Friday, May 30, 2014

VIỆT NAM & BIỂN ĐÔNG

Không thể tin cậy được TQ như trước'

Cập nhật: 09:10 GMT - thứ năm, 29 tháng 5, 2014
Trả lời BBC Tiếng Việt hôm 26/05 tại Lyon về việc liệu đảng Cộng sản Việt Nam có cần có tiếng nói chính thức trước công chúng về sự kiện với Trung Quốc, ông Francois Guillemot nói điều này "rất khó cho ông Nguyễn Phú Trọng".
Chuyên viên của viện Nghiên cứu Đông Á cho rằng quan hệ hiện nay giữa hai đảng Cộng sản theo dạng 'người anh nói, người em phải làm' khi yêu cầu của Tổng bí thư Việt Nam gặp đảng Trung Quốc bị từ chối.
"Theo tôi phản ứng nội bộ của Việt Nam là quá yếu mặc dù ông Nguyễn Tấn Dũng có một số thông điệp mạnh ra bên ngoài.
"Việt Nam cần xem xét lại tình hữu nghị giữa hai nước là như thế nào, đánh giá lại vai trò của Trung Quốc trong lịch sử Việt Nam, mà cái này rất phức tạp," tiến sỹ Lịch sử phụ trách kho tài liệu Việt Nam nói.
"Thời kỳ chiến tranh đã hết rồi nhưng cái nợ về mặt tinh thần vẫn nặng trong đầu não của đảng Cộng sản Việt Nam."
Cuộc phỏng vấn được thực hiện nhân sự kiện thảo luận về Các vấn đề căng thẳng khủng hoảng giữa Trung Quốc và Việt Nam tại Viện nghiên cứu Đông Á, Đại học Sư phạm Lyon hôm 24/05.
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/multimedia/2014/05/140528_francois_guillemot_noi_ve_dang_cong_san.shtml 


Với Việt Nam, Biển Đông là sống còn'



Cập nhật: 11:24 GMT - thứ sáu, 30 tháng 5, 2014
Ông Laurent Gédéon hiện đang nghiên cứu về các vấn đề địa chính trị của Trung Quốc

Một chuyên viên nghiên cứu địa chính trị của Viện Nghiên cứu Đông Á (IAO) cho rằng, Trung Quốc còn có nhiều mối quan tâm khác không chỉ trên Biển Đông mà còn trên Biển Hoa Đông, trong khi với Việt Nam, Biển Đông là ‘sống còn’.
Ông Laurent Gédéon, chuyên gia về Trung Quốc và Việt Nam, nhấn mạnh trong toàn bộ cuộc khủng hoảng này, Trung Quốc đã ‘thắng’ vì họ đã làm được những gì họ muốn trên Biển Đông.
“Trong cuộc khủng hoảng bất cân xứng này, các nước trong khu vực cần tìm tới một đồng minh xa xôi hơn, như Hoa Kỳ chẳng hạn, quốc gia có thể sẽ chấp nhận tham gia vào mối quan hệ địa chính trị, và họ cũng là quốc gia duy nhất có thể cân bằng lại với sức mạnh của Trung Quốc, còn nếu riêng từng nước đơn lẻ trong khu vực thì không thể đấu lại được,” nhà nghiên cứu nói.
Ông Gédéon cũng cho rằng, sự kiện giữa Crimea và Nga có mối liên hệ với sự kiện biển Đông, do ‘lãnh đạo’ Trung Quốc đã theo dõi ‘rất sát’ nhằm đánh giá khả năng phản ứng và hồi đáp của các quốc gia lớn ở phương Tây, “nhất là Hoa Kỳ, nổi bật là trong vấn đề toàn vẹn lãnh thổ theo luật pháp quốc tế”.
BBC Tiếng Việt giới thiệu cuộc phỏng vấn với chuyên gia người Pháp hôm 25/05 tại Lyon, Pháp bên lề cuộc thảo luận về các vấn đề trong cuộc khủng hoảng căng thẳng Trung – Việt.

Trung Quốc đã 'thắng'

BBC: Phải chăng do vị trí địa lý của Việt Nam với Trung Quốc mà vấn đề tranh chấp lãnh thổ giữa hai nước sẽ không bao giờ giải quyết được?
Tôi cho rằng mâu thuẫn không phải là không thể tránh được nếu Trung Quốc và Việt Nam đạt được thỏa thuận chung về vùng nước trong vịnh Bắc Bộ.
Một thỏa thuận chính trị chung giữa Hà Nội và Bắc Kinh là hoàn toàn có thể và chúng ta có chứng cứ để tin rằng điều này có thể đạt được.
Về vấn đề lãnh hải trên biển Đông, chúng ta thấy có sự chồng lấn trong việc tuyên bố lãnh thổ từ phía Trung Quốc và bên kia là Việt Nam, các tuyên bố này áp dụng lên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa và rộng lớn hơn, là không gian hàng hải.
Như vậy có thể nói đây là một dạng căng thẳng nằm trong căng thẳng chính trị mà không chỉ đơn giản là vấn đề địa lý.
BBC: Điều gì sẽ xảy ra tiếp theo đối với những gì đang diễn ra trên Biển Đông? Việt Nam có lý do để lo lắng không?

Nhiều tấm quảng cáo tuyên truyền về biển đảo đã được dựng lên ở Hà Nội. Ảnh chụp hôm 27/05.


Trung Quốc đã chứng tỏ họ có phương tiện để duy trì sự có mặt của giàn khoan này trong khu vực, bằng cách đưa hơn 80 tàu thuyền xung quanh để bảo vệ giàn khoan.
Chúng ta cũng có giả thuyết rằng giàn khoan có thể sẽ được rút đi. Với cách nhìn của tôi thì đây là chiến thắng về mặt chính trị và chiến thắng về mặt ngoại giao.
Bởi vì nhìn vấn đề một cách khách quan thì từ năm 1974, quần đảo Hoàng Sa đã chịu chủ quản trực tiếp của Trung Quốc. Nên một khi Trung Quốc đã đưa giàn khoan vào vùng này rồi kể cả có rút ra, chủ quyền của họ đối với vùng này là không thay đổi.

Theo ý kiến của tôi, việc này vén màn chiến lược của Bắc Kinh nhằm trước tiên và đương nhiên là thử phản ứng của các nước láng giềng với Việt Nam, và xa hơn là của Hoa Kỳ. Thế nên giàn khoan này có thể chỉ là một bước thử nghiệm.
Với người dân, người Việt vốn vẫn cực kỳ lo lắng trước Trung Quốc, vì Trung Quốc nhắc họ nhớ tới lịch sử đô hộ, mà nếu tôi nhớ không nhầm, Việt Nam chỉ độc lập trước Trung Quốc vào năm 939 bằng vũ lực, và sau này vẫn luôn phải đối mặt với ý đồ muốn chiếm lại Việt Nam từ đế chế Trung Hoa.

Vậy đó là lịch sử cận đại, và ít nhất thì Trung Quốc cũng đã chiếm cứ một số không gian trên biển của Việt Nam.
Nhưng về đe dọa chiến tranh thực sự và mối lo ngại liên quan trực tiếp đối với Việt Nam và Trung Quốc, tôi nghĩ là rất ít khả năng xảy ra. Bởi vì theo tôi thì từ cả phía Bắc Kinh và Hà Nội đều không có ý định đối đầu nhau.

'Tách rời phương Đông'

Đảng vừa phải đối mặt với áp lực nội bộ, vừa phải giải quyết áp lực từ Trung Quốc

BBC: Dưới áp lực nào thì giới lãnh đạo Việt Nam thấy họ buộc phải đổi mới?
Chúng ta chỉ có thể đưa ra các giả thuyết, tuy nhiên Hà Nội vẫn thường xuyên đánh giá mối đe dọa từ Trung Quốc và khả năng Việt Nam có thể đối phó với các đe dọa của Trung Quốc.
Cũng có áp lực từ nội bộ, khi mà đảng Cộng sản phải bảo vệ vị trí và vai trò dẫn dắt của mình trong toàn cảnh chính trị Việt Nam. Tôi cho rằng cần có sự cân bằng trong việc đưa ra các quan điểm chính trị từ phía chính phủ và Đảng.
Từ phía đảng Cộng sản cần phải giữ vững quan điểm chính trị quốc gia và các biện pháp chống lại áp lực từ Trung Quốc. Và câu trả lời cũng nằm ở việc họ cân bằng áp lực này như thế nào.
Nếu áp lực của Trung Quốc ngày càng lớn, đây chỉ là một giả thuyết, và Việt Nam vẫn thấy mình đơn độc trong việc đối đầu với Trung Quốc, và thấy cần thiết phải tìm tới các đối tác mạnh mẽ khác, chẳng hạn như Hoa Kỳ.

Nhưng lúc đó Việt Nam sẽ ở vào vị trí phải thương lượng với người Mỹ, mà một khía cạnh có lẽ chắc chắn được đề cập tới là nhân quyền và sự minh bạch trong chính trị Việt Nam.
Với cách làm này thì điều sống còn là Đảng Cộng sản Việt Nam phải tách rời phương Đông thêm một chút, và chấp nhận cởi mở nền chính trị vốn đang giữ kẽ với Hoa Kỳ.
Như thế có nghĩa là Hoa Kỳ đã bày tỏ ý kiến rằng, chúng tôi chỉ trao vũ khí cho các anh để phòng ngự khi các anh chấp nhận tiến trình dân chủ.
...Theo cách nhìn khách quan, ta có thể thấy có nhu cầu cần phải tìm được sự cân bằng này. Nếu không, Việt Nam có thể sẽ gặp rắc rối trong chính trị nội bộ.

Sự kiện Crimea và Nga là 'chỉ dấu' cho lãnh đạo Trung Quốc liên quan tới vấn đề biển Đông, theo nhà nghiên cứu người Pháp

BBC: Ông từng nói sự kiện Crimea và Nga cũng liên quan tới vấn đề Biển Đông?
...Cụ thể trong trường hợp Crimea, tôi nghĩ là Bắc Kinh đã cực kỳ chú ý tới sự kiện này. Đặc biệt là những người đứng đầu Trung Quốc đã đánh giá khả năng phản ứng và đáp trả của các nước lớn ở phương Tây, đặc biệt là Hoa Kỳ, trong vấn đề toàn vẹn lãnh thổ theo luật pháp quốc tế.
Tôi nghĩ là sự thiếu câu trả lời trực tiếp và hiệu quả đối với Crimea từ Hoa Kỳ - vì Nga đã dùng tới biện pháp chính trị sự đã rồi – và tới thời điểm này, vẫn chưa có các biện pháp giữ toàn vẹn lãnh thổ, khiến lãnh đạo Bắc Kinh suy nghĩ.
...Cùng lúc đó, chúng ta có thể thấy với sự kiện biển Đông, việc thiếu câu trả lời của Hoa Kỳ trong vụ Crimea có thể chỉ dấu cho Trung Quốc rằng họ có thể dùng tới chút vũ lực, họ có thể dùng kiểu chính trị sự đã rồi vì Mỹ sẽ phản ứng lại một cách hạn chế.
Và chúng tôi tự hỏi, liệu giàn khoan đưa ra nhằm mục đích chắc chắn là thử Việt Nam nhưng có phải cũng là để xem khả năng phản ứng và đáp trả của Hoa Kỳ đối với các sự việc về không gian lãnh thổ theo kiểu này.
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2014/05/140530_laurent_gedeon_dia_chinh_tri_bien_dong.shtml



THƯ KHẨN CẤP CỦA TRÍ THỨC VIỆT NAM


 

Trí thức Việt Nam gửi thư ngỏ về tình hình khẩn cấp của đất nước

Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương-981 gần quần đảo Hoàng Sa  
Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương-981 gần quần đảo Hoàng Sa


  • TQ tiếp tục tấn công gây thương tích cho phía VN gần giàn khoan Hải Dương
  • Nhật Bản can dự nhiều hơn vào vấn đề Biển Đông
  • Hình ảnh/Video Gặp gỡ ký giả trở về từ điểm nóng Hoàng Sa
  • 2 người bị tù vì biểu tình bạo động chống Trung Quốc
  • Trung Quốc bác tuyên bố chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa
  • Việt Nam yêu cầu Trung Quốc ngưng ‘hành động vô nhân đạo’
  • CỠ CHỮ
    Hơn một trăm nhà trí thức Việt Nam vừa ra thư ngỏ gửi đến đồng bào trong và ngoài nước cùng các đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam, bày tỏ quan tâm về “tình thế hiểm nghèo khi chủ quyền quốc gia bị xâm phạm”, tiếp theo sau những sự cố dồn dập xảy từ đầu tháng Năm, trong cuộc tranh chấp với Trung Quốc ở Biển Đông.

    Trang mạng boxit.com đăng bức thư ngỏ có chữ ký của nhiều trí thức cả trong lẫn ngoài nước. Trên danh sách này có tên nhiều nhà hoạt động, nhà văn nhà thơ, nhà báo và một số đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam. Danh sách này còn có chữ ký của một số lãnh đạo tôn giáo và quân đội, trong đó có Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh.

    Bức thư ngỏ tố cáo mưu đồ lấn chiếm Biển Đông và “hành vi xâm lược bằng vũ lực, ngang nhiên vi phạm luật pháp và các cam kết quốc tế” mà Trung Quốc đã ký kết.

    Bức thư ngỏ này được soạn thảo bởi nhóm trí thức đã khởi xướng kiến nghị 72 và ký tuyên bố quyền thực thi quyền chính trị và dân sự.

    Trong một cuộc phỏng vấn dành cho Ban Việt ngữ-VOA, một trong những người đã ký vào thư ngỏ, Tiến sĩ Nguyễn Quang A, cho biết thông điệp chính của lá thư ngỏ này:

    Cái thông điệp nổi bật là phải dứt bỏ 4 tốt và 16 chữ vàng, mối quan hệ lệ thuộc vào Trung Quốc, đấy là cái thứ nhất. Thứ hai là, chỉ có xây dựng một hệ thống dân chủ thực sự, một nền dân chủ và một nền pháp trị thực sự, tức là không còn độc đảng, không còn toàn trị thì Việt Nam mới có cơ chống ngoại xâm, bởi vì Việt Nam hiện bây giờ đang trơ trọi, tuy rằng trong nước, Tivi vẫn nói rằng nhân dân thế giới ủng hộ, nhưng mà thực sự là bất chấp sự kêu gọi của ông Thủ Tướng, những nước mà lên tiếng mạnh mẽ cũng chỉ nói một cách chiếu lệ mà thôi bởi vì một nước độc đảng, một chế độ độc tài khó mà thuyết phục được những người khác làm bạn.”

    Tiến sĩ Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu IDS và từng là Chủ tịch Hội Tin Học Việt Nam, nói rằng đã đến lúc Đảng Cộng Sản Việt Nam nên gạt sang một bên 16 chữ vàng và 4 chữ tốt trong quan hệ với Trung Quốc.

    Nhưng liệu tình hình thực tế trong nước đã chín muồi cho các đảng chính trị khác sẵn sàng hoạt động hay chưa, Tiến sĩ Nguyễn Quang A nói:

    “Tôi nghĩ rằng nếu mà người dân thúc ép và bản thân những người cầm quyền cũng hiểu được điều đấy và có một thay đổi về mặt pháp luật, hợp thức hóa các đảng chính trị khác hoạt động thì tôi nghĩ rất là nhanh chóng họ có thể tự tổ chức được, chứ không có gì là quá khó khăn cả.”

    Bức thư ngỏ nói chính quyền Việt Nam vẫn trấn áp các cuộc biểu tình khi người dân muốn bày tỏ ý chí muốn bảo vệ chủ quyền quốc gia và chống xâm lược trước dã tâm muốn thôn tính Biển Đông của Bắc Kinh.

    Nhóm khởi xướng bức thư ngỏ nói rằng tình hình nguy hiểm hiện nay là một thách thức, nhưng có thể là “một cơ hội lớn cho dân tộc chấn hưng theo con đường dân tộc và dân chủ”.
    Bức thư kêu gọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước hãy đoàn kết và kiên quyết đấu tranh để bảo vệ độc lập  và chủ quyền quốc gia.
    Nguồn: boxit.com, VOA Interview
     http://www.voatiengviet.com/content/tri-thuc-viet-nam-gui-thu-ngo-ve-tinh-hinh-khan-cap-cua-dat-nuoc/1925947.html


     Việt Nam : Giới nhân sĩ trí thức ra thư ngỏ về tình hình Biển Đông 

    Biểu tình phản đối Trung Quốc ở Sài Gòn, 18/05/2014
    Biểu tình phản đối Trung Quốc ở Sài Gòn, 18/05/2014
    REUTERS

    Thanh Phương
    Trong một bức thư ngỏ được đăng trên mạng hôm nay, 30/05/2014, giới nhân sĩ trí thức Việt Nam kêu gọi chính quyền thúc đẩy cải cách chính trị theo hướng dân chủ hóa để « có đủ sức mạnh bảo vệ và phát triển đất nước » trước mưu đồ lấn chiếm Biển Đông của Trung Quốc.

    Bức « Thư ngỏ về tình hình khẩn cấp của đất nước » cho rằng vụ Trung Quốc đặt giàn khoan Hải Dương 981 ở thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, xâm hại tàu, thuyền của ngư dân và tàu công vụ của Việt Nam là « hành vi xâm lược bằng vũ trang » và là « một bước leo thang mới rất nguy hiểm của thế lực bành trướng Trung Quốc trong mưu đồ lấn chiếm Biển Đông ». 
    Các tác giả bức thư ngỏ bày tỏ sự bất bình trước việc Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam trong phiên họp vừa qua đã không « lên án, phân tích và đề ra đối sách chống lại mưu đồ và hành động xâm lược mới của thế lực bành trướng Trung Quốc ». Họ cũng bất bình trước việc chính quyền tiếp tục trấn áp các cuộc biểu tình ôn hòa của người dân Việt Nam phản đối Trung Quốc. 
    Tuy vậy, các tác bức thư ngỏ hoan nghênh tuyên bố của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng rằng « Việt Nam nhất định không chịu đánh đổi chủ quyền thiêng liêng để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó ». Theo họ, tuyên bố này là thể hiện « đúng ý chí của nhân dân ta ». 
    Nhưng để có thể tập hợp, đoàn kết dân tộc và thu hút được sự đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ của quốc tế, để có đủ sức mạnh bảo vệ và phát triển đất nước, các tác giả thư ngỏ kêu gọi « những nhân tố tích cực » trong giới cầm quyền cùng với nhân dân « thúc đẩy cải cách chính trị, chuyển đổi thể chế từ toàn trị sang dân chủ một cách ôn hòa, gắn với cải cách kinh tế, văn hóa, giáo dục ». 
    Trả lời phỏng vấn RFI, một trong những người ký tên vào thư ngỏ, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân từ Huế nên lên suy nghĩ của ông :

    Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, Huế.
    30/05/2014
    Bức thư ngỏ hiện đã có chữ ký của hơn 100 nhân sĩ trí thức và đang tiếp tục thu thập thêm chữ ký trên mạng.
    Để ký tên xin ghi rõ: (1) họ tên; (2) nghề nghiệp; (3) địa chỉ cư trú (mức thành phố, tỉnh); (4) nước nơi đang cư trú; và gửi về địa chỉ thungovn2014@gmail.com
    http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20140530-viet-nam-gioi-nhan-si-tri-thuc-ra-thu-ngo-ve-tinh-hinh-bien-dong



    Thư ngỏ về tình hình khẩn cấp của đất nước

    * Để ký tên xin ghi rõ: (1) họ tên; (2) nghề nghiệp; (3) địa chỉ cư trú (mức thành phố, tỉnh);
    (4) nước nơi đang cư trú; và gửi về địa chỉ thungovn2014@gmail.com
    29-05-2014

    Kính gửi đồng bào Việt Nam ở trong nước và nước ngoài,
    cùng toàn thể các đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam

    Từ đầu tháng 5 năm 2014, Trung Quốc huy động nhiều loại tàu, đặc biệt là tàu vũ trang, tàu quân sự và cả máy bay yểm trợ cho việc đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 tại vị trí ở sâu trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, xâm hại tàu, thuyền của ngư dân và tàu công vụ của Việt Nam hoạt động ở vùng biển này. Đó là hành vi xâm lược bằng vũ lực, ngang nhiên vi phạm luật pháp và các cam kết quốc tế mà chính Trung Quốc đã ký kết, đánh dấu một bước leo thang mới rất nguy hiểm của thế lực bành trướng Trung Quốc trong mưu đồ lấn chiếm Biển Đông, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, uy hiếp chủ quyền của một số nước khác tiếp giáp Biển Đông và đe dọa trực tiếp hòa bình, an ninh, an toàn hàng hải trong khu vực. Hành động này, cùng với thái độ ngoan cố, xuyên tạc sự thật trước sự phản đối của dư luận quốc tế, đã phơi trần dã tâm bành trướng của nhà cầm quyền Trung Quốc, phản bội quan hệ hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt-Trung.


    Tình thế hiểm nghèo khi chủ quyền quốc gia bị xâm phạm đòi hỏi phải phân tích, dự báo diễn biến và có đối sách chủ động ứng phó. Trách nhiệm này được đặt ra trước hết cho cơ quan lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), đảng đang cầm quyền. Mấy ngày sau khi Trung Quốc đặt giàn khoan, Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI của ĐCSVN đã họp trong 7 ngày (từ 8/5 đến 14/5 năm 2014) song không đáp ứng yêu cầu nêu trên. Phát biểu khai mạc và bế mạc của Tổng Bí thư Đảng CSVN cũng như thông báo của Hội nghị khi kết thúc đều không lên án, phân tích và đề ra đối sách chống lại mưu đồ và hành động xâm lược mới của thế lực bành trướng Trung Quốc. Như vậy, khi đất nước đối mặt với nguy cơ lớn, Ban Chấp hành Trung ương ĐCSVN, trước hết là Tổng Bí thư và Bộ Chính trị đã buông lơi trách nhiệm của mình đối với nước, với dân.


    Trước dã tâm của nhà cầm quyền Trung Quốc, nhân dân muốn bày tỏ ý chí chống xâm lược, bảo vệ chủ quyền quốc gia, nhưng các cuộc biểu tình ôn hòa trong mấy năm qua đều bị nhà cầm quyền trấn áp. Sau “vụ giàn khoan,” các cuộc biểu tình yêu nước của dân vẫn không được chính quyền ủng hộ, mà còn dùng nhiều hình thức ngăn trở, phá đám nên không đạt quy mô và hiệu quả thể hiện đúng sự phẫn nộ và đoàn kết của 90 triệu dân Việt trước kẻ xâm lăng. Nghiêm trọng hơn nữa là sự mất cảnh giác và tình trạng đột ngột tê liệt đến khó hiểu của nhà cầm quyền và các lực lượng an ninh để cho những phần tử xấu chen vào các cuộc biểu tình kích động bạo động phá hoại ở một số nơi, gây thiệt hại cho một số doanh nghiệp nước ngoài, cho nền kinh tế và cho uy tín quốc gia. Dư luận chưa được biết chính xác ai đứng sau những vụ kích động có chủ đích này, song thấy rõ một điều là nhà cầm quyền Trung Quốc đã lập tức thổi phồng những cuộc bạo động này để làm mờ hành vi xâm lược ở Biển Đông và bôi xấu hình ảnh Việt Nam. Các cấp chính quyền nước ta trong khi trợ giúp các doanh nghiệp bị thiệt hại, trấn an các nhà đầu tư nước ngoài, lại lấy các sự cố đó làm cớ để ngăn chặn nhân dân tiếp tục biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược.


    Tình thế hiểm nghèo của đất nước hiện nay vừa thách thức nghiêm trọng, vừa tạo cơ hội lớn cho dân tộc ta chấn hưng đất nước theo con đường dân tộc và dân chủ, trước hết là giải tỏa nhận thức mơ hồ về thế lực bành trướng Trung Quốc, thấy rõ sự xâm nhập, lũng đoạn bằng nhiều thủ đoạn tinh vi và thâm độc của thế lực này trên nhiều mặt mà nước ta phải phấn đấu để thoát khỏi sự phụ thuộc, xây dựng quan hệ láng giềng hòa bình, hữu nghị trên cơ sở tự chủ, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau.

    Dư luận xã hội ghi nhận và ủng hộ những quan điểm và hành động tích cực trong thời gian gần đây của không ít người có trách nhiệm trong bộ máy cầm quyền ở các ngành, các cấp trước mưu đồ bành trướng của Trung Quốc. Trong những biểu hiện đó, nổi lên lời phát biểu của Thủ tướng tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN họp ngày 11-5, tại hội nghị Diễn đàn kinh tế thế giới khu vực Đông Á ngày 22-5, đặc biệt là lời khẳng định “Việt Nam nhất định không chịu đánh đổi chủ quyền thiêng liêng để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó”, thể hiện đúng ý chí của nhân dân ta.


    Tình hình hiện nay đòi hỏi và tạo cơ sở cho các cán bộ, đảng viên trung thành với tâm nguyện vì dân vì nước cùng với nhân dân vạch rõ và đấu tranh không khoan nhượng chống lại những quan điểm và thái độ nhu nhược đối với kẻ xâm lược, dùng bạo lực, lừa mị đối với dân, lo mất chức quyền hơn mất nước của một số người lãnh đạo ở cơ quan Trung Ương và các cấp, đặc biệt là những kẻ có quan hệ mờ ám với nhà cầm quyền Trung Quốc. Những nhân tố tích cực trong giới cầm quyền cần thoát khỏi sự khống chế và kìm hãm lâu nay, gắn bó mật thiết với dân để cùng nhân dân thúc đẩy cải cách chính trị, chuyển đổi thể chế từ toàn trị sang dân chủ một cách ôn hòa, gắn với cải cách kinh tế, văn hóa, giáo dục, đưa đất nước ra khỏi cuộc khủng hoảng toàn diện và sâu sắc hiện nay, mở ra một trang mới trong lịch sử dân tộc. Chỉ có như vậy chúng ta mới tập hợp, đoàn kết được toàn dân tộc và thu hút được sự đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ của nhân loại tiến bộ để có đủ sức mạnh bảo vệ và phát triển đất nước.

    Không một thủ đoạn lừa bịp, hăm dọa hay bạo lực nào từ bên ngoài có thể khuất phục được ý chí bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta!
    Không một sự lừa mị, một hành động trấn áp nào có thể lung lạc được tinh thần yêu nước của nhân dân!

    Chúng tôi tin tưởng rằng cuộc đấu tranh nêu trên của những đảng viên vì nước vì dân của Đảng CSVN sẽ được nhân dân nhiệt tình ủng hộ, góp sức. Mọi người Việt Nam hãy đồng lòng kiên quyết đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia bằng nhiều hình thức thể hiện rõ tính chính nghĩa và nhân văn, hết sức cảnh giác trước những thủ đoạn kích động của thế lực bành trướng Trung Quốc và tay sai, hết lòng cổ vũ, hỗ trợ các chiến sĩ bảo vệ biển đảo và ngư dân bám biển, đồng thời góp phần tích cực thúc đẩy cải cách chính trị, xây dựng nền dân chủ và pháp trị thực sự, đổi mới và phát triển kinh tế, văn hóa để bảo vệ chủ quyền, đưa đất nước thoát khỏi lệ thuộc và tụt hậu.


    Chúng tôi mong nhận được sự đồng tình, hưởng ứng của đồng bào ở trong và ngoài nước cùng với nhiều đảng viên ĐCSVN, thể hiện trước hết bằng việc ký thư ngỏ này và vận động nhiều người khác tham gia.*


    Những người ký tên đầu tiên

    Phạm Xuân Yêm, nguyên Giám đốc Nghiên cứu Khoa học (CNRS), Đại học Pierre et Marie Curie, Paris, Pháp
    Nguyễn Đắc Xuân, nhà văn, nhà nghiên cứu lịch sử, Huế
    Tô Nhuận Vỹ, nhà văn, Huế
    Nguyễn Trọng Vĩnh, Thiếu tướng, Hà Nội
    J.B Nguyễn Hữu Vinh, kỹ sư, blogger, nhà báo tự do, Hà Nội
    Dương Tường, nhà thơ – dịch giả, Hà Nội
    Hoàng Minh Tường, nhà văn, Hà Nội
    Trần Thị Tươi, làm biên tập website, TP HCM
    Hoàng Tụy, GS, Viện Toán học, Hà Nội
    Nguyễn Đức Tùng, M.D., Canada
    Vũ Quốc Tuấn¸ nguyên trợ lý Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, Hà Nội
    Tô Văn Trường, TS, chuyên gia tài nguyên nước và môi trường, TP HCM
    Nguyễn Trung, nguyên trợ lý cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Hà Nội
    Phạm Đình Trọng, nhà văn, TP HCM
    Nguyễn Thị Khánh Trâm, nghiên cứu viên về văn hóa, TP HCM
    Phạm Toàn, nhà giáo nghỉ hưu, Hà Nội
    Nguyễn Minh Tịnh, Australia
    Phan Văn Thuận, Giám đốc công ty TNHH Phú An Định, TP HCM
    Nguyễn Thị Thu, cán bộ nghỉ hưu, TP HCM
    Đào Tiến Thi, ThS, nhà giáo, nhà văn, nhà nghiên cứu ngôn ngữ, Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hà Nội
    Lê Thân, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên cán bộ phong trào đấu tranh của nhân dân, sinh viên, học sinh tranh thủ dân chủ Thành phố Đà Lạt, cựu tù chính trị Côn Đảo, TP HCM
    JM. Lê Quốc Thăng, linh mục Tổng Giáo phận Sài Gòn, TP HCM
    Trần Minh Thảo, viết văn, Bảo Lộc, Lâm Đồng
    Trần Quang Thành, nhà báo, Slovakia
    Antôn Lê Ngọc Thanh, linh mục Dòng Chúa Cứu Thế, Tổng Giáo phận Sài Gòn, TP HCM
    Thân Hải Thanh, nguyên Tổng Giám đốc Benthanhtourist, TP HCM
    Trần Thị Băng Thanh, nghiên cứu văn học cổ Việt Nam, Hà Nội
    Nguyễn Quốc Thái, nhà báo, TP HCM
    Trần Công Thạch, nhà giáo nghỉ hưu, Sài Gòn
    Nguyễn Hữu Tế, TP HCM
    Bùi Ngọc Tấn, nhà văn, Hải Phòng
    Đào Xuân Sâm, nguyên thành viên Tổ Tư vấn của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, Hà Nội
    Trần Ngọc Sơn, kỹ sư, Pháp
    Tô Lê Sơn, kỹ sư cơ khí, TP HCM
    André Menras Hồ Cương Quyết, cựu tù chính trị chế độ cũ, Cộng hòa Pháp
    Bùi Minh Quốc, nhà báo, nguyên Tổng Biên tập tạp chí Lang Bian, Đà Lạt
    Nguyễn Đăng Quang, Đại tá, nguyên cán bộ Bộ Công an, Hà Nội
    Đặng Bích Phượng, đã nghỉ hưu, Hà Nội
    Hiền Phương, nhà văn, TP HCM
    Huỳnh Sơn Phước, nhà báo, nguyên thành viên IDS, Hội An
    Hà Sĩ Phu, TS, nhà văn tự do, Đà Lạt
    Nguyễn Hữu Châu Phan, nhà nghiên cứu, Huế
    Nguyễn Văn Nhượng, kỹ sư, Thụy Sĩ
    Hồ Ngọc Nhuận, nguyên Chủ bút nhật báo Tin Sáng Sài Gòn, TP HCM
    Nguyễn Quang Nhàn, cán bộ công đoàn hưu trí, Đà Lạt
    Nguyễn Thái Nguyên, TS, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, Hà Nội
    Trần Đức Nguyên, nguyên Trưởng ban Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, Hà Nội
    Nguyễn Đình Nguyên, TS, Australia
    Hạ Đình Nguyên, hưu trí, TP HCM
    Nguyên Ngọc, nhà văn, Hội An – Hà Nội
    Nguyễn Xuân Nghĩa, TS, giảng viên, TP HCM
    Kha Lương Ngãi, nguyên Phó Tổng biên tập báo Sài Gòn Giải phóng, TP HCM
    Trần Tố Nga, nhà giáo về hưu, Huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh của Pháp, hiện sống ở Paris
    La Thi Nga, sinh viên, CHLB Đức
    Ngô Minh, nhà thơ, Huế
    Phạm Gia Minh, TS Kinh tế, Hà Nội
    GBt. Huỳnh Công Minh, linh mục Tổng Giáo phận Sài Gòn, TP HCM
    Phan Đắc Lữ, nhà thơ, TP HCM
    Lê Thăng Long, kỹ sư, TP HCM
    Mai Thái Lĩnh, nhà giáo nghỉ hưu, nhà nghiên cứu độc lập, Đà Lạt, Lâm Đồng
    Hồ Uy Liêm, PGS TS, nguyên quyền Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Hà Nội
    Cao Lập, hưu trí, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên Giám đốc Làng Du lịch Bình Quới – Saigontourist
    Võ Thị Lan, cán bộ hưu trí (Công an TP- HCM), TP HCM
    Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải, nguyên Phó Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội
    Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học Việt Nam, nguyên thành viên Tổ Tư vấn của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, TP HCM
    Trần Minh Khôi, kỹ sư điện toán, Đức
    Vũ Trọng Khải, chuyên gia độc lập về phát triển nông thôn, TP HCM
    Hoàng Hưng, nhà thơ, nhà báo tự do, TP HCM
    Hà Thúc Huy, PGS TS, giảng dạy đại học, TP HCM
    Nguyễn Thế Hùng, GS TS ngành Thủy lợi, Phó Chủ tịch Hội Cơ học Thủy khí Việt Nam, TP Đà Nẵng
    Phaolô Nguyễn Thái Hợp, Giám mục giáo phận Vinh
    Tô Hòa, nguyên Tổng biên tập báo Sài Gòn Giải phóng, TP HCM
    Nguyễn Xuân Hoa, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin, nguyên Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế, Huế
    Hồ Hiếu, cựu tù Côn Đảo, nguyên chánh văn phòng Ban Dân vận Thành ủy, TP HCM
    Phạm Duy Hiển, GS, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
    Phạm Duy Hiển, kĩ sư, đã nghỉ hưu, Bà Rịa – Vũng Tàu
    Vũ Sinh Hiên, nhà nghiên cứu, TP HCM
    Nguyễn Công Hê, TP HCM
    Nguyễn Thị Thanh Hằng, dược sĩ, Pháp
    Võ Thị Hảo, nhà văn, Hà Nội
    Đặng Thị Hảo, TS, Hà Nội
    Nguyễn Gia Hảo, chuyên gia tư vấn (Kinh tế đối ngoại) độc lập, nguyên thành viên Tổ Tư vấn của Thủ tướng Chính phủ (Võ Văn Kiệt), trọng tài viên Trung tâm Trọng tài (Thương mại) Quốc tế Việt nam (VIAC), Hà Nội
    Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Hà Nội
    Nguyễn Tất Hanh, họa sĩ, nhà thơ, hội viên Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hải Phòng
    Phạm Bá Hải, Ths Kinh tế, Sài Gòn
    Đặng Hạ, lão thành cách mạng, đã nghỉ hưu, Hà Nội
    Lê Minh Hà, nhà văn, Đức
    Lê Công Giàu, nguyên Tổng Thư ký Tổng hội Sinh viên Sài Gòn 1966, nguyên Giám đốc Trung Tâm xúc tiến thương mại đầu tư, TP HCM
    Nguyễn Ngọc Giao, nhà giáo về hưu, Pháp
    Nguyễn Hoàng Giao, nghiên cứu sinh tại Đại học Macquarie, Australia
    Trần Tiến Đức, nhà báo, đạo diễn truyền hình, nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục – Truyền thông Ủy ban Quốc gia Dân số và Kế hoạch hóa Gia đình, Hà Nội
    Lê Mạnh Đức, hưu trí, TP HCM
    Huy Đức, nhà báo độc lập, TP HCM
    Uông Đình Đức, kỹ sư cơ khí đã nghỉ hưu, TP HCM
    Phạm Ngọc Đăng, GS TSKH, Nhà giáo Nhân dân, Hà Nội
    Nguyễn Đình Đầu, nhà nghiên cứu, TP HCM
    Nguyễn Đức Dương, nghiên cứu tiếng Việt, cán bộ nghỉ hưu, TP HCM
    Lê Đăng Doanh, TS Kinh tế, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ Tướng, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
    Doãn Mạnh Dũng, kỹ sư Khai thác Vận tải biển, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hội Biển TP HCM, TP HCM
    Hoàng Dũng, PGS TS, Đại học Sư phạm TP HCM, TP HCM
    Nguyễn Xuân Diện, TS Ngữ văn, Hà Nội
    Nguyễn Trung Dân, nhà báo, TP HCM
    Phạm Công Cường, TS Hóa học, nguyên giảng viên Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, cán bộ Viện Nghiên cứu Năng lượng Nguyên tử Quốc gia, Hà Nội
    Tiêu Dao Bảo Cự, nhà văn tự do, Đà Lạt
    Ngô Thị Kim Cúc, nhà văn, nhà báo, TP HCM
    Tống Văn Công, nguyên Tổng Biên tập báo Lao Động, TP HCM
    Nguyễn Kim Chung, giáo viên dạy toán đã về hưu, TP HCM
    Nguyễn Phương Chi, biên tập viên chính, nguyên Phó phòng Tạp chí Nghiên cứu văn học, Viện Văn học, Hà Nội
    Nguyễn Huệ Chi, GS, Hà Nội
    Huỳnh Ngọc Chênh, nhà báo, Sài Gòn
    Nguyễn Văn Binh, nguyên dân biểu Quốc hội Sài Gòn, TP HCM
    Nguyễn Thị Hoàng Bắc, nhà giáo, nhà văn, Hoa Kỳ
    Trần Ngọc Báu, nghỉ hưu, Thuỵ Sĩ
    Huỳnh Kim Báu, nguyên Tổng thư ký Hội Trí thức, TP HCM
    Nguyễn Quang A, TS, nguyên Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội

    * Để ký tên xin ghi rõ: (1) họ tên; (2) nghề nghiệp; (3) địa chỉ cư trú (mức thành phố, tỉnh); (4) nước nơi đang cư trú; và gửi về địa chỉ thungovn2014@gmail.com


    TIN VIỆT NAM & BIỂN ĐÔNG


    VN xích lại gần cựu thù Hoa Kỳ, Nhật Bản giữa lúc tranh chấp Biển Đông leo thang

    Tàu Việt Nam và Trung Quốc gần giàn khoan Hải Dương 981 Trung Quốc hạ đặt gần quần đảo Hoàng Sa
    Tàu Việt Nam và Trung Quốc gần giàn khoan Hải Dương 981 Trung Quốc hạ đặt gần quần đảo Hoàng Sa
    Giới phân tích nói xung đột lãnh thổ giữa Trung Quốc với Việt Nam đang đẩy Hà Nội xích lại gần hơn với Washington và các đồng minh của Mỹ trong khu vực, kể cả Nhật Bản và Philippines.

    Theo bản tin của tờ South China Morning Post, những giải pháp của Hà Nội bị hạn chế giữa lúc họ đang cố gắng lôi kéo sự chú ý của quốc tế, và cùng lúc không muốn phương hại tới quan hệ với nước láng giềng khổng lồ Trung Quốc, một đối tác quan trọng về ý thức hệ và kinh tế.

    Tờ báo dẫn lời Giáo sư Li Ming jiang của Đại học Quan hệ Quốc tế Singapore, nói rằng trong ngắn hạn Việt Nam và Hoa Kỳ có khả năng tăng cường hợp tác quân sự. Nhưng về lâu về dài, các vấn đề như tình hình nhân quyền tại Việt Nam sẽ ngăn cản nỗ lực tạo dựng một quan hệ đối tác bền chặt hơn.

    Việt Nam cũng đang chuẩn bị chung kết một thỏa thuận để Việt Nam nhận thêm tàu tuần tiễu của Nhật. Thủ Tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã lên tiếng ủng hộ Hà Nội trong một cuộc phỏng vấn dành cho tờ The Wall Street Journal mới đây.

    Sáng thứ Sáu, Thủ Tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã rời Nhật Bản lên đường sang Singapore để dự hội nghị an ninh ba ngày. Theo dự kiến, tại đây ông sẽ đưa ra hình ảnh một nước Nhật như một lực đối trọng với sức mạnh đang tăng của Trung Quốc trong khu vực.

    Các hãng tin AFP, Kyodo và AP tường thuật rằng trong một bài diễn văn quan trọng đọc vào tối hôm nay, Thủ Tướng Abe sẽ vạch ra viễn kiến của ông về những gì mà Nhật Bản có thể đóng góp cho nền hòa bình toàn cầu.

    Các giới chức Nhật cho biết tại hội nghị Singapore, Thủ Tướng Abe cũng sẽ giải thích vì sao Nhật Bản đang tái xét những hạn chế về pháp lý đã được áp đặt bởi Hiến Pháp chủ hòa của nước ông, trong bối cảnh tình hình an ninh đang thay đổi.

    Thủ Tướng Abe sẽ gặp Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Chuck Hagel hôm nay, thứ Sáu, trong khi Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Onodera sẽ gặp Bộ trưởng Hagel vào ngày thứ Bảy.

    Các cuộc họp cấp cao diễn ra giữa lúc trong nội địa Nhật Bản đang có tranh cãi gay gắt hơn về liệu Nhật Bản có nên hành xử quyền tự vệ, và sửa đổi chính sách chủ hòa của Nhật Bản sau thời chiến, hay không.

    Các động thái của Nhật Bản nhằm tháo gỡ các hạn chế để có khả năng bênh vực các đồng minh bị tấn công quân sự đang gây nhiều quan ngại tại Trung Quốc và Nam Triều Tiên.

    Bất cứ cuộc tranh cãi nào giữa Tokyo và Bắc Kinh cũng sẽ thu hút sự chú ý tại hội nghị an ninh Singapore, trong bối cảnh các chiến đấu cơ Trung Quốc mới đây đã áp sát một cách bất thường các máy bay của Lực lượng Tự vệ Nhật Bản trên Biển Hoa Đông.

    Nguồn: cctv.com, cnn.com, theglobeandmail.com 

     http://www.voatiengviet.com/content/vn-xich-lai-gan-cuu-thu-hoa-ky-nhat-ban-giua-luc-tranh-chap-bien-dong-leo-thang/1926029.html

     

    Bộ trưởng Hagel sẽ khuyến cáo TQ chớ leo thang thêm tranh chấp trong khu vực

    Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Chuck Hagel (phải) đến Singapore để dự hội nghị an ninh Shangri-La, 30/5/14
    Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Chuck Hagel (phải) đến Singapore để dự hội nghị an ninh Shangri-La, 30/5/14







  • TQ tiếp tục tấn công gây thương tích cho phía VN gần giàn khoan Hải Dương
  • Nhật Bản can dự nhiều hơn vào vấn đề Biển Đông
  • Hình ảnh/Video Gặp gỡ ký giả trở về từ điểm nóng Hoàng Sa
  • 2 người bị tù vì biểu tình bạo động chống Trung Quốc
  • Trung Quốc bác tuyên bố chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa
  • Việt Nam yêu cầu Trung Quốc ngưng ‘hành động vô nhân đạo’

  • Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Chuck Hagel cho biết ông sẽ gặp một giới chức quân sự cao cấp Trung Quốc tại một hội nghị an ninh ở Singapore và sẽ khuyến cáo giới chức này chớ leo thang hơn nữa các cuộc tranh chấp lãnh thổ trong khu vực Á Châu-Thái bình dương.

    Hãng tin Bloomberg đêm thứ Năm tường thuật rằng theo kế hoạch, ông Hagel, ngày thứ Bảy sắp tới, sẽ gặp Trung Tướng Vương Quán Trung (Wang Guanzhong), Phó Tham mưu trưởng Quân đội Trung Quốc và phái đoàn Trung Quốc đến dự hội nghị an ninh thường niên Shangri-La sẽ diễn ra vào cuối tuần này.

    Nói chuyện với các nhà báo trên chuyến bay tới Singapore, Bộ trưởng Hagel nói Hoa Kỳ có lợi ích rất lớn trong việc duy trì các tuyến hàng hải trong khu vực, tiếp tục được mở rộng cho giao thương quốc tế.

    Dịp này, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ cho biết ông dự định sẽ thảo luận “một cách cụ thể ” về các căng thẳng giữa Trung Quốc và Việt Nam trong Biển Đông.

    Ông nói Hoa Kỳ và Trung Quốc có những lĩnh vực có thể hợp tác với nhau, nhưng mặt khác “cũng có những lĩnh vực hai bên có thể trực diện với nhau, không phải là những lĩnh vực cạnh tranh, mà là những lĩnh vực mà Washington tin rằng Bắc Kinh đang “quá tay khi khơi mào và tạo ra những thách thức và những căng thẳng mới”.

    Trung Quốc và Việt Nam đang lâm vào một cuộc xung đột kéo dài, và đã leo thang đáng kể trong tuần qua, sau khi Trung Quốc đưa giàn khoan nước sâu vào khoan dầu ở ngoài khơi bờ biển Việt Nam, nơi mà Hà nội cho là lãnh thổ của mình. Căng thẳng tăng cao sau khi một tàu đánh cá Việt Nam bị chìm trong một vụ đụng tàu mà hai bên quy lỗi cho nhau.

    Đây là lần thứ năm ông Hagel tới thăm Á Châu-Thái bình dương từ khi ông lên nhậm chức vào tháng Hai năm 2013.

    Tại đây, ông dự định sẽ mở 10 cuộc họp song phương với các vị tương nhiệm Á Châu, và tổ chức 2 cuộc họp tay ba, một cuộc họp với Nhật Bản và Nam Triều Tiên, và cuộc họp tay ba thứ nhì là giữa Hoa Kỳ với Nhật Bản và Australia.

    Ông Hagel đang thực hiện một chuyến công du 12 ngày cũng sẽ đưa ông sang thăm Afghanistan, Bỉ, Romania và Pháp.

     Nguồn: Bloomberg.com, motthegioi.vn 
     http://www.voatiengviet.com/content/bo-truong-hagel-se-khuyen-cao-tq-cho-leo-thang-them-tranh-chap-trong-khu-v%E1%BB%B1c/1925998.html

     

     Học giả Việt Nam tiếc thông điệp Obama đến muộn

    Phần âm thanh Tải xuống âm thanh
    Tổng thống Barack Obama phát biểu tại Học viện quân sự West Point, New York, ngày 28 tháng 5 năm 2014.
    White House Photo/Pete Souza

    Hoa Kỳ sẵn sàng đáp trả sự gây hấn của Trung Quốc trên Biển Đông, lời cảnh báo do Tổng thống Barack Obama đưa ra hôm 28/5 tại Học viện quân sự West Point (New York) được báo chí Việt Nam nhanh chóng chuyển tải. Phải chăng Việt Nam trông đợi sự ủng hộ của Hoa Kỳ và liệu việc này có giúp Việt Nam thoát khỏi hoàn cảnh đơn độc trong cuộc đấu không cân xứng với kẻ xâm lược phương Bắc.

    Một tín hiệu rất tốt

    Trong câu chuyện với Nam Nguyên vào tối 29/5/2014, Thạc sĩ Hoàng Việt, giảng viên luật quốc tế trường Đại học Luật TP.HCM, thành viên Quỹ nghiên cứu Biển Đông đã trả lời câu hỏi là bản thân ông đón nhận tuyên bố của Tổng thống Obama như thế nào:
    “Cá nhân tôi cho rằng, đó là một tín hiệu rất tốt. Và nếu Hoa Kỳ đã có những tiếng nói mạnh mẽ hơn như vậy, nếu Hoa Kỳ đưa ra sớm từ đầu thì có lẽ đã ngăn chặn được sự leo thang của Trung Quốc như thời gian vừa rồi. Và tôi đã từng nói, trên thế giới này để kiềm chế được tham vọng của Trung Quốc đối với các vùng biển, trong đó đặc biệt là Biển Đông thì chỉ có một quốc gia có thể làm được đó là Hoa Kỳ. Vì Hoa Kỳ có uy tín và khả năng, cũng như kinh nghiệm phát triển cường quốc biển  của mình. Hoa Kỳ đủ sức và chỉ có Hoa Kỳ có thể ngăn chặn tham vọng của Trung Quốc ở vùng Biển Đông này.”
    Trả lời cùng một câu hỏi được chúng tôi nêu ra,  TS Phạm Chí Dũng nhà bình luận độc lập hiện sống và làm việc ở Sài Gòn nhận định:
    Đó là một tín hiệu rất tốt. Và nếu Hoa Kỳ đã có những tiếng nói mạnh mẽ hơn như vậy, nếu Hoa Kỳ đưa ra sớm từ đầu thì có lẽ đã ngăn chặn được sự leo thang của TQ.
    -Thạc sĩ Hoàng Việt
    “Tôi nghĩ là rất nhiều người Việt Nam ủng hộ chuyện này và họ còn thấy sự thực lòng của Mỹ nữa. Còn về quyền lợi của Mỹ thì rõ ràng Tổng thống Obama cần hành động như vậy, không thể hành động khác được. Vì nếu hành động khác thì nó không thuận chính sách xoay trục về Châu Á Thái Bình Dương của Mỹ. Cho tới lúc này ít nhất một hành động mà Mỹ cần thể hiện là tăng cường vai trò hạm đội 7 trên khu vực Biển Đông, để ngăn chặn ảnh hưởng bành trướng mở rộng của Trung Quốc, đó là vấn đề mà hiện nay người Mỹ đang phải đối mặt. Giàn khoan HD 981 mặc dù là một câu chuyện rất nhỏ nhưng là một thách thức gián tiếp mà tôi cho là cả trực tiếp đối với chính quyền Mỹ về tất cả những gì gọi là chính sách bảo vệ quyền lợi và công dân Mỹ ở ngoài biên giới Mỹ.”
    Thông tấn xã Việt Nam cũng nhanh chóng đưa tin về điều gọi là ‘Mỹ ủng hộ Việt Nam khá mạnh mẽ trong vấn đề Biển Đông. Hãng thông tấn chính thức này đã trích nhận định của GS Nguyễn Mạnh Hùng, chuyên ngành quan hệ quốc tế của Đại học George Mason tiểu bang Virginia Hoa Kỳ. GS Nguyễn Mạnh Hùng nói rằng: “Quan điểm  của chính quyền Mỹ  trước vấn đề Biển Đông như vậy là rõ ràng và nên được đặt trong bối cảnh chính quyền ông Obama thời gian qua đã liên tục nêu quan ngại trước các hành động của Trung Quốc.”

    Học giả Hoàng Việt thành viên Quỹ nghiên cứu Biển Đông giải thích rõ hơn về việc tại sao ông lại tiếc về việc thời điểm mà ông cho là khá chậm khi phía Hoa Kỳ thể hiện quan điểm mạnh mẽ và cụ thể hơn về vấn đề Biển Đông:
    “Trong suốt thời gian vừa rồi chính quyền Hoa Kỳ vẫn có những phản đối, nhưng là những phản đối ở mức độ vừa phải và chỉ dừng lại ở những tuyên bố mang tính chất lo ngại thôi. Chính vì vậy Trung Quốc cho là họ toàn quyền giống như một ông chủ ở một vùng hoang vu ở Châu Á này và Trung Quốc có thể quyết định muốn làm gì cũng được. Chính vì vậy dẫn tới hàng loạt những căng thẳng do Trung Quốc gây ra. Cho nên, nếu phía Hoa Kỳ như Tổng thống Obama phát biểu ở Học viện West Point cho thấy một tiếng nói phản đối mạnh mẽ từ phiá Hoa Kỳ, thì điều này sẽ làm cho Trung Quốc phải chùn tay.”


    Tuyên bố của Tổng thống Obama về Biển Đông được đưa ra vào ngày 28/5 trong bối cảnh Việt Nam đã chịu trận 28 ngày, đã thất bại trong việc đẩy giàn khoan Hải Dương 981 ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế của mình. Cùng ngày 28/5 Trung Quốc đã hoàn tất việc di chuyển giàn khoan chếch lên phía đông bắc 23 hải lý, gần đảo Tri Tôn hơn nhưng vẫn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế thềm lục địa Việt Nam. Trung Quốc còn xác nhận họ đã hoàn tất khoan thăm dò ở vị trí cũ, nay bước sang giai đoạn hai. Với tình hình này việc Việt Nam mất biển đã thể hiện và không loại trừ việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan dầu khí ở bất cứ chỗ nào trên vùng biển Việt Nam. TS Phạm Chí Dũng từ Sài Gòn nhận định:

    Tàu Trung Quốc (bên phải) sử dụng vòi rồng để tấn công tàu tuần tra của Việt Nam và cũng liên tiếp húc vào tàu VN trong vùng biển tranh chấp ở Biển Đông hôm 2 tháng 5, 2014. AFP PHOTO.

    hd981-3-250
    “Thứ nhất giàn khoan 981 là bước đi đầu tiên trong chiến dịch gây hấn của Trung Quốc và lấn chiếm từng hải lý một trên vũng lãnh thổ của Việt Nam. Thứ hai một viên tướng về hưu của Trung Quốc đã từng tuyên bố rằng Trung Quốc có thể kéo 100 giàn khoan lại sát với HD 981 vào vùng biển Việt Nam mà không cần phải dè dặt gì. Và thứ ba tôi nghĩ là nhà nước Việt Nam họ đã quá đuối trong việc này, gần 4 tuần sau khi sự khởi động dịch chuyển giàn khoan HD 981 từ Hải Nam vào Việt Nam mà không có một phản ứng gì đáng kể. Cho tới nay tất cả những điều nói ra là kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế như Philippines làm thì cũng chưa tới đâu cả. Tôi không hiểu nhà nước Việt Nam, các hội đồng cố vấn các giáo sư họ đang tính toán điều gì, đó chính là điều tôi từng viết “nhu nhược là nguồn cơn của tội lỗi và đớn hèn là căn nguyên của mất nước.”

    Việt Nam cứ mãi kiềm chế?

    Gần 4 tuần sau khi chủ quyền trên vùng biển duyên hải Việt Nam bị Trung Quốc xâm phạm Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nêu 3 nhóm giải pháp cụ thể về biển Đông. Nhưng theo giới quan sát chính trị, thì nó hoàn toàn không có gì mới so với những gì mà chính quyền Việt Nam đã thể hiện.
    Hầu hết báo chí Việt Nam đưa tin này và báo mạng VnEconomy gọi là thông điệp của Thủ tướng với 3 nhóm giải pháp cụ thể về biển Đông. Tờ báo tóm gọn lời Thủ tướng: “Kiên quyết đấu tranh với Trung Quốc trên biển Đông, nhưng vẫn giữ quan hệ ngoại giao, kinh tế bình thường, tuyệt đối lên án các hành vi kích động, bài trừ người Hoa.”
    Nếu Việt Nam cứ mãi kiềm chế như thế này mà không đẩy được cái giàn khoan của Trung Quốc ra thì có nguy cơ là Việt Nam ở vào thế yếu.
    -Thạc sĩ Hoàng Việt
    Như vậy người Việt Nam kiên trì thực hiện chấp pháp trên vùng biển của mình và sẽ không bao giờ sử dụng vũ lực. Điều gì sau cùng sẽ xảy ra, nếu lực lượng cảnh sát biển, kiểm ngư Việt Nam vẫn mãi chịu trận trước vành đai bảo vệ giàn khoan của hơn 100 tàu Trung Quốc vũ trang. Nhà nghiên cứu biển đông Hoàng Việt nhận định:

    “Một bên là Việt nam vẫn hết sức kiềm chế để không bị rơi vào cái bẫy của Trung Quốc đang giăng ra. Trung Quốc muốn Việt Nam sử dụng vũ lực trước thì Trung Quốc sẽ có cớ để đáp trả ngay, Việt Nam vẫn cố hết sức để kiềm chế vấn đề đó. Tuy nhiên nếu Việt Nam cứ mãi kiềm chế như thế này mà không đẩy được cái giàn khoan của Trung Quốc ra thì có nguy cơ là Việt Nam ở vào thế yếu, Trung Quốc cho rằng họ thành công trong việc này và nó sẽ tạo thành một tiền lệ để Trung Quốc tiếp tục làm trong tương lai. 

    Về lâu về dài, một mặt Việt Nam vẫn lên tiếng kêu gọi cộng đồng quốc tế ngăn chặn tham vọng của Trung Quốc, cũng giống như buộc Trung Quốc phải xuống thang trong cuộc gây căng thẳng này. Mặt thứ hai thì làm sao Việt Nam phải xây dựng được nội lực của mình, trong đó các đội tàu như cảnh sát biển, kiểm ngư có đủ sức mạnh để mà có thể đương đầu với các lực lương của Trung Quốc thì lúc đó Việt Nam mới có thể bảo vệ được vùng biển của mình.”
    Đấu tranh trên thực địa là một trong 3 giải pháp bảo vệ chủ quyền ở biển Đông mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng công bố hôm 29/5/2014 tại Hà Nội, hai giải pháp còn lại là đấu tranh trên mặt trận ngoại giao và đấu tranh bằng con đường dư luận.

    Đấu tranh trên thực địa thì Thủ tướng chỉ đạo các tàu chấp pháp Việt Nam phải luôn có mặt tại vị trí mới của giàn khoan Trung Quốc cản phá và đẩy đuổi tàu trung Quốc hoạt động trái phép. Ông Nguyễn Tấn Dũng cho biết hơn 30 tàu của lực lượng chấp Việt Nam đã bị tàu Trung Quốc đâm va, gây hỏng hóc. Ông Thủ tướng cũng cảnh báo sẽ còn có va chạm nhiều nữa, nhưng ông chỉ đạo lực lượng chấp pháp Việt Nam phải kiên quyết và cố gắng kiềm chế.
    Khi nói về giải pháp đấu tranh trên thực địa, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng không hề hứa hẹn đóng thêm tàu lớn hơn, mạnh hơn để trang bị cho lực lượng chấp pháp, cũng như gia tăng ngân sách để tăng cường đội ngũ tiền phương này. Vậy thì làm thế nào mà lực lượng cảnh sát biển, lực lượng kiểm ngư Việt Nam có thể đối đầu lực lượng tàu ngư chính, hải giám, hải sự hùng mạnh của Trung Quốc. Hỏi như thế tất nhiên đã có câu trả lời.
    http://www.rfa.org/vietnamese/programs/obama-s-speech-on-scs-is-it-late-nn-05302014072932.html


     

    Việt Nam: có làm mạnh như nói?

    Việt-Long - RFA
    2014-05-29







  • Email

  • Hôm thứ ba Trung Quốc đã dời giàn khoan về hướng đông đông bắc, đến vị trí cách đảo Lý Sơn 150 hải lý, cách đảo Tri Tôn thuộc Hoàng Sa 25 hải lý hướng đông đông nam, tức là vẫn nằm trong lãnh hải đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
    Trung Quốc cũng tăng cường lực lượng hải cảnh, hải giám và tàu sắt quanh vị trí mới, sau khi tuyên bố hoàn tất giai đoạn 1 đạt kết quả khả quan về khảo sát địa chất.  Trước đó hôm thứ hai, tàu cá Trung Quốc đã đâm chìm nghỉm một tàu cá của ngư dân Quảng Ngãi, gây thiệt hại tới 5-6 tỉ đồng.
    Liệu có phải Trung Quốc muốn lui dần giàn khoan ra ngoài lãnh hải Việt Nam chăng?
    Chắc chắn là không. Trước hết, Trung Quốc chẳng tìm dầu khí gì ở lô 143 của Việt Nam, là nơi mà Việt Nam chưa muốn thăm dò vì không có triển vọng có trữ lượng dầu khí đáng lưu ý, thậm chí không có gì đáng thăm dò. Trung Quốc chỉ hành động để cắm sào giành chủ quyền lãnh hải khu vực đó và khởi sự cho những hoạt động giành chiếm lãnh hải xa hơn về hướng tây và hướng Nam. Bắc Kinh bày ra chuyện di dời để tuyên bố đã khoan thăm dò và nghiên cứu, chứng tỏ đã có hoạt động, nhằm tạo đủ điều kiện xác định chủ quyền. Thế nhưng chưa di dời giàn khoan thì đã cho tàu sắt đâm chìm tàu ngư dân Việt Nam, lần đầu tiên ở khu vực tranh chấp nóng bỏng này, chứng tỏ Trung Quốc muốn khẳng định nơi rời đi cũng như nơi dời đến tới đều thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Vị trí thứ nhì của giàn khoan HD-981 nhích về hướng đông, xa khỏi đảo Lý Sơn một chút, nhưng vẫn nằm trọn trong lãnh hải thuộc chủ quyền Việt Nam, theo Công ước quốc tế mà chính Trung Quốc cũng ký kết.

    Có tiếng nói mạnh mẽ

    Về đối sách của Việt Nam, hôm thứ tư 21 tháng 5 trong văn bản trả lời phỏng vấn của các hãng thông tấn Reuters và AP, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố Việt Nam không đánh đổi độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ lấy một thứ hòa bình viễn vông, lệ thuộc nào, dù rằng luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị. Ông nói thêm Việt Nam đang cân nhắc nhiều phương án tự vệ, kể cả phương án đấu tranh pháp lý dựa theo luật pháp quốc tế.
    Đó là lời tuyên bố mạnh mẽ nhất từ trước đến nay của một trong những cấp lãnh đạo cao nhất của Việt Nam, một Uỷ viên có thế lực trong Bộ chính trị, về vấn đề bảo vệ chủ quyền. Trong khi nói đến nhiều phương án tự vệ thì Thủ tướng Việt Nam cũng lưu lại Philippines lâu hơn thường lệ, để bàn thảo với Philippines về những vấn đề mà hai nước cùng quan tâm, hiển nhiên nghị trình phải có vấn đề chủ quyền lãnh hải đang bị Bắc Kinh xâm lấn. Như vậy Thủ tướng Việt Nam hẳn phải bàn với giới lãnh đạo Philippines vấn đề đem Trung Quốc ra trước một tòa án quốc tế, là việc Manila đang làm.
    Tuy nhiên người ta phải chờ xem Việt Nam có thực sự tiến hành vụ kiện hay không, và tiến hành như thế nào. Thủ tướng Dũng từng đưa ra những chính sách nội trị mang tính cách cải tổ và tiến bộ. Trong thông điệp đầu năm ông từng nói “dân chủ và pháp quyền là hai thành quả song sinh của nền chính trị hiện đại” nhưng thực tế cho thấy chính phủ chẳng hề cho người dân được tự do gì thêm trong những quyền được hiến pháp ấn định, và viên chức Nhà nước cùng công an vẫn cứ làm những việc trái pháp luật mà không bị kỷ luật gì.

    Tương quan giữa “nói” với “làm”

    Thủ tướng Dũng cũng từng có những quyết sách táo bạo về kinh tế, như gom quyền chủ đạo các tập đoàn sản xuất và tổng công ty quốc doanh, hệ thống ngân hàng Nhà nước vào tay Thủ tướng, nhưng ông đã thực hiện một cách thất bại. Nhắc đến điều này để nói về việc ông Dũng thường có những quyết định táo bạo và chính sách cấp tiến nhưng lúc thi hành thường chẳng mấy thành công .
    Tuy nhiên, xét kỹ, người ta thấy ông Dũng không thành công ở các chính sách kinh tế tài chính là vì chính sách không đúng, lại không chịu nghe ý kiến của các chuyên gia, cố vấn thông thạo về kinh tế thị trường, mà còn muốn họ im tiếng. Thêm vào đó, không thành công cùng còn vì lý do một vị Thủ tướng của chính phủ phải chịu trách nhiệm thực hiện chính sách của đảng cầm quyền. Đó là chính sách bảo thủ, giữ chặt lấy nền kinh tế gọi là theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Vì thế, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có thể bị quy trách về việc thực hiện không thánh công một chính sách kinh tế, nhưng chính Bộ chính trị mới phải chịu trách nhiệm về chính sách sai lầm.
    Dù vậy, làm kinh tế thất bại không có nghĩa là không thể thành công trong những chính sách khác về ngoại giao, quốc phòng chẳng hạn. Trong lãnh vực ngoại giao và quốc phòng dường như giới lãnh đạo Việt Nam dễ đồng thuận với nhau hơn là trong lãnh vực kinh tế, tài chính, tuy rằng mọi chính sách đều do quyết định tập thể của bộ chính trị.

    Áp lực quân sự?

    Thủ tướng Dũng tuyên bố là Việt Nam cân nhắc nhiều phương án tự vệ. Thì qua ngày 23 tháng 5 báo mạng Arirang News của Hàn quốc trích tin của báo Đài Loan China Times cho biết 300 ngàn quân Trung Quốc đang được điều động về hướng biên giới Việt Nam. Báo China Times còn nói tỉnh Quảng Đông đang chuẩn bị cho nguy cơ khả dĩ xung đột quân sự với Việt Nam, trong khi Việt Nam cũng tăng cường lực lượng ở vùng biên giới phía bắc. Tuy nhiên báo này cũng nói ngay là cả Trung Quốc lẫn Việt Nam đều chưa xác nhận những hoạt động này. Trên internet xuất hiện nhiều hình ảnh nói là của “dân mạng” ghi nhận hình ảnh chuyển quân đông đảo của quân đội Trung Quốc. Sự kiện này có thể được nhận định ra sao?


    Trước hết chưa có nhiều nguồn tin độc lập với nhau loan tải việc này để có thể đối chiếu và tìm sự xác thực của tin. Có ý kiến cho đây là cuộc thao dượt bình thường của quân đội Trung Quốc. Tuy nhiên nếu giả định là việc chuyển quân đang xảy ra, có thể nói hành động này không khác gì so với việc Nga cho tập trận quy mô ở biên giới phía đông Ukraine lúc diễn ra vụ Crimea đòi độc lập rồi đến cuộc biến động miền Đông. Tuy nhiên chiến sự sẽ không xảy ra ở vùng biên giới phía bắc cũng như ở biển Đông.


    Diễn đàn này từng khẳng định Trung Quốc không cần đến biện pháp quân sự để giành chiếm biển Đông, mà vẫn xâm lấn thành công, trong khi Việt Nam cũng không muốn chiến tranh. Chúng ta cũng đã dự đoán Trung Quốc sắp sửa bố trí “vài lộ quân” ở vùng biên giới để gây áp lực tinh thần về mặt quân sự. Thì đây chính là lúc Trung Quốc đang làm việc đó.
    Tin điều động quân đội Trung Quốc đến cùng lúc với tin Ngoại trưởng Mỹ mời người tương nhiệm của Việt Nam sang Washington để tham khảo toàn diện những đề tài song phương và khu vực. Nên nếu đúng là Trung Quốc đang điều binh thì đó là hành động để gây áp lực quân sự với Việt Nam.
    http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/just-expansionism-05292014223144.html



    Phạm Chí Dũng : Trung Quốc có tấn công Việt Nam vào thời điểm này ?

    Quân đội Trung Quốc không ngừng được hiện đại hóa, với ngân sách quốc phòng sẽ tăng mỗi năm gần 20%.
    Quân đội Trung Quốc không ngừng được hiện đại hóa, với ngân sách quốc phòng sẽ tăng mỗi năm gần 20%.
    Reuters

    Thụy My
    Đã gần một tháng, giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981 của Trung Quốc vẫn ngang nhiên hiện diện tại vùng biển Hoàng Sa thuộc vùng thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Hàng trăm tàu quân sự trong đó có những tàu hộ vệ tên lửa và tàu cá giả dạng của Bắc Kinh, cùng với máy bay trinh sát hàng ngày hung hãn tấn công, đe dọa các tàu Việt Nam. Trong lúc Biển Đông dậy sóng, những hình ảnh trên mạng cũng hé lộ việc Trung Quốc rầm rộ chuyển quân về phía biên giới Việt-Trung.

    Các động thái này khiến mọi người không thể không đặt ra câu hỏi : Liệu chế độ Bắc Kinh sẽ lại tấn công quân sự vào Việt Nam như đã tiến hành vào năm 1979 ?
    RFI Việt ngữ đã đặt vấn đề này với nhà bình luận Phạm Chí Dũng, cựu sĩ quan quân đội ở Thành phố Hồ Chí Minh.
    RFI : Thân chào nhà bình luận Phạm Chí Dũng. Vụ giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981 đã làm nổi sóng dư luận, với một câu hỏi thẳng thừng, mà về phương diện quân sự là thứ bậc cao nhất trong phòng vệ quốc gia: Liệu Trung Quốc có tấn công quân sự Việt Nam vào thời điểm này? Nhận định của anh ra sao?

    TS Phạm Chí Dũng - TP Hồ Chí Minh
    by Thụy My
    Nhà bình luận Phạm Chí Dũng : Tất nhiên chiến dịch hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981 của Trung Quốc trên vùng lãnh hải của Việt Nam không còn mang tính chất như những vụ khiêu khích và gây hấn thông thường như trước đây. Tính chất lần này nghiêm trọng hơn nhiều và cho thấy rõ ràng đây là một bước đi có tính toán của Bắc Kinh, nằm trong một giai đoạn ngắn hạn nhằm phục vụ cho một chiến dịch trung hạn lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam.

    Do đó, không phải vô cớ mà những quốc gia gần gũi về lãnh hải với Việt Nam ở khu vực Biển Đông như Nhật Bản, Philippines và cả Hạm đội 7 của Hoa Kỳ vốn chỉ liên quan gián tiếp, đã phải bắn tín hiệu thực sự lo ngại về động thái mở rộng bành trướng của Trung Quốc. Rồi hẳn nhiên một lần nữa - nhưng lần này nghiêm túc hơn nhiều, cả dư luận lẫn giới quan sát Việt Nam và quốc tế đều muốn tìm lời giải cho việc Trung Quốc có thể tấn công Việt Nam vào thời gian này hay không.
    Trước hết, chúng ta hãy xem xét những bất lợi đối với chính thể Trung Quốc nếu họ tiến hành một cuộc tấn công quân sự vào Việt Nam. Theo tôi, có ít nhất một số bất lợi rất đáng kể có thể xảy ra đối với Trung Quốc.


    Từ sau cuộc chiến tranh lạnh Mỹ - Liên Xô, thế giới đã tiến vào kỷ nguyên hội nhập và thỏa hiệp với nhau về nhiều mặt, trong đó nổi trội là phương diện buôn bán thương mại song phương và đa phương. Tương quan như thế khiến không một quốc gia có ảnh hưởng nào dám chịu thiệt lớn chỉ đổi lấy cái lợi nhỏ. Một trong số ít những cuộc chiến tranh chấp hải đảo gần đây nhất xảy ra vào năm 1982 giữa người Anh và Achentina ở quần đảo Malvinas, nhưng cũng kết thúc chỉ sau vài tháng. Một chi tiết đáng chú ý là Anh luôn được xem là một trong những nước lớn ở châu Âu và nằm trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Rõ ràng Luân Đôn đã không dám phiêu lưu quân sự.


    Còn ở châu Á, Trung Quốc cũng được coi là nước lớn, dù chưa được xếp vào loại siêu cường như Mỹ và Nga. Nhưng Trung Quốc cũng có chân trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, và đó là lý do để có thể cho rằng bất kỳ hành động gây hấn hoặc xâm lược nào từ phía Bắc Kinh cũng làm ảnh hưởng đến đại cục địa - chính trị trên thế giới mà các siêu cường khác không thể bỏ qua. Những vụ Trung Quốc gây hấn với Nhật Bản về quần đảo Senkaku/Điếu Ngư hay với Philippines về một số đảo nhỏ đã lập tức gặp phải phản ứng mạnh mẽ của không chỉ các quốc gia này mà với cả cộng đồng quốc tế.
    Trừ Nhật có lực lượng phòng vệ bờ biển đủ mạnh, Philippines đã phải tính đến việc tìm kiếm một quan hệ tương trợ quốc phòng với người Mỹ để chống lại ý đồ xâm lăng từ Bắc Kinh. Vào tháng 5/2014, họ đã đạt được kết quả khả quan khi thiết lập được hiệp ước tương trợ quốc phòng với Washington, do vậy sẽ hợp thức hóa sự có mặt của Hạm đội 7 của Hoa Kỳ ở vùng lãnh hải Philippines bất cứ khi nào Trung Quốc gây hấn.


    Hậu quả mà Bắc Kinh không tính kỹ trước khi hành động xâm chiếm biển đảo chính là chỗ này. Tức là họ đã khiến một số nước nhỏ trong khu vực đang nổi lên khuynh hướng liên kết với nhau theo cách Phong trào không liên kết vào nửa cuối thế kỷ 20 và tìm đến sự trợ giúp của người Mỹ để hạn chế rủi ro. Xu thế này cũng đang diễn ra với Việt Nam.
    Ngay sau vụ việc giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981, chúng ta có thể thấy là giới lãnh đạo Việt Nam, cho dù một số trong đó vẫn thề thốt “mười sáu chữ vàng” với Trung Quốc, nhưng đã không còn dám xem thường hiểm họa ngoại xâm trước mắt và tương lai mất nước không còn quá xa. Và bất chấp tiếng nói hết sức yếu ớt của 3/4 bộ tứ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cùng ê-kíp của ông đã tìm đến mối liên minh không chính thức đầu tiên với Philippines và sau đó có thể là một mối quan hệ quân sự ở mức độ nào đó với Hoa Kỳ.

    Trung Quốc chưa dám tấn công vào thời điểm này
    RFI : Theo anh, hoạt động gây hấn của Trung Quốc gây ảnh hưởng thế nào đến chính sách Biển Đông của Hoa Kỳ ngay vào thời điểm này?
    Nếu không can thiệp mà để cho Trung Quốc tự tung tự tác, Mỹ sẽ gặp bất lợi lớn về tự do hàng hải, an toàn hàng hải ở Biển Đông và do đó có thể sẽ bị phá sản phần lớn chính sách xoay trục sang châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ. Ai cũng biết rằng Biển Đông có vị trí như một cửa ngõ cho giao thương hàng hải và nếu cần có thể khống chế hoạt động quân sự của cả khu vực phía Nam và các nước xung quanh. Hiện nay cuộc đua lớn nhất giữa Trung Quốc và Mỹ chính là điểm xung yếu này. Do vậy nếu bị Trung Quốc qua mặt ở Biển Đông, mục tiêu an toàn hàng hải của Mỹ sẽ bị đe dọa nghiêm trọng, vai trò của Hạm đội 7 cũng có không ý nghĩa đủ lớn, làm cho chính sách của Mỹ về bảo vệ an ninh thế giới và cũng là an ninh của công dân Mỹ sẽ lạc điệu.


    Lời bắn tiếng về mối liên kết “đối tác chiến lược” với Việt Nam của Tư lệnh quân đội Mỹ ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương Locklear là một minh chứng khá hoàn hảo về việc người Mỹ hoàn toàn không bỏ qua ý đồ phong tỏa Biển Đông của Trung Quốc. Mới đây lần đầu tiên từ khi nhậm chức Tổng thống Mỹ, ông Barack Obama đã phải tuyên bố “sẽ điều binh đến Biển Đông” nếu tình hình nơi đây có thể xung đột quân sự.

    Chúng ta đang nhận ra rằng người Mỹ không quá câu nệ vào quan hệ làm ăn với Trung quốc, bất chấp quốc gia đông dân nhất thế giới này là đối tác thương mại lớn nhất của Mỹ với giá trị buôn bán hàng năm lên đến 600 tỉ USD. Thậm chí ngược lại, nền kinh tế Trung Quốc đang phải đối mặt với nhiều khó khăn về tín dụng, nợ xấu, ngân hàng, làn sóng thoái vốn của giới đầu tư nước ngoài, thị trường xuất khẩu, do vậy Trung Quốc phải cần đến các đối tác thương mại như Mỹ và Tây Âu hơn là phương Tây cần đến họ.


    Kẻ nào quá tham lam sẽ bị cộng đồng tẩy chay. Cũng như hình ảnh suy yếu của nước Anh vào năm 1982 trong cuộc tranh chấp quần đảo Malvinas với Achentina, những năm gần đây Trung Quốc đã trở thành một trong những quốc gia bị oán ghét nhất trên hành tinh này. Nếu mạo hiểm gây ra một cuộc chiến tranh dù chỉ quy mô nhỏ trong khu vực, Trung Quốc sẽ bị đại đa số quốc gia trong Liên Hiệp Quốc quay lưng và sẽ bị cô lập. Đó chính là điều mà chủ nghĩa Đại Hán phải tính đến một cách rất nghiêm cẩn, cho dù tham vọng bành trướng của họ lớn đến mức nào.

    RFI : Trong lịch sử, người Việt Nam luôn sẵn sàng chống lại đến cùng tham vọng xâm lược của Trung Quốc, kể cả sau một ngàn năm Bắc thuộc. Anh có cho rằng lịch sử sẽ lặp lại nếu chiến tranh Trung - Việt nổ ra vào thời gian tới?
    Có những dấu hiệu rất cần chú ý và lượng giá. Nếu Trung Quốc đã rất tự tin kéo giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981 vào vùng biển Việt Nam thì từ sau khu xảy ra vụ bạo động ở Bình Dương, Đồng Nai và cuộc xung đột dẫn đến chết người ở Hà Tĩnh, các cơ quan tuyên giáo và báo đảng ở Trung Quốc, kể cả Hoàn Cầu Thời Báo là tờ báo hung hăng nhất, đã có vẻ lắng tiếng khá đột ngột. Giả thiết nêu ra là Bắc Kinh đã không tính đúng và đủ về phản ứng của người dân Việt Nam đối với bước đầu xâm lăng của họ, cho dù có thể họ đã lường trước và còn có thể “điều khiển” được phản ứng của giới lãnh đạo cầm quyền Việt Nam.

    Trong lịch sử Việt Nam, chưa bao giờ chủ nghĩa Đại Hán nô dịch được đất nước này như một chư hầu trọn vẹn. Sau hàng loạt triều đại lịch sử kháng Trung thành công như từ thời Hai Bà Trưng, Đinh, Lê, Lý và Hậu Lê, những cuộc xâm lược gần nhất của Trung Quốc chỉ là sự tồn tại rất ngắn ngủi của đội quân hai chục vạn của triều đình nhà Thanh ở Thăng Long vào cuối thế kỷ 18. Hoặc là sự tồn tại ngắn ngủi không kém của đội quân cũng hai chục vạn người của Tưởng Giới Thạch ở miền Bắc Việt Nam vào năm 1945. Và ngắn ngủi nhất là lực lượng lên đến sáu chục vạn người của Trung Quốc nhưng bị thiệt hại đến 10% quân số trong cuộc tấn công biên giới phía Bắc Việt Nam vào năm 1979.
    Lịch sử và ưu thế kháng chiến đã nghiêng về Việt Nam, đó là điều hiển hiện. Biện chứng lịch sử cũng cho thấy các chế độ chính trị Trung Hoa luôn sai lầm khi đánh giá thấp tinh thần phản kháng của người dân và quân đội Việt Nam, đặc biệt vào những bối cảnh mà họ cho là triều chính Việt Nam đang phân hóa và rối loạn như hiện thời.

    Nhưng cũng chính yếu tố rối loạn nội bộ mà Trung Quốc tưởng như một ưu thế để có thể gây áp lực với Hà Nội lại khiến nảy sinh xu hướng công khai hóa quan điểm ngả sang phương Tây của một nhóm không nhỏ các chính khách Việt Nam. Tôi cho đây chính là một bất lợi lớn đối với Trung Quốc khi phần lớn, nếu không nói là tất cả giới lãnh đạo Việt Nam đã như tỉnh ra, ngộ ra bản chất thật của mối quan hệ “Bốn Tốt” với Trung Quốc là như thế nào. Cùng lúc, bất cứ quan chức Việt Nam nào cũng phải tính đến tương lai cho cá nhân họ nếu chủ hàng trước Trung Quốc. Tương lai ấy cùng lắm cũng chỉ là “ngựa xe vài cỗ, quân hầu lơ thơ” nếu Việt Nam bị biến thành chư hầu của người bạn phương Bắc đầy dã tâm.
    Một bất lợi khác là nếu Trung Quốc tấn công Việt Nam vào thời điểm này sẽ khiến cho một bộ phận quan chức “thân Trung” bị lộ diện và sẽ bị cô lập. Truyền thống người Việt xưa nay không thể chấp nhận những Trần Ích Tắc hay Lê Chiêu Thống, và nếu những nhân vật tái thế thời hiện đại này bị cô lập quá sớm, Trung Quốc sẽ không còn nhiều cơ hội để thực hiện chiến thuật mua chuộc, không chế lãnh đạo để sau đó bắt toàn bộ giới lãnh đạo Việt Nam phải phụ thuộc vào ý chí của Bắc Kinh.


    RFI : Thế còn bất lợi về hiệu quả kinh tế nếu Trung Quốc xâm lược Việt Nam?
    Đây là câu hỏi khó trả lời nhất đối với Trung Quốc. Câu hỏi này cũng dẫn đến một câu hỏi tiếp nối là Trung Quốc tấn công Việt Nam sẽ được lợi gì, nếu thiệt hại về kinh tế của họ là khó có thể bù đắp được?
    Trong lịch sử buôn bán hai chiều với các quốc gia trên thế giới, Việt Nam bị phụ thuộc vào Trung Quốc nhiều nhất. Ít nhất 35% nguyên liệu dùng cho sản xuất của Việt Nam phải nhập khẩu từ Trung Quốc, và cơ cấu này đang gây khó rất lớn cho việc Việt Nam tham gia vào TPP, ứng với một điều kiện không thể thay đổi của TPP là Việt Nam phải chuyển đổi vùng nguyên liệu nhập khẩu từ các nước ngoài TPP như Trung Quốc về các nước trong khối TPP.
    Chỉ từ sau năm 2000 đến nay, giá trị nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc đã tăng chẵn 100 lần, và hiện thời Việt Nam đang phải nhập siêu từ 23-24 tỉ USD hàng năm từ Trung Quốc. Đó là một sự mất cân xứng quá lớn và làm lợi rất nhiều cho Trung Quốc. Cũng cho đến nay, Trung Quốc có gần 940 dự án đầu tư vào Việt Nam với tổng vốn đầu tư gần 5 tỉ USD…

    Những giá trị thương mại và đầu tư từ Trung Quốc vào Việt Nam cho thấy họ có khá nhiều việc phải lo lắng nếu chiến tranh nổ ra. Khi đó, cơ chế nhập khẩu chính thức qua cửa khẩu Việt Nam sẽ đương nhiên chấm dứt, rất nhiều doanh nghiệp Trung Quốc sẽ khó lòng tồn tại được.
    Cũng rất có thể sẽ xảy ra một làn sóng tẩy chay hàng hóa Trung Quốc và càng làm khó cho sự tồn vong của giới đầu tư Trung Quốc tại Việt Nam. Minh chứng mà chúng ta có thể thấy là sau vụ giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981, ở nhiều vùng và từ một doanh nghiệp lớn đến một bà bán tạp hóa ở chợ, tâm lý ngán ngại nhập hàng Trung Quốc là khá phổ biến. Mặc dù cho tới nay chưa có một chiến dịch nào về tẩy chay hàng Trung Quốc được công bố chính thức, nhưng rõ ràng một số mặt hàng Trung Quốc vẫn bị coi là ẩn chứa rủi ro độc tố như thực phẩm, nhựa… đã bị giảm đáng kể sức tiêu thụ.
    Với không ít bất lợi như vậy, tôi cho rằng Trung Quốc sẽ chưa dám mạo hiểm tấn công Việt Nam ngay vào thời điểm này.


    RFI : Nhưng hiện thời vẫn đang có thông tin có thể xảy ra chiến tranh, chẳng hạn như một tờ báo Hàn Quốc đưa tin về việc có đến 300.000 quân Trung Quốc đã áp sát biên giới Việt - Trung?
    Tôi cho rằng tin tức đó chỉ đơn giản là chiến tranh tâm lý, do chính Trung Quốc tung ra trên mạng Internet và cho vài tờ báo nước ngoài. Thậm chí còn có tin đồn về lực lượng quân đội Trung Quốc dùng để tấn công Việt Nam lên đến hơn 500.000 người, hoạch định sẽ công chiếm Việt Nam trong đúng một tháng, và chiến tranh có thể diễn ra ngay vào mùa hè này, thậm chí vào tháng Sáu năm 2014…
    Bao giờ cũng vậy, trước hoặc sau mỗi hành động gây hấn, Bắc Kinh đều sử dụng tối đa loa phóng thanh một chiều nhằm mục đích gây nhiễu. Một chuyện khá khôi hài khác là giữa hai nhà nước Trung Quốc và Việt Nam đang diễn ra một trận khẩu chiến mà dân Hà Nội gọi Bắc kinh là “Chí Phèo”, còn Trung Quốc lại coi Việt Nam là nhân vật “AQ” trong tiểu thuyết của nhà văn Lỗ Tấn…


    Thực ra tôi không để ý đến hoạt động này nhiều. Vì điều đơn giản mà chúng ta có thể rút ra là nếu Trung Quốc thực sự có kế hoạch gây xung đột quân sự hoặc tấn công tổng lực Việt Nam, để giữ yếu tố bất ngờ trong khai chiến, họ đã không cần phải khẩu chiến theo kiểu cù nhầy, hoặc tung thông tin giả quá hung hãn để tạo tin đồn và gây xáo trộn đời sống chính trị ở Việt Nam. Một dẫn chứng khác cũng dễ thấy là nếu Trung Quốc có ý đồ tấn công quân sự, họ đã không phải dùng lại các tiểu xảo và chơi xấu, như dùng “tàu lạ” - từ mà một số báo nhà nước ở Việt Nam cho đến giờ này vẫn chưa thể chui ra khỏi chăn - để đâm húc tàu cá Việt mà đã gây ra hai cái chết cho ngư dân ở Quảng Ninh vừa qua.
    Theo tôi, sẽ chẳng có một hành động mạo muội xứng đáng nào từ phía Trung Quốc ngay vào thời điểm này. Kể cả hiện tượng họ rút công nhân Trung Quốc đang làm việc ở Hà Tĩnh về nước hay sơ tán chuyên gia cũng chỉ là động tác tâm lý nhằm gây áp lực với Bộ Chính trị Việt Nam mà thôi.

    Khi nào Trung Quốc có thể tấn công Việt Nam?
    RFI : Nếu Vậy theo anh, Trung Quốc sẽ thực sự tấn công Việt Nam trong những điều kiện gì và vào lúc nào?
    Trung Quốc chỉ tấn công Việt Nam nếu hội tụ các điều kiện: kinh tế khủng hoảng, xã hội rối loạn, nội bộ chính trị phân hóa đủ sâu và có thể tan vỡ, sức chiến đấu của quân đội giảm sút mạnh. Và cũng phải thêm một điều kiện không thể thiếu: giới kinh tài Trung Quốc đủ sức chi phối và lũng đoạn phần lớn một số ngành quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam.

    Hiện thời, nền kinh tế Việt Nam đang dợm bước chân vào khủng hoảng và tất cả chỉ còn chờ thời gian. Bất ổn xã hội cũng đang mau chóng chuyển thành rối loạn xã hội và có thể dẫn đến khủng hoảng xã hội. Nếu đến năm 2016-2017, kinh tế Việt Nam thật sự rơi vào khủng hoảng thì tất yếu xã hội sẽ khủng hoảng theo. Khủng hoảng xã hội cộng hưởng với khủng hoảng kinh tế hầu như chắc chắn sẽ dẫn đến khủng hoảng chính trị. Đó là điều kiện cần và cũng là điều kiện đủ của một dân tộc trong vận khí suy vong.
    Trong trường hợp đó, tôi không hy vọng là quân đội Việt Nam còn duy trì được khả năng sẵn sàng chiến đấu như những năm trước. Và đó sẽ là cơ hội vàng để nếu muốn và không quá bị chi phối bởi sự cô lập của quốc tế, Trung Quốc có thể nuốt gọn Việt Nam trong một kế hoạch quân sự với tỉ lệ ba chọi một.


    RFI : Tại sao anh lại cho rằng Trung Quốc cần huy động quân đội ba chọi một, anh có thể giải thích cụ thể thêm được không ?
    Xuất phát từ chiến thuật biển người truyền thống của họ.
    Trong chiến dịch xâm lược biên giới năm 1979, toàn bộ lực lượng kể cả hậu cần và dự bị của Trung Quốc là 600.000 quân. Trong khi đó, Việt Nam chỉ chủ yếu đối phó bằng lực lượng quân sự địa phương và một bộ phận lực lượng bộ đội chính quy. Có những trận đánh ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Hoàng Liên Sơn, thông báo quân sự hồi đó cho biết tỉ lệ đối kháng giữa quân Trung Quốc và bộ đội Việt Nam lên đến 5/1 và 10/1. Tuy thế, cuộc chiến vẫn kết thúc với thất bại của người Trung Quốc, chiến dịch xâm lược đó đã chấm dứt với 60.000 thi hài của lính Trung Quốc.


    Còn bây giờ, có những thông tin nghiên cứu cho biết tuy xét về số lượng, Việt Nam là quốc gia có lực lượng quân đội hùng hậu nhất khu vực Đông Nam Á với khoảng nửa triệu bộ đội chính quy và khoảng 5 triệu quân dự bị, nhưng quân đội Trung Quốc lại duy trì số lượng đông thuộc loại nhất trên thế giới, cùng chi phí quân sự đứng thứ hai chỉ sau Mỹ.
    Đó là ưu thế để một khi phát động chiến tranh, Trung Quốc sẽ dễ dàng huy động ít nhất nửa triệu quân từ các tập đoàn quân ở Vân Nam và Quảng Tây, chưa kể hạm đội Nam Hải. Thậm chí tôi cho rằng với chiến thuật biển người được duy trì từ cuộc chiến tranh Triều Tiên những năm 1950, Trung Quốc có thể huy động một lực lượng tăng thiết giáp gấp nhiều lần Việt Nam. Ngay cả với xe tăng họ T của Liên Xô cũ, Trung Quốc cũng có nhiều tăng T72 trở lên, trong khi Việt Nam vẫn chủ yếu là tăng T54, T55.


    RFI : Một số chuyên gia đánh giá rằng ưu thế quân sự của Trung Quốc có thể tỏ rõ trên mặt biển, nhưng còn trên đất liền thì sao?
    Đúng là Trung Quốc chỉ còn thiếu tàu sân bay. Còn về quân chủng hải quân, họ có đủ các loại tàu, kể cả tàu ngầm lớp kilo. Họ vẫn tự hào và khoe khoang là chỉ riêng hạm đội Nam Hải của họ đã có thể làm chủ cả mặt biển Đông.
    Trong khi đó, địa hình duyên hải Việt Nam có lợi thế kinh tế và du lịch là trải dài, nhưng trong chiến tranh điều đó lại thường là nhược điểm vì có thể bị đối phương từ biển đánh úp bất cứ điểm bố phòng mỏng manh hoặc sơ hở nào.

    Tuy nhiên, đánh trên bộ thì lại khác hẳn. Dù được trang bị vũ khí và khí tài quân sự tối tân và có vẻ được đánh bóng về khả năng thiện chiến, nhưng quân đội Trung Quốc luôn đi sau Việt Nam khoảng một phần tư thế kỷ về trải nghiệm và kinh nghiệm trận mạc. Đã sáu chục năm qua quân đội Trung Quốc không thực sự chiến đấu, trong khi bộ đội Việt Nam chỉ mới kết thúc chiến tranh tại chiến trường Campuchia từ cuối thập kỷ 80. Sự so le thời gian như thế cho thấy phản xạ tác chiến của bộ đội Việt Nam vẫn cao hơn binh lính Trung Quốc.

    Thêm vào đó, nếu tấn công quân sự theo hướng xẻ dọc qua các vùng biên giới phía Bắc về Hà Nội, quân đội Trung Quốc sẽ vấp phải địa hình rừng núi hiểm trở mà lực lượng tăng thiết giáp của họ khó lòng phát huy được hiệu quả tác chiến chiến thuật. Đến lúc đó, có thể Trung Quốc mới được nếm trải chiến thuật chiến tranh du kích của người Việt Nam lợi hại như thế nào.
    Trong hầu hết các cuộc kháng Trung trong lịch sử, người Việt đã không bao giờ bỏ trống hậu phương địch quân, đặc biệt tại những vùng sơn cước. Theo tôi, trong trường hợp Trung Quốc tác chiến trên bộ dù với tỉ lệ ba chọi một, xác suất chiến thắng của họ vẫn chỉ là năm ăn năm thua. Họ cần phải chú ý là bộ đội đặc công của Việt Nam rất thiện chiến.
    Nhưng đó chỉ mới là về sức kháng cự của quân đội Việt Nam. Còn nếu nhà nước Việt Nam đủ hồi tâm để biết cách huy động sức dân thì một cuộc chiến tranh nhân dân sẽ được hình thành, và đó là điều đáng sợ nhất đối với bất cứ một cường quốc xâm lược nào.

    RFI : Nếu một cuộc chiến tranh tổng lực chưa được Trung Quốc phát động vào thời điểm này, họ có thể làm những gì tiếp theo vụ giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981?
    Họ sẽ trở lại bài bản của những cuộc gây hấn và khiêu khích từ ít nhất năm 2011 đến nay. Nghĩa là tạo mọi khó khăn đối với ngư dân Việt Nam, dùng tàu cá hoặc tàu hải giám chủ động va chạm hoặc đâm chìm và có thể dẫn tới tử vong cho ngư dân Việt. Trên bộ, họ có thể tiếp nối chuỗi khiêu khích bằng những cuộc xung đột vũ trang quy mô nhỏ và có thể dẫn đến sát thương bộ đội Việt Nam. Tình hình quấy rối như thế cũng có thể tương tự những gì mà lực lượng Khmer Đỏ gây ra ở biên giới Tây Nam đối với thường dân Việt Nam vào năm 1978.
    Theo tôi, ý đồ của Trung Quốc là chờ đến năm 2016-2017, khi tình hình Việt Nam xấu hẳn, họ sẽ tấn công theo kịch bản Nga - Crimée. Cần lưu ý là khác hẳn Việt Nam, thế mạnh hiện thời của Trung Quốc là quyền lực tập trung vào một cá nhân là Tập Cận Bình, và Trung Quốc vừa thiết lập quan hệ tay đôi với Nga.

    Tuy nhiên, không phải Trung Quốc luôn rảnh tay để hành động. Bản thân Trung Quốc cũng gặp nhiều rắc rối: kinh tế có xu hướng suy thoái, phản kháng xã hội dâng cao, các khu vực tự trị Tây Tạng, Tân Cương và Nội Mông gia tăng bất ổn. Tình hình đó gần như tương tự với không khí xã hội Trung Hoa vào lúc triều đình Mãn Thanh xua hai chục vạn quân do Tôn Sĩ Nghị làm chủ tướng tràn vào Thăng Long trước một Lê Chiêu Thống đi bằng đầu gối.
    Do vậy, họa xâm lăng Trung Quốc vẫn có một hy vọng được giải tỏa phần nào bởi chính nguy cơ tan rã từ bên trong của nền kinh tế và do đó của chế độ độc đảng Bắc Kinh thiên về đàn áp như hiện nay. Nếu nguy cơ này được xác nhận thì Trung Quốc dù có gây chiến tranh với Việt Nam cũng nằm trong tình trạng bị suy yếu đáng kể chứ không thể gọi là mạnh mẽ.
    Vấn đề còn lại là giới lãnh đạo chủ chốt ở Việt Nam có làm được gì để hạn chế hiểm họa từ Trung Quốc trong vài năm tới.
    Nguyễn Tấn Dũng là nhân tố duy nhất?
    RFI : Để đối phó với họa ngoại xâm ngày càng hiển hiện, anh có hy vọng nào vào giới lãnh đạo Việt Nam hiện thời?
    Nếu không xét đến những gương mặt chính khách chưa xuất hiện, trong tất cả những gương mặt hiện nay và trong khoảng hai năm tới, tôi chỉ hy vọng vào một nhân tố duy nhất là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Nhưng hy vọng này cũng chỉ mới manh nha và còn rất chập choạng.
    Cơ sở để có thể có đôi chút hy vọng vào Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là bởi ông ta đang trong tình thế phải “cứu nhà, cứu nước”. Nước mất thì nhà tan. Nhưng muốn cứu nhà thì trước hết và dù muốn hay không cũng phải cứu nước.
    Sau vụ giàn khoan Hải Dương 981, có vẻ ông Nguyễn Tấn Dũng đã dứt khoát hơn trong chính sách chuyển hướng xoay trục sang phương Tây. Để đối chọi với Trung Quốc, trước mắt người Việt cần ít nhất sự hỗ trợ của Hạm đội 7 của Mỹ, sau đó là một bản hiệp ước tương trợ quốc phòng với Hoa Kỳ, như kết quả mà Philippines đã vừa đạt được. Và cuối cùng, tốt nhất Việt Nam trở thành một đồng minh quân sự với Hoa Kỳ như trường hợp Nhật Bản và Hàn Quốc.
    Tuy nhiên, cần chân thật mà nói rằng hy vọng duy nhất vào Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng rất có thể chỉ là một đốm lửa sớm nở tối tàn. Từ khi nhậm chức thủ tướng vào năm 2006 đến nay, ông Dũng đã đưa ra khá nhiều lời cam kết trước quốc dân đồng bào, nhưng thời gian sau những lời hứa đó lại chỉ là một khoảng trống thất vọng mênh mông.
    Còn bây giờ, khi nước đã đến chân và không thể không nhảy, người dân Việt đang chờ đợi những hành động cụ thể của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng như tiến hành thủ tục kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế, đưa ngay Luật Biểu tình vào đời sống để người dân có cơ hội phản kháng Trung Quốc, chứ không chỉ bằng vài câu tuyên bố có vẻ cảm tính và sẽ bị trôi ngay vào lãng quên nếu không làm gì cả.

    RFI
    : Xin rất cảm ơn nhà bình luận Phạm Chí Dũng đã dành thì giờ cho cuộc phỏng vấn hôm nay của RFI Việt ngữ. http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20140530-pham-chi-dung-trung-quoc-co-tan-cong-viet-nam-vao-thoi-diem-nay

    Nhật sẽ 'ủng hộ tối đa' cho Đông Nam Á

    Cập nhật: 15:02 GMT - thứ sáu, 30 tháng 5, 2014
    Phát biểu tại Đối thoại Shangri-La, Thủ tướng Shinzo Abe nói Tokyo sẽ “ủng hộ tối đa” cho các nước Đông Nam Á, trong đó có một số nước có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc.
    “Tất cả các nước cần tôn trọng luật pháp quốc tế. Nhật sẽ ủng hộ tối đa cho nỗ lực của các nước ASEAN trong việc đảm bảo an ninh vùng biển và bầu trời, và triệt để duy trì tự do hàng hải và tự do hàng không.
    "Nhật có kế hoạch đóng một vai trò lớn hơn và chủ động hơn so với thời điểm hiện nay để đảm bảo cho châu Á và thế giới được hòa bình hơn”, ông Abe nói tại diễn đàn an ninh cấp khu vực ở Singapore.
    Trong bài diễn văn quan trọng ông Abe nhấn mạnh về nhu cầu cần phải tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế.

    'Ba nguyên tắc'
     "Chúng tôi cũng ủng hộ Việt Nam trong
     nỗ lực giải quyết tranh chấp thông qua đối thoại"
    "Khi chúng ta nói về luật lệ trên biển thì điều đó có nghĩa gì. Nếu chúng ta lấy tinh thần cơ bản mà chúng ta đã đưa vào luật quốc tế qua năm tháng thì có thể thấy có ba nguyên tắc, và luật lệ trên biển là điều đơn giản và dễ hiểu.
    "Nguyên tắc thứ nhất các các nước tuyên bố và làm rõ chủ quyền dựa vào luật lệ quốc tế.
    "Nguyên tắc thứ hai là các nước không dùng vũ lực hay hăm dọa nhằm để khẳng định chủ quyền.
    "Và nguyên tắc thứ ba là các nước sẽ tìm cách giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình.
    "Tôi thúc giục tất cả các nước chúng ta tại châu Á và Thái Bình Dương, mỗi nước hãy tuân thủ triệt để ba nguyên tắc này.
    "Chẳng hạn như Indonesia và Philipppines, họ đã ký Hiệp định về phân định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và tôi hoan nghênh bước đi này, đây là một ví dụ tuyệt vời về việc tôn trọng luật lệ trên biển.
    "Chính phủ Nhật ủng hộ mạnh nỗ lực của Philippines kêu gọi cho một nghị quyết đối với tranh chấp tại Biển Đông sao cho tuân thủ ba nguyên tắc này.
    "Chúng tôi cũng ủng hộ Việt Nam trong nỗ lực giải quyết tranh chấp thông qua đối thoại.
    Nhà lãnh đạo Nhật Bản cũng đã kêu gọi ASEAN và Trung Quốc sớm đạt được bộ quy tắc ứng xử tại Biển Đông.
    'Đừng hăm dọa'

    Tàu Việt Nam và TQ tập trung tại khu vực TQ
     hạ đặt giàn khoan 981.
    "Các động thái nhằm củng cố việc thay đổi hiện trạng bằng cách tạo ra sự việc đã rồi cần bị lên án mạnh mẽ vì đó là điều đi ngược lại với tinh thần của các nguyên tắc trên.
    "Liệu quý vị có đồng ý rằng giờ là lúc phải cam kết chắc chắn với tinh thần và các điều khoản của Tuyên bố các Quy tắc ứng xử trên Biển Đông năm 2002 (DOC), mà toàn bộ các quốc gia có liên quan trên biển cùng đồng thuận tuân theo và không thực hiện các hành động đơn phương làm thay đổi thực trạng một cách lâu dài.
    "Thời điểm để cống hiến trí tuệ của chúng ta nhằm khôi phục hòa bình trên biển là lúc này.
    "Điều mà cả thế giới đang nóng lòng chờ đợi là biển và trời của chúng ta được quán xuyến bằng luật, luật lệ và qui trình giải quyết tranh chấp sẵn có.
    "Điều chúng ta ít mong đợi nhất là sợ rằng luật pháp bị thay thế bằng các mối đe dọa, sự hăm dọa chen chân vào luật lệ"
    Shinzo Abe, Thủ tướng Nhật Bản
    "Điều chúng ta ít mong đợi nhất là sợ rằng luật pháp bị thay thế bằng các mối đe dọa, sự hăm dọa chen chân vào luật lệ và rằng các tình huống bất ngờ sẽ xảy vào thời điểm và địa điểm bất định.
    "Tôi hy vọng mạnh mẽ rằng một bộ quy tắc ứng xử (COC) thật sự có hiệu quả có thể được thiết lập trên Biển Đông giữa ASEAN với Trung Quốc, và điều này có thể nhanh chóng đạt tới", ông Abe phát biểu.

    Jonathan Marcus, phóng viên ngoại giao BBC nhận định rằng ông Abe muốn tăng cường ủng hộ cho các nước đang có tranh chấp lãnh hải với Bắc Kinh.
    "Ông Abe lên án những ai muốn “thay đổi hiện trạng” bằng cách áp đặt và đây là một đòn nữa giáng vào Trung Quốc.

    "Ông Abe muốn thay đổi đồng thuận cho Nhật Bản thời hậu chiến nhằm tạo điều kiện để Tokyo có vai trò chủ động hơn trong phòng vệ tập thể. Không phải là ông Abe nói cái gì mà nói điều đó ở đâu.
    "Không có tổ chức an ninh tập thể nào như Nato tại châu Á và vì vậy diễn đàn được biết tới với tên gọi Đối thoại Shangri-La trở thành “sự kiện” an ninh thường niên chính trong vùng.
    "Đây là lần đầu tiên một nhà lãnh đạo của Nhật đọc diễn văn của diễn giả chính tại đây, một chỉ dấu rõ ràng rằng ông Abe muốn Nhật đóng vai trò sâu rộng hơn nữa trong cuộc tranh luận an ninh có qui mô", phóng viên Marcus nhận định.
     http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2014/05/140530_abe_speech_shangri_la.shtml


    Thứ sáu, 30/05/2014
    Xem

    Nhật mưu tìm ‘vai trò tích cực hơn’ trong nỗ lực hòa bình cấp vùng

    Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe
    Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe
    CỠ CHỮ
    Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe nói nước ông sẵn sàng đóng một vai trò tích cực hơn trong việc thúc đẩy hòa bình trong khu vực.

    Trong bài phát biểu tại Đối thoại Shangri-La cho các giới chức chuyên gia quốc phòng tại Singapore, ông Abe nhấn mạnh tất cả các nước phải tuân thủ luật pháp quốc tế:

    "Nhật Bản sẽ hết lòng hỗ trợ những nỗ lực của các nước ASEAN," ông Abe nói, đề cập đến Hiệp hội các nước Đông Nam Á , trong khi các nước thành viên "nỗ lực đảm bảo sự an toàn của các vùng biển và vùng trời, và giữ gìn toàn vẹn sự tự do lưu thông hàng hải và hàng không."

    Nhật Bản là một trong một số quốc gia trong khu vực hiện đang vướng vào tranh chấp lãnh hải căng thẳng với Trung Quốc.

    Trong bài phát biểu của mình tại Singapore, ông Abe kêu gọi tất cả các quốc gia tuân thủ pháp chế và không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa.

    Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel cũng tham dự cuộc họp tại Singapore, nơi ông gặp người đồng nhiệm Nhật Bản và Australia vào thứ Sáu. Các quan chức Mỹ nói rằng họ kêu gọi ASEAN và Trung Quốc đồng thuận về một bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông.

    Cuộc họp của ông Hagel với các bộ trưởng quốc phòng Australia và Nhật Bản bao gồm các cuộc đàm phán về Bắc Triều Tiên và chương trình hạt nhân gây tranh cãi của nước này. Bắc Triều Tiên dự kiến sẽ là chủ đề chính khi Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ gặp gỡ những người đồng nhiệm Nhật Bản và Hàn Quốc vào thứ Bảy.