươi Năm Máu Lửa. Alpha,1991,.545-548.
33. Hồ Sơ Mật Của Ngũ Giác Đài. Lan Vi, Hồng Hà, Dương Hùng dịch. Đai Nam, 1971, 199.
34. Hồ Sơ Mật Của Ngũ Giác Đài., 205.
35. Cao Thế Dung, Việt Nam Ba Mươi Năm Máu Lửa. Alpha,1991,.545-548.
36. Đỗ Mậu, sđd. 556.
37. Nguyễn Văn Châu, Ngô Đình Diệm: Nỗ Lực Hoà Bình Dang Dở. Nguyễn Vy Khanh dịch.
Xuân Thu, CA, 1989, 13-14.
38. Nguyễn Văn Châu.,140-142.
39. Nguyễn Văn Châu, ,142.
40. . Lê Tùng Minh. Tạp chí Cách Mạng của Đại Việt, VA, 2000).
41. Lê Xuân Nhuận.PHẢN-BỘI ĐỒNG-MINH.http://lexuannhuan.tripod.com/PhanDoMi.html
42. Bảo Đại.  “Con Rồng Việt Nam”, Nguyễn Phước Tộc, California 1990., tr.517.
43.  Nguyễn Văn Châu.246.
44 . Lê Xuân Nhuân, Biến Loạn Miền Trung 142-143.
45.. Lê Xuân Nhuận.Biến Loạn Miền Trung. Xây Dựng CA, 2012, 483.
46. GM. Phaolô Nguyễn Thái Hợp Tương quan giữa Giáo hội và Nhà nước tại Việt Nam Conggiao.info5/20/2013 8:19:18 AM. Nguồn: Hiệp Thông Bản tin của Hội đồng Giám mục Việt Nam số 75 (tháng 3&4 năm 2013).
http://www.simonhoadalat.com/giaoducgd/SuyTu/34TuongQuanGHvaNhaNuoc.htm
47. Tạp chí Đứng Dậy, số 70, ngày 4.7.1975, tr. 37-38. Theo GM Nguyễn Thái Hợp.


No comments: