Sunday, January 31, 2016

HOÀNG YÊN LƯU * TẢN ĐÀ

Tiểu thuyết của Tản Đà
Hoàng Yên Lưu

tan da



Trong lãnh vực văn xuôi, Tản Đà viết nghị luận, giáo dục, tuồng và tiểu thuyết… Ông là tác giả của nhiều tác phẩm văn xuôi như những bài báo có tính cách nghiên cứu hay nghị luận đăng trên An nam tạp chí (Mối cảm tuởng về thơ ca của nước ta, phong dao tục ngữ…), Phụ nữ thời đàm (Hài đàm về thơ mới) và Đông pháp thời báo (Sự nghiệp văn chương…)
Trong cuốn Tản Đà Tùng Văn xuất bản năm 1922, trong bài tựa Tản Đà viết: “Tản Đà thư điếm khai trương, chủ nhân xin có mỗi thứ văn một bài in báo rao hàng cho vui, nhân gọi là Tản Đà Tùng Văn.” Trong Tản Đà Tùng Văn có đủ loại văn như lời tựa đã nói, nào là nghị luận, hài hước, nào là tiểu thuyết. Nhưng ngày nay nhắc tới Tản Đà Tùng Văn người ta chỉ nhớ bài thơ Thề Non Nước.
Câu chuyện Thề non nước nếu gọi theo lối xưa là loại ký ghi lại một biến cố trong đời nhà văn (sự kiện trong tác phẩm có thể là hư cấu và cũng có thể là chân thực) như Nguyễn Huy Hổ viết Mai đình mộng ký hay Nguyễn Bá Trác viết Hạn mạn du ký. Còn xếp theo tiêu chuẩn hiện đại thì nó thuộc loại tiểu thuyết và là “truyện vừa”.
Tác phẩm kể lại cuộc hội ngộ giữa một khách thơ (mang dáng dấp và phong cách của Tản Đà) và một đào nương (một cô gái sống nơi xóm bình khang hay lầu hồng được gọi là ả đào hoặc cô đầu có thanh có sắc).
Câu chuyện có thể có thực vì Tản Đà là khách tài hoa thường lui tới nơi lầu hồng ở Khâm thiên (Hà nội), Vạn thái (Hải phòng), sáng tác những bài ca trù được gái phong trần ưa chuộng ca theo cung đàn nhịp phách trong các buổi “Cuộc vui suốt sáng, trận cười thâu đêm”.
Thề non nước cũng có thể là truyện tưởng tượng của một nhà thơ suốt đời đi tìm người tri kỷ trong mộng tưởng.
Nếu lấy nhãn quan của nhà phê bình ngày nay thì Thề non nước (chính thức ấn hành 1932) không phải là tiểu thuyết đặc sắc, không những về kết cấu, về nghệ thuật tả tình, tả cảnh và đối thoại đều sơ sài và cũ kỹ, so với tác phẩm trước nó như Cành hoa điểm tuyết (1921) của Đặng Trần Phất, và Tố Tâm (1925) của Hoàng Ngọc Phách còn phải nhường bước.
Nhưng trong tác phẩm này, có một bài thơ nhan đề là Thề Non Nước, một trong những bài thơ tình cảm hay nhất của Tản Đà. Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh nào?
Tản Đà đã kể lại trong truyện ngắn Thề Non Nước in trong Tản Đà Tùng Văn. Câu chuyện có thể hư cấu, tuy nhiên trong lúc xúc cảm tuôn trào, mộng thực hòa đồng, ông đã để lại cho đời một bài tình thi châu ngọc.
Phần sau đây lược trích trong truyện Thề Non Nước hy vọng giúp người yên thơ Tản Đà biết rõ hoàn cảnh ra đời của một bài thơ nổi tiếng và tính chất đa mộng, đa cảm, đa sầu của một thi nhân tài tử luôn luôn mang cảm giác cô đơn. Không phải ông chỉ nói chuyện với bóng, với ảnh mà đôi lúc cũng có cuộc hội ngộ với tri âm trong cuộc hành trình “nửa đời nam, bắc, tây, đông”. Giai nhân có thể là người trong mộng và cũng có thể là nhân vật thực và giữa những người tri kỷ đã có phen diễn ra cuộc ngâm vịnh lý thú như lần “khách” (tác giả tự xưng) gặp Vân Anh, nhân vật chính trong Thề Non Nước, một đào nương ở xóm bình khang, tài sắc nhưng bạc phận.
Một lần ghé thăm cô đào có tên là Vân Anh, khách lãng du và giai nhân bạc mệnh trò chuyện về văn chương đã nảy sinh cơ hội thi hứng tuôn tràn:
“…Vân Anh đi mở rương, lấy cuốn văn ra. Ông khách giở xem, thấy cũng có nhiều bài thông lắm. Xem đến bài Vịnh lĩnh mai (Vịnh cây mai trên núi) có hai câu rằng:
Hàm tình bất hướng đông phong tiếu
Độc bạn thanh tùng đạp tuyết du
(Chẳng cười với trận đông phong,
Thông xanh bầu bạn giãi lòng tuyết sương.)
Nghĩ như hai câu này thì thật có phong điệu, mà tại sao người làm thơ lại sa vào bình khang?
Khách xem hết các bài thơ chữ nho, lại hỏi về văn quốc âm. Vân Anh đọc bài “Vịnh sen Hồ Hoàn Kiếm”:
Hồ Gươm sen mới ra hoa
Cả hương, cả sắc, ai mà không chơi
Sen tàn lá rách tả tơi
Quanh hồ lai vãng ai người tiếc thương?
Nước hồ, sen đứng soi gương
Còn đâu là sắc là hương với đời
Tủi thân sen lại giận trời
Cho chi hương sắc, cho người trọng khinh.
Khách nói:
– Thơ hay, nhưng sao lời buồn quá thế?
Vân Anh:
– Bài này tôi mới làm. Trong lúc buồn mà gắng làm ra vui sao được!
Khách ngậm ngùi một lúc rồi nói:
– Nghĩ như cô, người như thế, tài hoa như thế, mà sao không nổi tiếng? Sao gia cảnh quá thanh bần?
Vân Anh đến lúc ấy tỏ ra buồn bã, trả lời khách:
– Ông nghĩ thế, chớ như tôi thời làm sao nổi tiếng. Chữ Nho bây giờ, đến như ông Nghè, ông Cử cũng còn nhiều vị chẳng vinh hiển gì, huống hồ là một người cô đầu biết hai ba câu thơ, còn lấy gì có giá được? Từ khi tôi ra hát đến nay, hôm nay mới có ông hỏi đến hoàn cảnh thiếu thốn là một…
Lúc ấy đã đến hơn bốn giờ sáng, khách bảo xếp bỏ rượu để đi ngủ. Vân Anh buông màn cho khách ngủ, rồi vào trong nhà với mẹ.
Ngày hôm sau, trời mưa dầm mãi từ sáng cho đến chiều. Lúc người khách ngủ dậy thời vào khoảng chín, mười giờ. Nguyên người khách đến uống rượu bận ấy, chỉ định ngủ một tối rồi sáng hôm sau ra đi nhưng sau một đêm nói chuyện với cô gái phong trần, cái cảm tình đối với nàng phát sinh lòng thương tiếc vô hạn. Lại nhân hôm ấy trời mưa dầm, thành ra khách ở lại. Mười giờ hơn, Vân Anh xin phép để làm cơm sáng… Trong nhà Vân Anh từ tối hôm trước chỉ còn có một con gà thời đã làm mồi rượu rồi mà cũng phải vay thêm đồ ăn mới đủ dọn; đến lúc ấy nàng không biết làm thế nào, nghĩ người khách đi lại chưa thân, cũng không tiện ra hỏi. Hai mẹ con ra vào, thì thầm bàn cùng nhau, khách cũng hiểu tình ý, nhưng cứ tự nhiên như không biết, chỉ nằm xem những thơ văn của Vân Anh, rồi lại mở va li, lấy giấy bút để viết. Độ 12 giờ hơn, thấy cơm bưng lên, đầy đủ món ăn. Bữa ấy hai người cùng ngồi uống rượu. Ngoài bức mành thưa, trời vừa mưa vừa gió, những người đi ngoài đường lặn lội ướt át mà trong chỗ mâm rượu thời một người du tử với một mỹ nhân thù tạc, đàm đạo nhân tình thế thái cùng văn thơ. Khách tuy không phải là người say đắm ở nơi bình khang nhưng lúc ấy bất giác cũng cao hứng.
Đương trong lúc tửu hứng, Vân Anh nói:
– Tôi có một bức tranh sơn thủy là của gia bảo, vẫn cuộn để trong rương, thường muốn đề một bài quốc văn mà nghĩ lại không xứng, nay không mấy khi được gặp cao nhân, xin hạ bút đề cho một bài, thực là quý quá.
Khách nói:
– Sự đề vịnh vốn không dễ, lại đề lên một bức họa trân quý thời thực không dám nhận, nhưng cô thử lấy cho xem thời hay lắm.
Vân Anh đi mở rương lấy bức tranh đưa ra, khách giở xem, thực là một bức cổ họa. Trông khoảng trên có ba chữ triện không hiểu là chữ gì? Vân Anh nói đó là chữ nôm. Khách nhận ra thời là ba chữ “Thề Non Nước”.
Vân Anh nói:
– Cứ ba chữ này, nghĩa đen là chỉ non, thề nước. Nhưng bức tranh không hiểu ý nghĩa ra sao?
Khách nghĩ một lúc rồi nói:
– Ba chữ đề đây là non với nước thề nguyền với nhau. Như thế có nhẽ hợp ý bức họa.
Vân Anh:
– Dẫu nhận là như thế, nhưng đây chỉ vẽ một dãy núi, còn không thấy sông nước gì cả, lấy gì thề thốt?
Khách đáp:
– Dù tranh không vẽ sông nước nhưng nhận kỹ một ngàn dâu ở chân núi này, tức là sông núi khi xưa mà tang thương đã biến đổi.
Khách giảng giải:
– Nguyên bức họa này chỉ là một bức tranh tang thương cho nên dưới vẽ một ngàn dâu tựa như thể khúc sông; trên núi thời như mây như tuyết, như mấy cây mai già, như bóng tà dương, đều là để tả cái tình cảnh thê thảm. Bởi thế cho nên ba chữ đề này, dẫu là lấy câu sẵn mà đề vào, song thực tỏ ra được cái tình thương nhớ của dãy núi… Dãy núi đã cảm nhận nỗi tang thương.
Vân Anh hỏi:
– Bây giờ muốn đề một bài thơ thời phô diễn thế nào mới sát ý?
Khách:
– Phải trông vào bức họa và lại lấy ba chữ “Thề Non Nước” đó làm chủ đề. Tuy nhiên, phải chú trọng vào một chữ “non”, lấy chữ “non” làm chính, vì không những “non” mới thực là chủ điểm trong bức họa mà lại có ở trong đề. Còn hai chữ “thề” và chữ “nước” thời trong bức họa không có mà trong đề có, cũng phải nhận như có nhưng chỉ nên đề cập tới một cách kín đáo, nhẹ nhàng.
Vân Anh:
– Như thế thời khó lắm!
Khách lại hỏi:
– Cô muốn đề bằng văn Nôm hay bằng Hán văn?
Vân Anh:
– Đề bằng văn nôm thời hơn, vì ba chữ đề ở đây bằng chữ nôm.
Khách:
– Nhưng nên làm một bài thơ hay một bài lục bát?
Vân Anh:
– Bài lục bát cũng được, hay một bài cổ luật cũng được.
Khi ấy, khách lại ngồi uống rượu mà vừa nghĩ. Bức họa vẫn để đó. Vân Anh đứng dậy xuống bếp bảo con ở lên bưng mấy bát đồ ăn xuống để hâm lại. Lúc Vân Anh lên cùng ngồi vào bàn thời khách đã nghĩ được mấy câu:
Nước non nặng một lời thề
Nước đi, đi mãi không về cùng non
Nhớ lời nguyện nước thề non
Nước đi chưa lại, non còn đứng không
Vân Anh:
– Hay lắm! Chữ “thề” chữ “nước” vẫn nói đến mà như không có; chỉ một chữ “non” là tả thực. Nhưng còn trùng vần “non” thời kém hay.
Khách:
– Vần “non” trùng, tưởng cũng không ngại lắm; nếu câu nệ mà đổi đi thời mất hết vẻ thiên nhiên.
Vân Anh:
– Câu tiếp đó ra sao?
Khách:
– Cứ ngắm “non” trong bức họa mà tả thực cho hết những cảnh vật ở trên non, nhất là tả cho được cái tình tương tư của non thời mới hay.
Vân Anh đọc:
Non cao những ngóng cùng trông
Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày
Xương mai một nắm hao gầy
Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương
Trời tây ngả bóng tà dương
Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha
Non cao tuổi vẫn chưa già
Non thời nhớ nước, nước mà quên non!
Khách:
– Hay lắm! Thử đọc lại cho nghe một lượt nào.
Vân Anh đọc lại. Khách nói:
– Như thế dù không trông vào bức họa, cứ đọc bài thơ cũng đủ thấy như vẽ ra một cảnh “núi tương tư”. Không ngờ cô văn nôm hay mà nhanh được đến như thế.
Vân Anh:
– Cũng là nhờ ông đã bảo rõ cho cách làm…”
(Sau đó, khách từ biệt ra đi… nhưng ngầm giúp Vân Anh bằng cách để tiền trong vali gửi lại nhưng không khóa. Nhưng Vân Anh không tham, cam chịu cảnh cơ hàn của một đào nương thất thế nhưng phẩm chất cao thượng.).
Câu chuyện tiếp tục:
“Một tối, Vân Anh ngồi buồn một mình, tưởng lại bài đề họa hôm nọ, tìm tờ giấy chép thơ đem ra xem. Nàng nghĩ nếu bài đề bức họa chỉ như thế thôi thời chưa đầy đủ ý nghĩa, lại sợ có thể là điềm không hay vì không có hậu. Nàng ngồi nghĩ và nối thêm hai câu:
Dù cho sông cạn đá mòn
Còn non, còn nước, hãy còn thề xưa
Mới được hai câu, thấy có người vào, thời là ông khách cũ, tay cầm một chai rượu, miệng cười và ra hiệu làm rượu uống. Đêm hôm ấy, hai người lại thù tạc, lại nói chuyện về bài đề họa.
Vân Anh nói:
– Bài này nếu ngừng ở đây chỉ sợ mang lại điều kém may mắn!
Khách:
– Làm văn có sợ gì sai, nhưng bài này thực ra chưa trọn ý.
Vân Anh bèn đọc hai câu mới nghĩ ra.
Khách:
– Hay lắm! Câu trên tả chân thật hay!
– Thế đã được chưa?
Khách:
– Kể ra cũng được, nhưng nối thêm nữa có nhẽ mới được đầy đủ.
Lúc ấy tửu hứng đã cao, khách lại ngâm rằng:
Non cao đã biết hay chưa?
Nước đi ra bể lại mưa về nguồn
Nước non hội ngộ còn luôn
Bảo cho non chớ có buồn làm chi
Nước kia dù hãy còn đi
Ngàn dâu xanh tốt, non thì cứ vui.
Vân Anh tiếp lời:
Nghìn năm giao ước kết đôi
Non non nước nước không nguôi lời thề
Khách nói:
– Như thế đã đầy đủ ý nghĩa.
Vân Anh đem chép lại toàn bài rồi đọc lại một lượt. Hai người cùng lấy làm ưng ý. Sẵn bút mực trong vali, họ đốt đèn thật sáng, đem bức họa ra để đề thơ. Khách đề trước một bài chữ nôm. Vân Anh thì viết quốc ngữ. Đề xong, lại cùng ngồi uống rượu làm văn. Hai người cùng làm chung nhau một bài, mỗi người làm mỗi đoạn. Cuộc rượu chưa tàn, hứng văn thơ cũng chưa tàn, nghe tiếng gà như đã giục khách. Khách xin từ biệt ra đi. Vân Anh ngẩn người và giữ lại. Lúc ấy, hai tình quyến luyến, người chốn bình khang không phải là giả vờ mà du tử cũng nặng lòng ly biệt.”
(Trích Thề non nước-bản 1932)
Hoàng Yên Lưu

PHÒNG THÔNG TIN PHẬT GIÁO QUỐC TẾ


PHÒNG THÔNG TIN PHẬT GIÁO QUỐC TẾ
Cơ quan Thông tin và Phát ngôn của Viện Hóa Ðạo
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
E-mail : pttpgqt@gmail.com - Web : http://www.pttpgqt.org

THÔNG CÁO BÁO CHÍ NGÀY 23.01.2016Giáo chỉ về thành phần Ban Chỉ đạo Viện Hoá Đạo và các Ban Đại diện Miền — Lời cảm tạ cuối năm về những hậu thuẫn tịnh tài cho Giáo hội trong nước / Bổ sung — Về hai chữ Sắc Không



2016-01-23 |    | PTTPGQT


PARIS, ngày 23.1.2016 (PTTPGQT) - Viện Tăng Thống vừa gửi đến Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế để phổ biến Giáo chỉ ban hành về nhân sự Ban Chỉ đạo Viện Hoá Đạo và Ban Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) tại các Miền Quảng Đức, Khánh Hoà, Liễu Quán, Khuông Việt, Vạn Hạnh.

Sau đây là toàn văn Giáo chỉ số 16 :

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
VIỆN TĂNG THỐNG
90 Trần Huy Liệu, Phường 15, Quận Phú Nhuận, TP Saigon


Phật lịch 2559
Số 16/TT/GC

GIÁO CHỈ
TẤN PHONG BAN CHỈ ĐẠO VIỆN HÓA ĐẠO
VÀ BAN ĐẠI DIỆN CÁC MIỀN

----------------
ĐỆ NGŨ TĂNG THỐNG
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT


- Chiếu Khoản 3, Điều 11, Chương Thứ Tư, Hiến Chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất GHPGVNTN.

- Chiếu biểu quyết tại Đại Hội Khoáng đại Bất thường GHPGVNTN Kỳ thứ X do Đức Tăng Thống triệu tập ngày 17 tháng 01 năm 2016.

GIÁO CHỈ
TẤN PHONG BAN CHỈ ĐẠO VIỆN HÓA ĐẠO

ĐIỀU I :

Tấn phong Hòa Thượng Thích Thanh Quang vào ngôi vị Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

Tấn phong Hòa Thượng Thích Tâm Liên vào ngôi vị Phó Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất kiêm nhiệm Tổng vụ trưởng Tổng vụ Tăng sự.

Lưu nhiệm nguyên vị tất cả các Tổng vụ trưởng thuộc nhiệm kỳ vừa qua :

- Tổng Vụ TrưởngTổng Vụ Tăng Sự : Hòa Thượng Thích Tâm Liên
- Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Hoằng Pháp : Hòa Thượng Thích Đồng Tu
- Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Giáo Dục : Hòa Thượng Thích Chơn Tâm
- Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Văn Hóa : Hòa Thượng Thích Chí Viên
- Tổng vụ trưởng Tổng vụ Kiến thiết : Hoà thượng Thích Nhật Ban
- Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Tài Chánh : Hòa Thượng Thích Nguyên Lý
-Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Từ Thiện và Xã Hội : Hòa Thượng Thích Nguyên Lý
- Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Nghi Lễ : Hòa Thượng Thích Chánh Niệm
- Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Truyền Thông
kiêm nhiệm Phát ngôn nhân Viện Hoá Đạo,
và Giám Đốc Phòng Thông Tin Phật Giáo
Quốc Tế : Cư Sĩ Nguyên Thái Võ Văn Ái
* Giám Đốc Phòng Liên Lạc Quốc Tế : Cư Sĩ Hồng Chi Ỷ Lan
- Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Thanh Niên : Hòa Thượng Thích Thanh Quang
* Vụ Trưởng Gia Đình Phật Tử Vụ : Htr. Nguyên Chánh Lê Công Cầu
- Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Cư Sĩ : Cư Sĩ Nguyên Quang Nguyễn Tất Trực
- Tổng Thư Ký Viện Hóa Đạo : Cư Sĩ Nguyên Chánh Lê Công Cầu
- Chánh Văn Phòng Viện Hóa Đạo : Thượng Tọa Thích Minh Quang
* Phụ tá Chánh Văn Phòng VHĐ : Đại Đức Thích Minh Nghĩa
-Tổng Thủ Qũy Viện Hóa Đạo : Ni Sư Thích Nữ Pháp Liễu

CHÁNH ĐẠI DIỆN CÁC MIỀN

- Miền Quảng Đức : Hòa Thượng Thích Quảng Tôn
- Miền Khánh Hòa : Hòa Thượng Thích Nhật Ban
- Miền Liễu Quán : Hòa Thượng Thích Chí Viên
- Miền Khuông Việt : Hòa Thượng Thích Tâm Mãn
- Miền Vạn Hạnh : Hòa Thượng Thích Chánh Niệm

ĐIỀU II :

- Chiếu Điều 30 Chương Thứ V, Hiến Chương GHPGVNTN, nhiệm kỳ của Ban Chỉ Đạo Viện Hóa Đạo là hai năm.

- Chiếu Điều 33 Chương Thứ V, Hiến Chương GHPGVNTN : Ở thời Pháp nạn, Giáo hội bị bách hại không thể triệu tập Đại hội theo thể thức quy định của Hiến chương, thì tuỳ phương tiện và hoàn cảnh mà tổ chức để tránh sự dòm ngó gây khó khăn thêm cho Giáo hội. Tuy nhiên không thể huỷ bỏ để dòng sinh hoạt Giáo hội được lưu nhuận và tiếp nối.

- Do hoàn cảnh bách hại hiện nay, nhiệm kỳ của Ban Chỉ đạo Viện Hoá Đạo được biểu quyết thông qua tại Đại hội Khoáng đại GHPGVNTN kỳ X ngày 17 tháng 01 năm 2016 là vô thời hạn, cho đến khi có hoàn cảnh thuận tiện. Nhưng Hiến chương vẫn phải áp dụng mỗi hai năm, hoặc khi đặc biệt khẩn yếu, Ban chỉ đạo Viện Hoá Đạo có thể được bổ sung, hoán chuyển để đáp ứng nhu cầu Phật sự.

ĐIỀU III : Giáo Chỉ nầy có hiệu lực kể từ ngày ký.

ĐIỀU IV : Viện Tăng Thống, Viện Hóa Đạo chiếu nhiệm vụ thi hành Giáo Chỉ nầy.

Phật lịch 2559, Thanh Minh Thiền Viện
Đại lễ Thành Đạo, ngày mồng 8 tháng Chạp năm Ất Mùi
(tức 17 tháng 01 năm 2016)
ĐỆ NGŨ TĂNG THỐNG
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất

(ấn kỳ)
Sa Môn THÍCH QUẢNG ĐỘ



Giáo Chỉ 16 (1/3)
Giáo Chỉ 16 (2/3)

Giáo Chỉ 16 (3/3)


Lời Cảm tạ về những hậu thuẫn tịnh tài cho Giáo hội trong nước
Bản BỔ SUNG

Trong bản Thông cáo Báo chí phát hàng ngày 20-1-2016 chúng tôi đã cho đăng Lời Cảm tạ này. Tuy nhiên, do sơ sót nên thiếu một số tên và tịnh tài của chư liệt vị đã đáp ứng hậu thuẫn cho việc tổ chức Lễ Hiệp kỵ ngày 4-1-2016 và Lễ Tiểu tường Đại lão Hoà thượng Cố Viện trưởng Viện Hoá Đạo Thích Như Đạt tại Tu viện Long Quang, thành phố Huế. Nay xin đăng tải lại Lời Cảm tạ được bổ sung chư liệt vị đóng góp.

Năm hết Tết tới, Tổng vụ Truyền Thông Viện Hoá Đạo, thừa lệnh Ban Chỉ đạo Viện Hoá Đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN), xin kính lời chân thành cảm tạ chư liệt vị đã gửi tịnh tài về Hoà thượng Tổng vụ trưởng Tổng vụ Tài chánh Viện Hoá Đạo hậu thuẫn các sinh hoạt của Viện Hoá Đạo trong nước, hoặc cúng dường Đức Đệ Ngũ Tăng Thống.

Kính xin tán thán công đức chư liệt vị và cầu chúc chư liệt vị Năm Mới 2016 – Bính Thân thân tâm an lạc, bồ đề tâm kiên cố, và thành công như ý nguyện :

Bác sĩ Nguyễn Trọng Nhi $200 (Mỹ kim) – Loan Kim Nguyễn $400 – Quí Đạo hữu Chùa Phật Quang $1000 – Nguyễn văn Nhớ $270 – Gia đình Bác Sĩ Phúc Toàn Nguyễn Trọng Nhi $500 – Đạo hữu (Đh) Từ Dung Nguyễn Thị ngọc Lan $300 – Đh Phúc Nguyên Đào Văn Năng $200 – Gia đình Minh Tài Phạm Minh Tân $200 – Gia đình Pháp Chiếu Nguyễn Diên $1,000 – Quý Đạo hữu Chùa Phật Quang $300 – Sư Cô Thích Nữ Giác Nguyên $100 – Đh Diệu Nguyên Nguyễn Thị Trà $100 – Đh Diệu Quý Hoàng Thị Bé $100 – Nhật Hảo Hoàng Thị Nhạn $100 – Đh Diệu Huệ Hoàng Thị Lan $100 – Đh Nguyên Chiếu Trần Thị Cảnh $100 – Đh Phúc Tường Thục Vũ $200 – Sư Cô Thích Nữ Giác Nguyên $200 – Đh Diệu Hương Nguyễn Thị Hương Trà $500 – Đh Diệu Quý Hoàng Thị Bé $100 – Đh Diệu Xuân Nguyễn Thị Tân $100 – Đh Diệu Hiền Lê Thị Đệ $100 – Đh Phạm Mỹ Châu / Tiệm Vàng Mỹ Châu $200 – Đh Nguyên Đào Hoàng Thị Như Linh $100 – Đh Nguyên Chiếu Trần Thị Cảnh $200 – Cô Dung Tiệm Vàng Nguyên Vũ $100 – Đh Diệu Chánh Hoàng Thị Liu $100 – Đh Phật Hảo Hoàng Thị Nhạn $200 – Đh Phúc Tường Thục Vũ $200 – Đh Tâm Kiên Nguyễn Cường $120 – Đh Nghiêm Tiên Nguyễn Thị Hoàng Diệp $100 – Đh Nghiêm hạnh Nguyễn Thị Dung $50 – Đh Nghiêm Tịnh Nguyễn Thị Hoàng Lương $50 – Đh Nghiêm Mỹ Nguyễn Thị Hoàng Hoa $50 – Đh Phúc Long Nguyễn Hưng $300 – Đh Phúc Hiển Nguyễn Quốc Hưng $30 – Đh Phúc Triều Nguyễn Quý Hưng $200 – Đh Trương Quảng Từ $40 – Đh Phúc Minh Nguyễn Kevin $200 – Đh Lý Thiện Nguyễn Thanh Hoài $40 – Đh Diệu Huệ Hoàng Thị Lan $20 – Đh Lý Hỷ Nguyễn Phú Phát $10 – Hương Linh Diệu Danh Nguyễn Thị Gái $20 – Hương linh Phúc Quang Hoàng Hữu Lưu $20 – Hương linh Diệu Lâm Hoàng Thị Hành $20 – Đh Tâm Hạnh $300 – Gia đình Đh Nguyên Tuyết $500 – Đh Giang Tỷ $100 – Quý Đh ở Dallas : Võ Đại Bích, Lê Văn Hữu, Trương Như Thiết, Nguyễn Văn Hải, Thái Văn Còn, Võ Thiên Kim, Võ Thế Vinh, Võ Andrew, Nguyễn Đình Xứng, Đinh Văn Minh, Trương Như Hải, Võ Thị Qúy, Nguyễn Đức, Dương Văn Sâm, Đặng Sanh, Phạm Thanh Long, Paul Kim, Trương Nghĩa, Nguyên Cát và Quảng Lượng, Như Toàn, Đàm T. Thao, Hoàng Ngọc Dũng, Huỳnh Công Hạnh, và Mạch văn Tám $2230 – Đh Cao Liên Hương $300 (Gia kim)

Cơ sở Quê Mẹ và Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế xin kính lời chân thành cảm tạ chư liệt vị đã gửi tịnh tài hậu thuẫn công trình vận động quốc tế cho tự do tôn giáo, nhân quyền, dân chủ :

Giáo sư Nguyễn Duy Thông 20 Euros mỗi tháng suốt các năm 2013, 2014 và 2015 – Bác sĩ Nguyễn Trọng Nhi $400 – Đh Huỳnh Kim Dung 300 Euros – Đh Daniel Nguyễn $100 – Đh Tâm Nguyên $200 – Đh Hùng Phạm $100 – Đh Lê Bích Ngọc $200 – Đh Ngọc Thu Tina Lê $300 – Đh Richard Lê $200 – Đh Hien Van $100 – Đh Tâm Nguyên $200 – Đh Hien Van $100 – Đh Lâm Nguyên $1000 – Đh Lâm Vân $10 – Đh Nguyễn Nhã $100 – Đh Bích Ngọc Lê 200 Euros – Đh Ngọc Tước Huynh 500 Euros – Đh Hùng Phạm $200 – Đh Lâm Vân $20 – Đh Laura Nguyễn $1000 – Sư Cô Thích Nữ Giác Nguyên $100 – Cụ Diệu Hương, Nguyễn Thị Trà $100 – Cụ Diệu Quý Hoàng Thị Bé $100 – Đh Nguyên Đào $100.00– Đh Nguyên Chiếu, Trần Thị Cảnh $200 – Đh Nghiêm Tiên, Nguyễn T Hoàng Điệp $100 – Đh Tâm Phúc, Davis Nguyễn $100 – Đh Thục Vũ $100 – Đh Trí Giác Nguyễn Văn Nhớ $50 – Đh. Diệu Chánh Hoàng thị Liu $50 – Gia đình Đạo hữu Phạm Tư Long $400 – Đh Diệu Thuý và quý Đh Khuôn hội Huyền Quang Dallas $500

Về hai chữ Sắc sắc Không không

“Cầu Chuyện Cuối Tuần” là một đề mục của Đài Phật giáo Việt Nam phát thanh về trong nước, trình bày vấn đề Phật Pháp & Thời luận phát thanh mỗi thứ sáu hàng tuần, do ký giả Triều Thanh phụ trách.

Hôm nay xin mời bạn đọc theo dõi cuộc phỏng vấn Cư sĩ Võ Văn Ái về “Hai chữ Sắc sắc Không không” chép lại từ cuộc phỏng vấn trong chương trình Đài thứ sáu 15 tháng giêng dương lịch 2016 :

Về hai chữ Sắc sắc Không không

Triều Thanh : Thưa ông Võ Văn Ái, lâu nay chúng ta thường nghe một câu than “Sắc sắc Không không” đầy giọng triết lý, khi thấy việc đời đổi thay không theo ý mình mong muốn  ? Nào là việc đời thay đổi trắng đen, tình người bạc bẻo, phũ phàng. Có đó rồi không đó. Xin ông cho biết đây có phải là tư tưởng thâm huyền của đạo Phật hay không ?

Võ Văn Ái : Hai chữ Sắc - Không là thuật ngữ Phật giáo rất thâm huyền, uyên áo. Tuy nhiên lối nói mà anh Triều Thanh bảo là đầy giọng triết lý khi than rằng “Sắc sắc Không không - Có đó rồi không đó” là sự biến tướng giáo lý thâm huyền thành chủ nghĩa định mệnh, bó tay, yếm thế. Biểu trưng cho lối hiểu của người học Phật sơ cơ, nếu không nói là bình dân. Lấy điều cao thâm giải thích một chuyện bực mình hay bi quan làm sai lệch chủ trương của đạo Phật.

Nói rằng Sắc sắc Không không, có đó rồi không đó, tức công nhận hai phạm trù có và không (hữu và vô), làm trái nghĩa với giáo nghĩa Vô thường, Vô ngã, và Duyên khởi hay lý Duyên sinh của đạo Phật. Thực ra sắc và không là hai từ mang ý nghĩa khác nhau. Sắc đứng đầu trong năm nhóm hợp thể hay Ngũ Uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức).

Uẩn thứ nhất gọi là sắc uẩn bao gồm tứ đại là đất, nước, lửa, gió, và những gì từ bốn đại này tạo ra như năm căn, là mắt, tai, mũi, lưỡi và thân, hay năm cảnh như hình dáng, âm thanh, mùi vị, sờ mó, ý thức. Nói tóm, tất cả thế giới vật thể, nội tâm hay ngoại giới, đều bao gồm trong sắc uẩn.

Trái lại chữ Không, tiếng Phạn là Úûnyatâ, là đỉnh cao của tư tưởng Phật giáo thuộc hệ Bát nhã của Trung quán tông. Nhìn xem vạn vật hay con người trong thế giới hiện tượng, chúng ta thấy chúng đều hỗ tương tồn tại theo lý Duyên khởi nên bản thân chúng là không, trong nghĩa không có gì biệt lập mà có thể tồn tại. Không ở đây mang nghĩa vô tự tính, không có tự tính, gọi là Tính Không, xuất phát từ giáo lý Vô Ngã. Lúa tự nó không thể tồn tại biệt lập, mà còn phải nhờ các duyên chung hợp mà ra, như đất, nước, nắng và thời tiết thì mới hiện hữu như một cây lúa để cho ta gạo. Tính Không chính là sự khai triển lý Duyên khởi, tương duyên tương sinh, yếu tính của đạo Phật.

Triều Thanh : Như ông nói thì hai từ ngữ sắc - không là hai thuật ngữ Phật giáo biểu tỏ những ý nghĩa khác nhau. Sắc chỉ về hình trạng là một trong ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Vậy do đâu mà kết hợp thành câu ta thán “Sắc sắc, Không không” ?

Võ Văn Ái : Đây là sự hiểu lầm tai hại của nhiều người tưởng rằng sắc là hữu hình và không là vô hình, khi họ nhại lại câu kinh trong bản Tâm Kinh mà Phật tử thường tụng đọc hằng ngày. Bản kinh ngắn nhất thuộc hệ thống Bát nhã, nhưng sâu kết ý nghĩa trọng đại của pháp môn Trung quán. Trên dưới 300 chữ. Bản dịch sang tiếng Trung quốc vào thế kỷ thứ II Tây lịch gọi là Bát nhã Ba la mật đa Tâm kinh. Năm 1973, khi dịch từ bản chữ Phạn Prajñâpâramitâ Hṛdaya sûtra sang tiếng Việt, tôi gọi là “Kinh Ruột Tuệ giác Siêu việt” với tiểu đề Biện chứng phá mê trừ khổ.

Triều Thanh nhớ hồi ngài Huyền Trang sang Ấn độ thỉnh kinh vào đầu thế kỷ thứ VII, một thân một mình băng qua sa mạc Gobi đầy hiểm nguy chết chóc, ngài đã không ngừng trì tụng Bát nhã tâm kinh này để kiên trì chí nguyện và thoát nạn.

Sắc sắc Không không mà người ta nhại lại để ta thán, đến từ hai câu đầu trong Bát nhã Tâm kinh chữ Tàu thường tụng đọc là :

“Quán-tự-tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thế khổ ách.

“Xá-lợi-tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc. Thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị”.

Tôi dịch ra tiếng Việt như sau :

“Khi tiến sâu vào nguồn mạch của tuệ giác siêu việt, Kẻ Tỉnh thức Quán-khổ-trừ-nguy nhận chân ra năm hợp thể và thấy suốt tự tánh không của chúng.

“Nầy người con dòng Sari, hình thể là chân không, chân không là hình thể, chân không chẳng khác hình thể, hình thể chẳng khác chân không. Mọi chân không đều hình thể. Cảm xúc, nhận thức, tạo ứng hay ý thức đều như thế cả”.

Triều Thanh : Ông có thể khai triển thêm về Tính Không của Trung quán tông ?

Võ Văn Ái : Đây là đỉnh cao của tinh thần bất nhị, đánh bạt tất cả các tư trào triết học Đông Tây xây dựng trên Nhị nguyên luận.

Tính Không hay tinh thần bất nhị đã được gợi ý trong các thời thuyết pháp của Đức Phật. Sau này được các ngài Long Thọ, Nguyệt Xứng, Phật Hộ, Thanh Biện, Đề Bà hay Thánh Thiên, v.v… khai sáng thành Trung quán tông, cũng gọi là Trung quán luận hay Chính quán luận (tiếng Phạn là Mûlamadhyamaka-kârikâ) vào thế kỷ thứ II, thứ III Tây lịch, tạo ra bước ngoặt lớn như cuộc cách mạng trong tư tưởng Phật giáo, đồng thời ảnh hưởng sâu xa đến tất cả các nền triết học và tôn giáo Ấn Độ trên mấy nghìn năm. Trung quán tông, cũng như đạo Phật từ khởi thủy, sử dụng phương pháp phân tích phê phán, chống mọi giáo điều kinh viện. Kinh Tu Bà trong Trung bộ kinh (Majjhima-nikâya), Đức Phật xác định “Ta là người phân tích, ta không là người rao giảng giáo điều”.

Toàn bộ Trung quán tông là sự giải thích lại lý Duyên Khởi. Đức Phật không bao giờ trả lời hoặc không với các câu hỏi. Vì đứng từ hai luận chấp có / không là rơi vào tà kiến, cực đoan, hý luận. Đây chính là giáo lý Trung đạo, không phải một quan điểm thứ ba ngoài hai quan điểm có / không, mà là quan điểm phi lập trường, loại bỏ hai cực đoan. Như sắc uẩn ta đề cập lúc nãy, do mê muội không thấu hiểu được sắc. Không thấu hiểu vì mê chấp vào sắc, từ đó nảy sinh vọng tưởng rằng sắc tồn tại.

Triều Thanh : Không theo quan điểm có, cũng không theo quan điểm không, có thể bị đánh giá là ba phải không, thưa ông ?

Võ Văn Ái : Không đâu. Tôi trích một đoạn kinh, qua đó đạo sĩ Vacchagotta đặt ra nhiều câu hỏi có, không, tự ngã. Nhưng đức Phật im lặng, không trả lời, khiến ông này bỏ đi. Thấy ông Ananda có chiều thắc mắc, đức Phật giải thích thái độ ngài như sau :

“Này Annanda, khi đạo sĩ Vacchagotta hỏi “có tự ngã hay không”. Nếu ta trả lời rằng có, vậy là ta theo số người chủ trương Thường kiến luận. Nhưng nếu ta trả lời “không có ngã” thì ta lại đi theo những người chủ trương Đoạn kiến luận. Này Ananda, khi đạo sĩ Vacchagotta hỏi “có tự ngã hay không” ? Nếu ta trả lời rằng có, thì lời giải đáp của ta có phù hợp với kiến giải cho rằng vạn pháp đều vô thường chăng ? Nếu ta trả lời rằng không, thì Vacchagotta đang bị hoang mang sẽ trở nên hoang mang hơn nữa. Ông ta sẽ nghĩ rằng : Trước đây tôi thực sự có một tự ngã, bây giờ chẳng còn có nữa !”.

Đạo sĩ Vacchagotta lại hỏi : Vậy Cồ Đàm có giáo lý gì riêng của mình không ? Đức Phật trả lời :

“Này Vacchagotta, Như Lai đã xa lìa mọi hý luận. Như Lai biết rõ bản chất của sắc, biết rõ sắc sinh như thế nào, diệt như thế nào…Do đó, Như Lai đã đạt đến giải thoát, xa lìa mọi nhiễm trước. Cho nên mọi ảo tưởng, mọi vọng tưởng hư ngụy về tự ngã hoặc những gì liên quan đến tự ngã đều tan biến, bị hủy diệt”.

Triều Thanh : Xin ông giải thích nghĩa của Thường kiến luận và Đoạn kiến luận ?

Võ Văn Ái : Thường kiến luận, Đoạn kiến luận cũng gọi là Thường kiến, Đoạn kiến là hai kiến chấp sai lầm dưới con mắt của đạo Phật, do không hiểu các pháp đểu không. Thường kiến (Nityadṛṣṭi) là kiến chấp chủ trương thế giới thường còn, bất biến, cái ta của con người vẫn tồn tại sau khi chết.

Đoạn kiến (Ucchedadṛṣṭi) là kiến chấp thế gian và cái ngã cuối cùng đều đoạn diệt. Chủ trương linh hồn bất diệt thuộc về thường kiến. Hư vô chủ nghĩa chủ trương đoạn kiến.

Trở lại với Tính không của Trung quán tông, tôi muốn nhấn mạnh rằng Trung quán tông xem việc phê phán và đả phá các kiến giải, tà kiến là cách để kiến tạo Trí tuệ siêu việt, chứ không là đối chất, tranh cãi. Nó là một biện chứng pháp vạch trần và phê phán mọi luận điểm của mọi nền triết học, vì nó vượt ngoài mọi kiến giải, khái niệm, và ngôn ngữ. Trung quán tông hay Tính Không mang tính siêu nghiệm và duyệt lại tất cả sự vật để phát lộ cái Thực hữu. Vì cuộc sống trong thế giới hiện tượng chỉ là sự biến thiên của vọng tưởng phân biệt (Vikalpa).

Đạo Phật phê phán các học thuyết khác thông qua biện chứng pháp của Trung quán tông không cốt đưa ra một học thuyết khác. Tính Không của các kiến giải không phải là một kiến giải khác, mà là mở ra Trí tuệ siêu việt.

Triều Thanh : Sự phê phán như ông vừa nói đưa ta về đâu ? Trong khi triết học, khoa học, văn hóa đang mang lại cho ta một đời sống hoan lạc trong tinh thần.

Võ Văn Ái : Hoan lạc nhưng có giải thoát không ? Đặc điểm của các hệ thống triết học Tây phương mang tính tư biện, một trò chơi thuần túy của trí tưởng tượng, không dẫn đến đời sống tâm linh. Triết học biểu trưng cho cái Thiện tối cao, các bộ môn khoa học, văn học nghệ thuật chỉ đáp ứng được nhu cầu vật chất và văn hóa của con người. Nhưng chúng không có khả năng đưa ta đến sự thành tựu tối cao của giác ngộ, và loại trừ sự thống khổ trong đời người như đức Phật đã đề ra phương pháp diệt khổ qua Bốn chân lý Tứ Diệu đế, hay Trung quán tông giúp ta phá bỏ mọi tà kiến, ảo vọng, hí luận để đạt tới giải thoát giác ngộ bằng Trí tuệ Bát nhã.

Ta thống khổ, tinh thần hay vật chất, là vì ý chí ta bị bức bách, ngăn trở làm cho chúng ta bất như ý, không đạt được các ước vọng, tham cầu. Mọi phương tiện của thế tục không giúp ta thoát khổ. Muốn thóat khổ thì phải diệt trừ phiền não. Nên ta phải cầu cứu tới triết học, tư tưởng để giải vây ta ra khỏi vô minh, tức những mê chấp, tham đắm. Đáp án quan trọng nhất chính là biện chứng phá mê trừ khổ của Trung quán tông. Ngài Tịch Thiên, tức Santi Deva, nói rằng : “Để thoát khổ và được hỷ lạc, thì phải chuyên chú tinh thần vào giác ngộ với tín tâm mạnh mẽ”. Tín tâm nói đây là phát Bồ đề tâm chứng cầu Phật quả.

Giải thoát giác ngộ không phải là sự tích lũy công đức, hay tích tập năng lượng, mà là một tiến trình phủ định, quét sạch mọi phiền-não-chướng đang che mờ thực tướng. Giải thoát là sự chấm dứt của nghiệp và phiền não. Do vọng tưởng phân biệt mà sinh ra tham, sân, si. Khi ta nắm bắt được bản tính rỗng không, phi thực của vọng tưởng, thì chúng sẽ bị tiêu diệt. Thống khổ hay phiền não sẽ không còn đeo ta như bóng với hình.

Bản tính rỗng không chính là Tính không, là thần dược giải độc mọi phiền não. Khi thực tướng không bị xem như hữu (ens) hay phi hữu (non-ens) theo nhị nguyên luận, thì vọng tưởng chấm dứt. Nghiệp và phiền não bị diệt, giải thoát tất hiện ra.

Nhìn vào giới trí thức nước ta, thấy rõ đa số họ bám víu vào các ý thức hệ khác nhau rồi tin rằng đó là giải pháp cưu nguy cho bản thân hay cho dân tộc. Hẳn nhiên các ý thức hệ ấy mang đủ cái đẹp, cái thiện hảo của nó với người mê đắm tin vào nó. Nhưng không hẳn ai khác cũng mê đắm như thế. Ý thức hệ của người này không là ý thức hệ của người kia. Rồi khi đem ra thử nghiệm các ý thức hệ ấy, thì hậu quả mang lại là đưa dân tộc Việt Nam đi về đâu suốt 70 năm qua ? Câu trả lời, là máu, lệ, người chết lên hàng triệu, đất nước điêu linh, quê hương bị tàn phá.

Cho nên đề cập tới câu ta thán sắc sắc không không, bỗng dưng không còn là chuyện triết học xa vời, chuyện trời biển cao xa. Mà chính là đi vào trọng tâm sinh tử của đời sống tâm linh 90 triệu người và một dân tộc có văn hiến và cống hiến cho nền văn minh nhân loại.

Nếu ta nhớ lại một đêm vào đầu năm 20 thế kỷ trước, ông Hồ Chí Minh lúc ấy còn tên Nguyễn Ái Quốc, đã khóc ròng khi đọc được luận cương của Lénine chủ trương giải phóng dân tộc châu Á. Ông Hồ xem như bửu bối, đem ra áp dụng làm cuộc xích hóa Việt Nam đưa tới thảm trạng ngày nay. Đây là lựa chọn con đường ý thức hệ tư biện, một nhánh triết học Tây phương mà người trí thức họ Nguyễn tưởng như giải pháp tối hậu để giải phóng cá nhân anh và dân tộc anh. Ai bảo là không đẹp, không lý tưởng ? Nhưng ý thức hệ ấy cũng chỉ là vọng tưởng biến chấp (hay biến kế sở chấp, Vikalpa), mê đắm và tham cầu. Phải chi trong hành trang kiến thức, ông Hồ được học Phật, thấm nhuần Trung quán tông, thì ông đã sớm thấy vọng tưởng ngờ nghệch của trào lưu Mác xít Cộng sản, và đã không mang tội đẩy dân ta vào vòng nô lệ thảm sầu với nỗi khổ đau trầm thống.

Người cộng sản tôn vinh Đạo đức Hồ Chí Minh là diễn tả đúng vai trò của người mù sờ voi. Trong đạo đức của thế gian vẫn còn sự mâu thuẫn hay xung đột giữa cái thiện của người này với cái thiện của người khác. Cái thiện giải phóng dân tộc của ông Hồ Cộng sản khác với cái thiện của nhiều tầng lớp nhân dân hay quần chúng tôn giáo.

Giải quyết sư xung đột này cần quán chiếu Tính Không, mà cũng là biện chứng pháp của Trung quán tông để loại trừ căn rễ của nó là tính đối lập nhị nguyên trong nền triết học phương Tây.

Trung quán tông là lộ đồ cẩm nang giúp ta tránh thoát những vọng chấp, hí luận thế gian, đưa tới Đạo hạnh tâm linh như đỉnh cao của mọi giá trị. Đạo đức vẫn còn là phạm trù trầm luân như đạo đức Hồ Chí Minh. Nhưng Đạo hạnh tâm linh thì không.

Triều Thanh : Xin cám ơn Cư sĩ Võ Văn Ái và xin hẹn quý thính giả ở Câu Chuyện Cuối Tuần vào thứ Sáu tuần tới, cũng vào giờ phát thanh này.


Báo cáo Tài chánh của Hoà thượng Thích Nguyên Lý, Tổng vụ trưởng Tổng vụ Tài chánh Viện Hoá Đạo


Tổng Kết Thu Chi của Quỹ Giáo Hội (1/3)

Tổng Kết Thu Chi của Quỹ Giáo Hội (2/3)

Tổng Kết Thu Chi của Quỹ Giáo Hội (3/3)


Tổng Kết Thu Chi của Quỹ THXH (2015) (1/4)

Tổng Kết Thu Chi của Quỹ THXH (2015) (2/4)

Tổng Kết Thu Chi của Quỹ THXH (2015) (3/4)

Tổng Kết Thu Chi của Quỹ THXH (2015) (4/4)
https://youtu.be/FLAR0h7vHP4

NGUỒN GỐC TỪ O.K

Từ Đâu Có Chữ OK? < K



hông ai có thể ngờ một từ xuất phát từ một trò đùa đã trở thành một sản phẩm vĩ đại nhất của nước Mỹ.

Không ai có thể ngờ một từ xuất phát từ một trò đùa đã trở thành một sản phẩm vĩ đại nhất của nước Mỹ, vì nó phản ánh văn hóa, tư duy của dân Mỹ, và trên thế giới không ai không dùng đến nó.

Ông Allan Metcalf viết nguyên một cuốn sách về OK. Ông nói OK không chỉ là một từ vĩ đại, nó còn là một từ quan trọng, một sản phẩm thành công nhất mà người Mỹ đã xuất khẩu đi khắp thế giới. Nó còn bao gồm triết lý sống và cách suy nghĩ của người Mỹ.


Ông nói cái hay của nó là chỉ vỏn vẹn hai mẫu tự mà vừa đẹp, vừa đơn giản, vừa tiết kiệm.

Nó còn mang tính thực dụng của người Mỹ. Nó không hàm ý mọi chuyện đều hoàn hảo, vượt mức mong đợi, mà chỉ mang tính trung lập, có người còn gọi là ba phải.


Khi có ai hỏi bạn có khỏe không, bạn trả lời tôi OK, như vậy không có nghĩa là bạn khỏe như voi và cũng không có nghĩa là bạn đang bệnh liệt giường.


Có nhiều giai thoại về xuất xứ của OK, ở đây chỉ xin kể ba giai thoại.


Thứ nhất, từ này bắt đầu do một trò đùa. Ngày 23/3/1839, một tờ báo ở Boston dùng từ này đầu tiên, và giải thích rằng “ok” là viết tắt của “all correct,” mọi thứ đều chính xác. Nhưng tại sao lại chính xác khi “o” không bắt đầu cho “all” và “k" không bắt đầu cho “correct?” Do đó, ngay từ đầu, những gì gọi là chính xác cũng chưa hẳn là chính xác, mà chỉ là OK.



Thứ hai, một năm sau đó, 1840, ông Martin Van Buren ra tranh cử tổng thống lần nữa. Ông này vốn xuất thân từ khu Kinderhook của New York. Những người ủng hộ ông tái tranh cử gọi ông là lão già ở Kinderhook - Old Kinderhook - và nhiều nơi trên nước Mỹ lập ra những nhóm ủng hộ ông, lấy tên là OK Club. Thế là cái từ này gây ồn ào trở lại.



Thứ ba, người ta đồn rằng Tổng thống Andrew Jackson, lãnh đạo Hoa Kỳ từ 1829 - 1837 thường hay phê “OK” vào các văn thư trình lên ông để tỏ ý chấp thuận. Trong vòng 20 năm sau đó, các vị lãnh đạo trong các ngành nghề khác bắt chước lối phê này để ra điều mình cũng làm như tổng thống. Tác giả Allan Metcalf nói sự thực Tổng thống Andrew Jackson không hề phê “OK” vào các văn thư, nhưng tin đồn đó đã tạo ra một phong trào và giúp biến từ này thành một từ thông dụng.



Tác giả Allan Metcalf vẫn còn dạy môn Anh ngữ tại trường cao đẳng MacMurray ở thành phố Jacksonville, tiểu bang Illinois. Ông còn là Tổng thư ký lâu năm của hội các nhà Phương ngữ Hoa Kỳ.



Ông vẫn cố vận động để cả nước Mỹ xem ngày 23/3 là ngày OK Day để kỷ niệm ngày từ này xuất hiện đầu tiên.


Ông nói ngoài ông ra còn một người nữa, Thomas Harris, cũng viết một quyển sách có tựa 'I'm OK -- You're OK.' Theo ông, sách này phản ánh tâm lý yêu chuộng tự do của người Mỹ:



"'I'm OK' có nghĩa là tôi có thể làm những gì tôi muốn. 'You're OK' có nghĩa là bạn có thể làm những gì bạn muốn. Có thể là chúng ta không làm giống nhau, nhưng như vậy cũng OK”.




Theo Viện khoa học nghiên cứu nhân tài nhân lực

HOÀNG ANH TUẤN * CHỦ NGHĨA THỰC DÂN VỀ HÀNG HẢI



Chuyện Thời sự & Xã hội


(i) (Chuyện cuối Năm ta về Trung quốc)

Hoàng Anh Tuấn: Chủ nghĩa thực dân về hàng hải


(Đại sứ Vietnam ở Nam Dương)


Đại sứ Việt Nam tại Indonesia Hoàng Anh Tuấn, nguyên là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược và Ngoại giao, hôm 25/1 vừa có bài viết trên tờ Jakarta Post nói về điều mà ông gọi là "Các diễn biến gây quan ngại ở Biển Đông". BBC Tiếng Việt xin lược giới thiệu bài viết này.

"Thế giới bước vài năm 2016 với bổn phận phải đối phó với nhiều thách thức đáng lo lắng, từ sự bùng phát xung đột giữa Iran và Ả rập Saudi tới việc Bắc Triều Tiên thử bom khinh khí; tới các cuộc tấn công khủng bố ở Thổ Nhĩ Kỳ, Burkina Faso, Indonesia và Pakistan.

Thêm vào các quan ngại an ninh này là hành động chưa có tiền lệ của Trung Quốc ở Biển Đông, nơi đang tiềm tàng nguy cơ xảy ra những tai ương nghiêm trọng ở một trong những khu vực quan trọng nhất về địa chiến lược trên thế giới."

Tiến sỹ Hoàng Anh Tuấn điểm qua các diễn biến như việc Trung Quốc xây dựng, cơi nới đảo nhân tạo ở Trường Sa hay bay thử xuống Đá Chữ Thập và cho rằng các hoạt động đó cho thấy "ý định tiếp tục chiếm cứ và thống lĩnh khu vực quan trọng cho giao thương Đông Nam Á và thế giới cũng như lưu thông hàng hải" của Trung Quốc.

Ông nhấn mạnh việc tàu bay Trung Quốc vi phạm vùng thông báo bay (FIR) của Việt Nam, chứng tỏ "Bắc Kinh không có ý định tuân thủ quy định và thông lệ" quốc tế.

Chủ nghĩa thực dân về hàng hải

Ông Tuấn cho rằng rõ ràng "hành động của Trung Quốc đã đi ngược lại lời nói" của chính họ.

"Các hoạt động gần đây của Trung Quốc ở Biển Đông cho thấy Bắc Kinh sẵn sàng mở rộng phạm vi hoạt động trong khu vực, có những bước đi ngày càng nguy hiểm..."

Đại sứ Hoàng Anh Tuấn đưa ra nhiều điều khoản công ước quốc tế mà ông cho rằng Trung Quốc đã vi phạm.

Vị đại sứ Việt Nam thẳng thắn chỉ ra rằng Trung Quốc vẫn đang tìm cách "thống trị toàn bộ Biển Đông". "Trung Quốc khó mà chối cãi rằng nước này đang theo đuổi cách tiếp cận chỉ có thể gọi bằng từ chủ nghĩa thực dân về hàng hải [maritime colonialism] đối với Biển Đông". Ông nói việc làm của Trung Quốc chính là lý do tại sao quá trình thương lượng giữa Asean và Trung Quốc về Quy tắc Ứng xử (COC) kéo dài nhiều năm nay mà không có tiến bộ đáng kể.

Bài viết mạnh mẽ của ông Hoàng Anh Tuấn kết thúc bằng các khuyến nghị rằng Trung Quốc cần chấm dứt tất cả các hoạt động cải tạo cơi nới đảo vốn đang thay đổi hiện trạng và dẫn đến quân sự hóa Biển Đông. Ông cũng nói Trung Quốc cần thực thi Tuyên bố chung về Ứng xử của các bên (DOC), phấn đấu đạt thỏa thuận COC với Asean và giải quyết các bất đồng dựa trên luật pháp quốc tế vì hòa bình, ổn định và an ninh ở khu vực "cũng phục vụ lợi ích lâu dài của Trung Quốc".


*** Nguyễn Gia Kiểng : Trung Quốc - Phải chăng chỉ khủng hoảng về kinh tế?

Trần Quang Thành (TQT): Thưa ông Nguyễn Gia Kiểng,
Vào nửa đầu tháng Giêng năm 2016 này tình hình ở Trung Quốc và 2 nước lân bang của Trung Quốc có nhiều vấn đề khiến thế giới quan tâm.
Tại Trung Quốc, thị trường chứng khoán Thượng Hải, Thẩm Quyến đang sụt giảm nghiêm trọng và có ngày phải đóng cửa. Ô nhiễm môi trường đến mức nghiêm trọng đang dẫn đến hàng nghìn xí nghiệp có nguy cơ phải phá sản. Trung Quốc cải tổ quân sự. Còn ở hai nước lân bang thì phía Đông Bắc Á Bắc Hàn thử thành công bom khinh khí, còn nước 4 tốt của Trung Quốc là Việt Nam ở Đông Nam Á sau một năm đấu đá nhau kịch liệt bước vào đại hội Đảng lần thứ 12. Ông Nguyễn Gia Kiểng có bình luận gì về Trung Quốc và hai nước lân bang này ạ?
Nguyễn Gia Kiểng (NGK): Trước hết tôi xin có một nhận xét về sự khác biệt giữa Việt Nam và Triều Tiên. Mặc dầu hai nước lệ thuộc Trung Quốc rất nặng nề, nhưng mức độ nặng nề đó khác nhau. Việt Nam thì ban lãnh đạo muốn lệ thuộc Trung Quốc để tồn tại nhưng một phần quan trọng trong đảng cầm quyền - đảng cộng sản - và gần như toàn bộ nhân dân Việt Nam không muốn tình trạng đó. Cho nên mức độ lệ thuộc Trung Quốc khác nhau. Tôi nghĩ là trong một tương lai không xa Việt Nam sẽ không còn lệ thuộc Trung Quốc nữa. Mức độ lệ thuộc Trung Quốc sẽ một ngày một giảm đi. Không giống như chế độ ở Triều Tiên, một chế độ vô lý ở mức mà người ta không thể nghĩ là nó có thực. Vậy thì phải xét bản chất của nó. Chúng ta nên nhớ lại thời chiến tranh Triều Tiên. Vào mùa hè 1950, chế độ Bắc Triều Tiên mở cuộc tổng tiến công hòng thôn tính quốc gia Nam Cao Ly, bây giờ gọi là Hàn Quốc. Chỉ trong một thời gian ngắn họ đã đẩy lùi được quân đội Hàn Quốc xuống tận cùng phía Nam. Nhưng sau đó gặp sự phản công rất mạnh của quân đội Liên Hợp Quốc, chủ yếu là Hoa Kỳ. Trong một thời gian rất ngắn quân đội Bắc Triều Tiên hầu như đã bị tiêu diệt và khi bị dồn tới tận sông Áp Lục thì chỉ còn khoảng 10 ngàn người mà thôi. Lúc đó Trung Quốc đã quyết định nhảy vào cứu vãn chế độ Triều Tiên. Họ đã gửi gần 2 triệu quân. Phải nói là quân đội Triều Tiên từ đó thuần túy là quân đội Trung Quốc. Và sau đó họ đỡ đầu chế độ Triều Tiên, sử dụng Triều Tiên như một căn cứ quân sự, một phần của họ, để làm những điều họ không muốn thế giới buộc tội họ vì đã làm. Nhưng dần dần thế giới cũng đã nhìn ra. Càng ngày càng có nhiều quan sát viên, nhiều chính phủ nhận định những việc chế độ Triều Tiên làm thực ra là làm theo chỉ thị ngầm của Trung Quốc. Cho nên khi chế độ Triều Tiên thử bom khinh khí - bom hydrogen - người ta nhìn vấn đề như là chính Trung Quốc thử trái bom đó, mượn tay bắc Triều Tiên để làm áp lực với thế giới. Càng ngày càng có những lập luận buộc tội Trung Quốc. Cho nên tôi nghĩ trong tương lai tình thế có lẽ sẽ khó khăn hơn cho Trung Quốc vì họ không còn giấu giếm và đánh lừa được dư luận thế giới nữa.
Bây giờ trở lại vấn đề thị trường chứng khoán của Trung Quốc. Quả nhiên nó rất trầm trong. Hai tuần lễ đầu năm nay thị trường chứng khoán Thượng Hải đã giảm hơn 15%. Riêng tại Thẩm Quyến là trung tâm công nghiệp của Trung Quốc thị trường chứng khoán giảm 24%.
Từ đó chúng ta có thể rút ra một vài kết luận:
- Một là kinh tế Trung Quốc suy sụp một cách không thể đảo ngược được. Đây không phải là lần đầu tiên. Trong sáu tháng qua thế giới đã sống trong sự hồi hộp của sự xuống giá của thị trường chứng khoán Trung Quốc ở Thẩm Quyến cũng như ở Thượng Hải.
- Kết luận thứ hai nó cũng có phần quan trọng của nó là nền công nghiệp Trung Quốc sụp đổ; đó là vì nhiều xí nghiệp công nghiệp Trung Quốc chủ yếu được niêm yết giá tại thị trường Thẩm Quyến mà thị trường Thẩm Quyến trong 2 tuần sút giảm 24%. Như vậy là sự sụt giảm quan trọng. Nền kinh tế Trung Quốc cho đến ngày hôm nay có thể tóm tắt một câu là họ dựa trên sản xuất và nhân công rẻ, thực tế là họ xuất khẩu sự nghèo khổ mà chính đảng cộng sản đã là nguyên nhân. Nhưng chính sách đó ngày hôm nay đã thất bại.
Người ta đã nói nhiều tới sự suy sụp của Trung Quốc, vào giờ này tôi nghĩ không còn ai ngờ vực rằng sự suy thoái của nền kinh tế Trung Quốc không thể đảo ngược được nữa.
Nói về trường hợp Việt Nam tôi cũng xin nói thêm về tình trạng rất mới nhân sự kiện Trung Quốc gửi các chuyến bay đến quần đảo Trường Sa. Trên 50 chuyến bay của họ đã đáp lên đảo Chữ Thập, một đảo đá họ đã chiếm được của Việt Nam và biến thành một phi trường lớn. Sự kiện này rất nghiêm trọng. Chúng ta đã để cho họ xây căn cứ ở đó thì tất nhiên có ngày máy bay của họ sẽ đáp xuống. Trong tương lai nó có thể là một căn cứ về hàng hải, nhưng cũng có thể nó là một căn cứ quân sự. Nó sẽ làm thay đổi hẳn những dữ kiện về địa lý chính trị trong vùng. Nó đe dọa một cách nghiêm trọng hải phận của Việt Nam cũng như không phận của Việt Nam.
Một lần nữa chúng ta cần nhắc lại trước năm 1988 Trung Quốc không có hiện diện tại Trường Sa. Trung Quốc chỉ có mặt ở Trường Sa sau khi đã đánh chiếm sáu đảo của Việt Nam. Tôi đã có bài phân tích và nhiều người đã phân tích là cuộc đánh chiếm sáu đảo đá của Việt Nam tại Trường Sa thực ra nó là một sự dàn cảnh của ban lãnh đạo lúc đó do bộ ba Nguyễn Văn Linh - Lê Đức Anh - Đỗ Mười, nhưng chủ yếu là Nguyễn Văn Linh và Lê Đức Anh. Họ đã chủ trương dâng một phần quần đào Trường Sa cho Trung Quốc để đổi lấy ơn huệ được lệ thuộc Trung Quốc. Chúng ta đừng quên là quân đội Trung Quốc chỉ đánh chiếm chính thức những đảo này vào cuối tháng 3 đầu tháng 4 năm 1988. Nhưng họ đã đem hải quân đến đó từ tháng Giêng mà Việt Nam không hề có một phản ứng nào hết, và sau khi họ tấn công đánh chiếm sáu hòn đảo tàn sát 74 chiến sĩ hải quân của Việt Nam thì chính quyền Việt Nam chỉ ra một cái thông cáo phản đối chiếu lệ rất ngắn ngủi và sau đó một hai tháng bộ chính trị họp tuyên bố từ này Trung Quốc là bạn. Hiến pháp Việt Nam được sửa đổi để bỏ lời nói đầu coi Trung Quốc là thù địch. Như vậy chúng ta thấy có một sự kiện rất nghịch lý là Trung Quốc trở thành bạn của Việt Nam sau khi xâm phạm lãnh thổ của Việt Nam, đánh chiếm sáu hòn đảo của Việt Nam, tàn sát hải quân của Việt Nam.
Cũng đừng quên là trong khi Trung Quốc đánh chiếm có một sự kiện quân sự rất đáng chú ý là Lê Đức Anh đã ra lệnh cho không quân không được can thiệp. Sự thật lúc đó nếu không quân Việt Nam can thiệp thì có thể tiêu diệt được lực lượng hải quân rất sơ sài của Trung Quốc trong nháy mắt. Sở dĩ Trung Quốc đã chiếm được là vì chính quyền cộng sản Việt Nam, những người cầm đầu Đảng Cộng Sản Việt Nam đã âm mưu để cho Trung Quốc chiếm. Cho nên ngày hôm nay chúng ta thấy tình trạng trong tương lai rất phức tạp thì húng ta phải nhắc tới trách nhiệm rất nặng nề của Nguyễn Văn Linh và Lê Đức Anh. Có lẽ theo tôi, trong thế kỷ 20 này đó là hai người có tội nặng nhất đối với đất nước Việt Nam.
TQT: Người ta chứng kiến sự phát triển kinh tế của Trung Quốc. Họ có ba thập niên liên tục tăng trưởng tới 10%. Rồi 5 năm gần đây tuy mức tăng trưởng nó có khựng lại nhưng vẫn là mức 7%. Mức này phải nói rằng nhiều nước mơ mà không được. Phải chăng những con số Trung Quốc đưa ra là ảo. Thực trạng kinh tế Trung Quốc hiện nay là thế nào thưa ông?
NGK: Trước hết chúng ta đừng nên quên Trung Quốc vẫn là một chế độ cộng sản và đặc tính của mọi chế độ cộng sản là họ bưng bít sự thật. Họ đưa ra những con số dối trá. Nhiều khi dối trá một cách lộ liễu. Thí dụ năm 2014, ngoại thương của Trung Quốc, xuất nhập khẩu của Trung Quốc, đã giảm 11% trong khi con số tăng trưởng của Trung Quốc vẫn là 7,5%. Đối với một người có một chút lý luận câu hỏi đặt ra là làm thế nào một nền kinh tế chủ yếu đặt nền tảng trên xuất khẩu lại có thể đạt tỷ lệ tăng trưởng 7,5% trong khi mức xuất nhập khẩu giảm 11%? Không thể có. Thực trạng này nó khiêu khích lô-gich nhiều quá, cho nên có một công ty tư vấn về tài chính tại Anh là công ty Lombard Street đã dùng những con số của chính Trung Quốc để tính lại một cách đúng đắn và thấy tỷ lệ tăng trưởng của Trung Quốc chỉ là 1,7% thôi. Nhưng ngay cả con số 1,7% này cũng không thể tin được vì khi xuất khẩu đã giảm sút nặng nề đến như vậy thì tăng trưởng kinh tế làm gì có, kinh tế phải suy thoái thôi. Những con số của Trung Quốc không đáng tin chút nào.
Đầu tháng 4/2014 tôi có viết bài "Khi thiên triều sụp đổ và lịch sử sang trang" tôi đã phân tích rằng tình hình kinh tế Trung Quốc không có thuốc chữa. Nhận xét của tôi có lẽ nó không nghiêm khắc bằng nhận xét của ông Lý Khắc Cường, thủ tướng Trung Quốc. Cũng vào giai đoạn đó ông Lý Khắc Cường nói rằng: "Từ nay chúng ta phải tuyên chiến với mô hình kinh tế và nếp sống của chúng ta", một lời tuyên bố rất nặng nề. Khi nói tuyên chiến với một cái gì đó người ta phải coi nó là thù địch. Ông Lý Khắc Cường tuyên bố mô hình kinh tế của Trung Quốc sai hoàn toàn. Nói chung từ trước đến giờ nó đặt trên nền tảng sản xuất tối đa với giá thật rẻ để xuất khẩu được nhiều. Nói cách khác họ xuất khẩu sự nghèo khổ mà chính họ là nguyên nhân. Thế nhưng mà làm như thế cũng không được về mặt kỹ thuật và kinh tế thuần túy; ngay cả nếu chúng ta bỏ qua khía cạnh chính trị và nhân đạo mô hình đó vẫn là sai. Lý do là vì từ trước đến nay một nền kinh tế lành mạnh luôn luôn phải đặt nền tảng trên một thị trường nội địa lành mạnh. Đó là điều anh em chúng tôi trong Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên đã nhận định. Vào năm 2001, khi mô hình Trung Quốc được cả thế giới ca tụng, anh em chúng tôi có đưa một dự án chính trị Thành Công Thế Kỷ 21 trong đó chúng tôi đã nhận định mô hình Trung Quốc là rất sai. Đó là mô hình bất chấp con người, bất chấp môi trường và bất chấp cả các qui luật kinh tế. Trong thảo luận anh em chúng tôi còn nói nếu mô hình tăng trưởng của Trung Quốc mà đúng thì phải dẹp hết các trường đại học về kinh tế và hủy bỏ hết các cuốn sách kinh tế. Ngày hôm nay rõ ràng mô hình dựa trên xuất khẩu không thể tiếp tục được. Sau cuộc khủng hoảng năm 2008 Trung Quốc đã cố gắng phát triển thị trường mội địa. Đây là một cố gắng theo chiều hướng đúng nhưng rất khó khăn. Đặc tính của thị trường nội địa là mình không thể phát triển nó một cách đột ngột như phát triển xuất khẩu được mà phải phát triển nó một cách đều đặn, tuần tự và với nhiều cố gắng kiên nhẫn và liên tục. Nhưng điều đó Trung Quốc không làm. Trung Quốc cho rằng muốn tăng cường thị trường nội địa phải tăng lương cho công nhân để công nhân có tiền mua sắm. Nhưng người công nhân Trung Quốc không được bảo đảm về sức khỏe cho nên khi có được một phần gia tăng về lương bổng thì họ dùng số tiền mới có thêm được để dành, phòng mỗi khi yếu bệnh. Cho nên chính sách phát triển thị trường nội địa một cách nhanh chóng của Trung Quốc đã thất bại. Nó chỉ đưa đến kết quả ngược lại là làm giá cả các hàng hóa của Trung Quốc trở thành đắt đỏ và khối lượng hàng hóa xuất khẩu của Trung Quốc đã giảm lại càng giảm đi nhanh hơn. Chính sách phát triển thị trường nội địa tuy vẫn phải tiếp tục nhưng không thể thực hiện dễ dàng như họ nghĩ. Từ đầu mùa hè năm 2014 họ đưa ra một chiến dịch mới để thay thế cho một chiến dịch họ vẫn làm từ trước tức là dùng chi phí công cộng và dùng những công trình xây dựng kết cấu hạ tầng, dùng các công trình xây dựng bất động sản. Trong một thời gian họ đã giấu được sự suy thoái nhưng cuối cùng họ đã tạo ra những thành phố ma, những chung cư không có người ở, những đường cao tốc không có xe chạy; cuối cùng khiến số nợ công của Trung Quốc gia tăng lên một cách đáng sợ.
Từ mùa Hè năm 2014 họ có một tham vọng mới, đó là biến Thượng Hải và Thẩm Quyến thành những trung tâm tài chính quốc tế tương đương với New York và London. Kết quả là một năm sau, năm 2015, chúng ta chứng kiến sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Thượng Hải. Và đầu năm nay sau khi Trung Quốc đã bỏ ra hàng trăm tỷ đô la để cứu vãn thì chúng ta thấy thị trường Trung Quốc nó đi vào một giai đoạn suy thoái mới. Lần này Trung Quốc tuyên bố bỏ cơ chế đóng cửa ở thị trường chứng khoán tự động, nghĩa là cứ để cho thị trường chứng khoán từ từ mà sụt xuống, còn nếu muốn cố gắng cứu vãn thì bơm thêm tiền vào mua những cố phiếu bị đe dọa cứu được phần nào hay phần đó. Nhưng tôi thấy đây chỉ là một sự đầu hàng. Cái gì vừa xảy ra đúng là chứng tỏ thị trường chứng khoán Trung Quốc không cứu vãn nổi và nền kinh tế Trung Quốc nói chung không có lối thoát.
TQT: Cũng trong bài "Khi Thiên triều sụp đổ, và lịch sử sang trang" ông có nói là vấn đề kinh tế không phải là nghiêm trọng lắm đối với Trung Quốc mà vấn đề nghiêm trọng, cực kỳ nghiêm trọng, đối với Trung Quốc là vấn đề môi trường và chính trị. Tại sao lại như vậy và những nhận định ấy bây giờ còn đúng không thưa ông?
NGK: Bây giờ còn đúng hơn trước, thưa ông Trần Quang Thành. Chúng ta không nên quên là trong tháng 12, tháng cuối cùng của năm 2015, Bắc Kinh đã phải đóng cửa các nhà máy, đóng cửa các trường học, các công sở trong vòng một tuần lễ. Các hoạt động ở Bắc Kinh ngừng trệ trong vòng một tuần lễ là vì ô nhiễm của không khí đã đạt đến mức độ không thể chịu đựng được nữa. Muốn hiểu rõ hơn tình hình bi đát của môi trường Trung Quốc chúng ta hãy tham khảo một vài con số do Tổ Chức Y Tế Thế Giới đưa ra. Mức độ không khí bình thường là từ 10 đến 12 microgram/m3 hạt mịn. Hạt mịn là những hạt cực nhỏ có thể chui vào vào phổi vì đường kính dưới 2,5 micron. Nó chui vào trong phổi làm cho phổi cứng người ta không thở được nữa và nó có thể làm người ta chết vì ung thư hoặc chết vì không thở được nữa. Theo tổ chức Y Tế Thế Giới mức độ không khí bình thường là từ 10 đến12 microgram hạt mịn trong một mét khối. Mức độ được cho là nguy ngập đến tính mạng là 25 microgram/m3. Nhưng ở Trung Quốc những ngày nào tốt là 80 microgram/m3. Có ngày nó lên tới 200 microgram/m3. Ở tỉnh Hà Bắc có ngày lên tới 1.400 microgram/m3, tức là gần 60 lần mức độ nguy hiểm chết người. Phải nói là tình hình ô nhiễm không khí ở Trung Quốc ghê gớm lắm. Nhưng đó không phải là tất cả. Trung Quốc cũng là một nước rất thiếu nước. Hiện nay quá nửa các dòng sông ở Trung Quốc không có nước nữa. 400 thành phố hoàn toàn không có nước trên bề mặt phải hút nước từ lòng đất lên để dùng. Chiều sâu để hút được nước ngày càng xuống. Ở các tỉnh như vùng Tân Cương, Sơn Tây phải đào sâu xuống gần 100 mét mới hút được nước lên. Tình trạng nước ở Trung Quốc rất nguy ngập. Đất nước Trung Quốc đang bị phá hủy. Đây là hậu quả chính sách của Trung Quốc trong hơn 30 năm qua trong đó Trung Quốc đã kỹ nghệ hóa tối đa bất chấp môi trường, bất chấp cả con người. Cho nên ngày nay các chuyên gia trên thế giới không nhìn thấy giải đáp.
Năm 2000 Trung Quốc đã bỏ ra hơn 5 tỉ đô-la để nghiên cứu làm sao cứu được sông Dương Tử. Sau khi sài hết 5 tỉ đô-la đó các chuyên gia kết luận là không tài nào cứu được sông Dương Tử cả và mọi sự sống sẽ biến mất. Ngày nay nạn thiếu nước ở Trung Quốc có thể đưa đến nội chiến. Đã có trường hợp có những tỉnh hoặc những huyện trong một tỉnh giao chiến với nhau để giành một con sông. Có thể nói vấn đề môi trường của Trung Quốc cũng không có giải đáp.
Kể từ ngày Tập Cận Bình lên cầm quyền lại có một vấn đề nữa là cuộc khủng hoảng chính trị. Nhìn từ bên ngoài vào, có lẽ vì người Việt Nam chúng ta có quá nhiều vấn đề cho nên chúng ta không quan tấm lắm đến những vấn đề xảy ra ở Trung Quốc. Thực ra chiến dịch chống tham nhũng mà người Trung Quốc đặt một cái tên rất ngộ nghĩnh là « Đả hổ, diệt ruồi » đã gặp phải một trở ngại không thể tưởng tượng được. Nhóm thân cận của Tập Cận Bình đã không lường trước được mức độ dữ dội của nó. Lúc này Trung Quốc đang sống trong sự nghi vấn rất lớn là chế độ có thể tồn tại như thế này được hay không? Ông Tập Cận Bình nhân danh chống tham nhũng để phục hồi kinh tế nhưng trên thực tế đời sống nhân dân Trung Quốc đã sút giảm. Ông Tập Cận Bình có thể bị sụp đổ không phải vì ông đã làm gì sai mà vì ông thừa hưởng một di sản mà ông không thể nào cứu chữa được nữa.
Cho đến ngày hôm nay chế độ cộng sản Trung Quốc đã tồn tại dựa trên hai thỏa hiệp bất thành văn:
- Thỏa hiệp thứ nhất là nhân dân Trung Quốc chấp nhận để Đảng Cộng sản tiếp tục chế độ toàn trị và khước từ những tự do căn bản của họ, nhưng với điều kiện là chế độ này vẫn tạo ra được một sự tăng trưởng đều đặn ở mức độ rất cao. Như ông Ôn Gia Bảo thời trước đã nói nếu Trung Quốc không có tăng trưởng trên 8% thì sẽ có bạo loạn. Bây giờ thì không những không có tăng trưởng 8% mà kinh tế vẫn tiếp tục sa sút.
- Nguy cơ thứ hai về chính trị của Trung Quốc, do kinh tế mà đến, là sự ổn vững của Trung Quốc cũng dựa trên một thỏa hiệp bất thành văn thứ hai là người dân Trung Quốc chấp nhận để bị bóc lột, làm nhiều với lương rẻ để tích lũy tư bản cho các công ty có lời nhiều và dùng lợi nhuận đó tiếp tục đầu tư vào kinh tế. Nhưng bây giờ 2/3 những người giàu có của Trung Quốc có ý đồ rời bỏ Trung Quốc hoặc đã rời bỏ Trung Quốc. Nói một cách khác tư bản mà họ đã đổ mồ hôi nước mắt ra để tích lũy được cho các công ty ngày hôm nay đang đào thoát ra nước ngoài. Cho nên có một sự phản bội, phản bội về mô hình kinh tế, phản bội cả về đạo đức chính trị và về lòng yêu nước.
Cho nên Tập Cận Bình đang sống những ngày khó khăn. Tôi nghĩ hiện nay kinh tế tuy khó khăn nhưng nó không bằng hai vấn đề khác: Vấn đề trầm trọng nhất vẫn là môi trường và vấn đề trầm trọng thứ hai là đề khủng hoảng chính trị.
TQT: Ông có nói vấn đề thứ hai là trầm trọng khủng hoảng chính trị. Nhưng tôi thấy dường như Tập Cận Bình đang làm chủ trong vấn đề chính trị. Ông ấy mở chiến dịch chống tham nhũng tràn khắp cả nước. Người bị đụng chạm đến không phải là những quan chức bình thường mà là giới chức cao nhất Trung Quốc kể cả ông Giang Trạch Dân cũng đang có nguy cơ. Ông đang củng cố lại quân đội theo hệ thống quản lý của Quân ủy trung ương. Ông ấy tràn ra Biển Đông chiếm các hòn đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam để làm sân bay. Máy bay hạ cánh xuống bất chấp sự phản đối. Vậy phải chăng ông ấy đang làm chủ được về chính trị?
NGK: Theo như tôi vừa nói vì chúng ta có quá nhiều vấn đề nội bộ nên chúng ta không quan sát kỹ tình hình Trung Quốc. Nhưng các chuyên gia theo dõi tinh hình Trung Quốc đều nhận định tình hình Trung Quốc rất là căng thẳng. Cố gắng của ông Tập Cập Bình càng ngày càng khó khăn.
Vấn đề là Tập Cận Bình thừa hưởng một đất nước Trung Quốc cũng tan hoang, cũng bị phân hóa từ bên trong như ông Gorbachev đã thừa hưởng ở Liên Xô năm 1985. Gorbachev đã cố gắng để cải tổ toàn diện hệ thống của Liên Xô nhưng đã không cải tổ được. Ông ấy đã thất bại, nhưng ít ra cũng đã giúp cho chế độ cộng sản Liên Xô được giải thể trong hòa bình, giúp Liên Bang Xô Viết hạ cánh an toàn, tuy cũng mất đi một số nước như Ukraine, Georgia, Khazakstan... Trái lại Tập Cận Binh từ chối những cải tổ cần thiết và đang ngày càng tích lũy nhiều khó khăn.
Điều chúng ta đáng lo ngại không phải là Trung Quốc khiêu khích trên Biển Đông hoặc khiêu khích với Nhật Bản. Chúng ta thấy gần đây họ không dám khiêu khích Nhật Bản trên hòn đảo Điếu Ngư nữa và họ cũng muốn hòa dịu với Hàn Quốc. Tại Biển Đông vì Việt Nam gần như là một nước chư hầu của họ và chấp nhận tất cả những gì họ làm nên họ còn lộng hành một tí. Nhưng tôi nghĩ tình trạng này cũng sẽ không kéo dài vì chế độ Trung Quốc đang lung lay từ bên trong theo cái lô-gich bình thường của một chế độ gần giống như một đế quốc, nghĩa là tập trung nhiều lực lượng, nhiều khối không giống nhau, không có nguyện vông sống chung, không tương đồng về mặt văn hóa, địa lý và kinh tế, sản xuất. Khi một đế quốc như vậy gặp khó khăn nó thì co cụm lại chứ nó không khiêu khích với bên ngoài.
Trái với sự lo lắng của nhiều người tôi nghĩ rằng chúng ta không phải lo sợ lắm về tình hình Biển Đông. Trung Quốc sẽ không làm tới ở một mức độ dữ dội. Tôi phải nhắc lại là do một sai lầm không thể tha thứ được của Nguyễn Văn Linh và Lê Đức Anh họ đã có mặt ở Trường Sa, họ đã xây các đảo nhân tạo trên Trường Sa, họ xây phi trường, họ sẽ hiện diện ở đó. Sự hiện diện đó có thể mạnh trong lúc đầu, nhưng mà nó sẽ không mạnh trong tương lai khi mà Trung Quốc yếu đi. Và nếu chúng ta là một nước Việt Nam dân chủ, khai thác được đầy đủ những tài nguyên của chúng ta thì chúng ta sẽ mạnh lên và sẽ buộc Trung Quốc phải có một thái độ biết điều hơn, khiêm tốn hơn ở Biển Đông. Tôi nghĩ vấn đề Biển Đông mặc dầu là một xúc phạm lớn đối với mọi người Việt Nam nhưng nếu chúng ta có được một chế độ dân chủ lành mạnh thì những vấn đề ấy cũng không đến nỗi quá phức tạp.
TQT: Nói về vấn đề Trung Quốc và Việt Nam. Tình hình Trung Quốc theo ông vấn đề mội trường là cực kỳ nguy hiểm, kinh tế thì đang suy sụp, chính trị thì đang lủng củng từ vấn đề Nội Mông, Tây Tạng rồi ra Biển Đông. Những vấn đề ấy có tác động gì đến vấn đề Việt Nam hay không thưa ông?
NGK: Tôi nghĩ là chúng ta đang chờ đợi một biến cố lớn trong chế độ Cộng sản - Đại hội XII một tuần nữa sẽ mở ra - Vào giờ này chúng ta chưa chính thức biết được những gì họ đã quyết định với nhau, chúng ta chỉ đoán thôi mà tính tôi không thích dự đoán khi mà mình không nắm được những dữ kiện cơ bản. Tôi chỉ nắm được điều, đó tôi nghĩ rằng đã có một sai lầm trong nhận định về thái độ của Trung Quốc đối với Việt Nam. Nhiều người nghĩ rằng Trung Quốc bỏ rơi ông Nguyễn Tấn Dũng vì ông Nguyễn Tấn Dũng chống Trung Quốc. Theo tôi lý do không phải như vậy. Trung Quốc không thể tìm được đồng minh nào lý tưởng hơn ông Nguyễn Tấn Dũng. Ông Nguyễn Tấn Dũng trước hết là truyền nhân của ông Lê Đức Anh, kiến trúc sư của chính sách lệ thuộc Trung Quốc. Thứ hai là ông Nguyễn Tấn Dũng trong mười năm qua đã làm tất cả những gì mà một thủ tướng Việt Nam có thể làm để làm vừa lòng Trung Quốc. Ông đã để cho hàng hóa Trung Quốc tràn ngập vào Việt Nam như chỗ không người. Ông đã xuất khẩu một số lượng lớn hàng hóa Trung Quốc mang nhãn Made in Vietnam, đó là một trợ giúp cho Trung Quốc tuy nó cũng có lợi phần nào đối với Việt Nam, ông đã cho thuê rừng đầu nguồn, ông đã cho phép Trung Quốc thành lập những khu gần như tự trị kiểu như Vũng Áng tại Việt Nam. Và gần đây ngày 30/4/2015 ông đã lên tiếng đanh thép để lên án đế quốc Mỹ, để hô lại một khẩu hiệu mà trong vòng hơn 20 năm qua tôi không thấy một lãnh tụ cộng sản nào hô nữa là khẩu hiệu "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào", mà chúng ta tưởng đâu đã lùi hẳn vào quá khứ rồi. Nói chung ông Dũng có cảm tưởng là ông ấy bị Trung Quốc bỏ rơi vì thân Mỹ, thân phương Tây nên ông ấy cố gắng lấy lòng Trung Quốc bằng cách lên án, gần như tuyên chiến với Hoa Kỳ. Nhưng cuối cùng thì ông ấy mất tình cảm của các nước dân chủ, của Mỹ, nhưng không tranh thủ được sự ủng hộ của Trung Quốc. Lý do giản dị là vì Tập Cận Bình đang tiến hành môt chính sách dữ dội và khó khăn để chống tham nhũng cho nên Tập Cận Bình không thể ủng hộ ông Dũng được bởi vì ông Dũng đối với dư luận của cả thế giới và của cả mọi người là một người tham nhũng. Ngay cả những người ủng hộ ông Dũng cũng không thể chối cãi sự kiện là ông Dũng rất tham nhũng. Tập Cận Bình hiện đang ở trong tình thế khó khăn nên không thể yểm trợ ông Dũng được dù trọng lượng của Trung Quốc lên Đảng Cộng sản Việt Nam còn khá lớn.
Cho nên vào giờ này tôi có thể nói có một khúc quanh, khúc quanh đó quan trọng đến mức độ nào thì hãy đợi tương lai cho chúng ta biết vì ngay cả những người cộng sản hiện nay cũng chưa biết. Đó là sự thất sủng của ông Dũng có thể tiên liệu được.
Nhân việc nói quan hệ Việt Nam - Trung Quốc tôi muốn nói tới điều này:
- Cho đến ngày hôm nay tất cả cấp lãnh đạo đảng cộng sản, dù là Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Sinh Hùng hay bất cứ ai, có thể có quan điểm khác nhau trên nhiều vấn đề nhưng họ đều đồng ý phải dựa Trung Quốc để giữ nguyên chế độ. Điều họ cần nhận định ra trước khi quá trễ là Trung Quốc không còn là chỗ dựa nữa. Trên thực tế họ đang dựa lưng vào môt bức tường bằng giấy.
- Điều thứ hai là đối với những người dân chủ Việt Nam. Nhân đại hội này tôi cũng muốn phát biểu một ý kiến. Cho đến ngày hôm nay có rất nhiều người tuy trong thâm tâm mong muốn một cách rất thành thực dân chủ cho Việt Nam, nhưng nghĩ rằng phong trào dân chủ không có lực lượng, không có tổ chức nên đàng nào dù muốn hay không chế độ này vẫn tiếp tục, cho nên phải thở dài mà thỏa hiệp với nó và hy vọng cải tổ được phần nào hay phần đó từ bên trong.
Nhưng ngày hôm này theo tôi suy nghĩ đó rất sai. Chế độ này đã phân hóa quá rồi. Nó đang sống những ngày cuối cùng và đằng nào cũng sụp đổ. Vậy thì vấn đề đối với những người dân chủ Việt Nam rất giản di: Một là chúng ta để cho đảng và chế độ này sụp đổ trong sự hỗn loạn nhường chỗ cho một khoảng trống chính trị; hai là chúng ta chuẩn bị một giải pháp chuyển hóa về dân chủ trong hòa bình, trong tinh thần anh anh em, trong tình đồng bào, trong tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc.
Như vậy chúng ta phải xây dựng lực lượng. Nếu chúng ta không có lực lượng thì chúng ta phải xây dựng ra lực lượng dân chủ đó vì đàng nào nó cũng cần. Chúng ta không thể dựa vào đảng cộng sản để cải tổ được nữa bởi vì đảng cộng sản đã tích lũy quá nhiều mâu thuẫn, nó đã suy nhược đến mức không thể phục hồi được. Nó đang sống những ngày cuối cùng và đàng nào nó không thể tồn tại.
Điều tôi tin tưởng vào lúc này là có rất nhiều triển vọng Đại hội XII sẽ là đại hội cuối cùng của đảng cộng sản như là một đảng cầm quyền. Sau đó một là nó không còn nữa. Hai là nếu nó còn thì nó cũng chỉ là một đảng bình thường như các chính đảng Việt Nam khác.
TQT: Xin cảm ơn ông Nguyễn Gia Kiểng


(ii) (Chuyện cuối Năm ta về nước Nga)Quế Anh (Pv/TTXVN tại LB Nga): Điều gì chờ đợi nền kinh tế Nga trong năm 2016 ?

Câu hỏi đặt ra hiện nay với nước Nga là những chính sách của chính phủ có đủ để vực dậy kinh tế gấu Nga và điều gì chờ đợi nền kinh tế này trong năm 2016.
Phát biểu tại Diễn đàn kinh tế thường niên Gaidar vừa qua ở Moskva, Thủ tướng Nga Dmitry Medvedev thừa nhận những thách thức đối với kinh tế Nga hiện nay là nghiêm trọng nhất trong suốt một thập kỷ qua. Tuy nhiên, ông khẳng định có thể giảm thiểu tác động từ bên ngoài ở mức độ nào đó nhờ kế hoạch chống khủng hoảng. Câu hỏi đặt ra hiện nay là những chính sách đó có đủ để vực dậy kinh tế Nga và điều gì chờ đợi nền kinh tế Nga trong năm 2016.
Cần lưu ý rằng, liên tục trong thời gian gần đây, các nhà kinh tế đã đưa ra những dự báo giá dầu sẽ giảm xuống mức còn 20USD/thùng. Là nước xuất khẩu dầu mỏ, nước Nga chắc chắn sẽ không mong muốn kịch bản này xảy ra.
Dầu mỏ đóng vai trò then chốt đối với nền kinh tế Nga, đất nước với gần một nửa doanh thu đến từ xuất khẩu năng lượng, nên chúng ta hoàn toàn có thể hiểu được tâm lý lo ngại, thậm chí là hoảng loạn tại Nga khi những ngày qua, cả đồng ruble và dầu mỏ đều rớt giá. Thậm chí có những thời điểm giá dầu xuống tới mức 27 USD/thùng, điều chưa từng có trong suốt 13 năm qua. Đây thực sự là một tin không mấy tốt lành đối với nền kinh tế Nga.
Trong khi đó, dự thảo ngân sách Nga năm 2016 được xây dựng trên cơ sở giá dầu được dự báo đứng ở mức 50USD/thùng và thực tế những ngày qua đang khiến cho giới chức và các chuyên gia kinh tế nước này phải suy nghĩ lại. Bộ trưởng Phát triển Kinh tế Nga Alexei Ulyukayev trong một cuộc trả lời phỏng vấn giới báo chí đã phải thừa nhận rằng : "Chúng tôi hiện đang chuẩn bị các phương án nếu giá dầu giảm đến 25USD/thùng".
Tuy nhiên theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, kịch bản sốc là giá dầu rớt xuống 20USD/thùng. Khi đó Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) năm 2016 của Nga sẽ giảm 6%, thâm hụt ngân sách tăng đến 8% GDP, tỷ giá đồng ruble giảm xuống mức 90 ruble tương đương 1 USD và lạm phát cả năm sẽ tăng đến 12%.
Điều đáng nói là nhiều chuyên gia kinh tế lo ngại kịch bản gây sốc này hoàn toàn có thể xảy ra. Thậm chí xác suất của nó khá cao, do sự mất cân bằng giữa cung và cầu, nhất là trong bối cảnh Iran cũng đang ráo riết chuẩn bị kế hoạch xuất khẩu dầu mỏ, sau một thời gian dài phải chịu lệnh cấm vận quốc tế.
Trong cuộc trả lời phỏng vấn một tờ báo Đức mới đây, Tổng thống Nga Putin thừa nhận các biện pháp trừng phạt của phương Tây đang ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế Nga. Theo ông thì những ảnh hưởng này trước hết "liên quan đến các khả năng của Nga trên thị trường tài chính quốc tế", điều đó đã và đang gây tổn hại nghiêm trọng đến Nga.
Tuy nhiên, nhà lãnh đạo Nga cho rằng, tổn hại lớn nhất hiện nay đối với Nga không đến từ những lệnh trừng phạt của phương Tây, mà bắt nguồn từ sự sụt giảm của giá dầu thế giới. Ông khẳng định, nước Nga đã phải chịu những mất mát lớn về doanh thu từ ngành năng lượng, trong khi đáng lẽ đây phải là nguồn thu chủ lực bù đắp phần nào cho những tổn thất ở các ngành kinh tế khác.
Về các lệnh trừng phạt của phương Tây, có thể thấy rõ người chịu thiệt hại không chỉ là một mình nước Nga, mà cả các quốc gia phương Tây cũng đều phải chịu chung tổn thất từ cuộc chiến trừng phạt này. Trên thực tế, khi Mỹ và các nước phương Tây phát động cuộc chiến trừng phạt Nga, liên quan việc nước này sáp nhập Crimea (Crưm), cũng như tình trạng rối ren ở Ukraine, mà phương Tây cáo buộc Nga là người liên đới chính, thì Nga cũng đã đáp trả bằng các biện pháp trừng phạt đối xứng.
Nếu như nền kinh tế Nga lao đao vì đòn trừng phạt của phương Tây, thì bản thân nhiều quốc gia Châu Âu cũng đang "ngấm đòn đau" từ chính các biện pháp trừng phạt mà họ áp đặt lên Nga, cũng như từ các đòn trả đũa của Moskva.
Kể từ năm 2014, đặc biệt là từ thời điểm cuối 2014 đến nay, nền kinh tế Nga trải qua bao nốt trầm. Từ việc giá dầu mỏ liên tục phá đáy mới, đồng nội tệ ngày càng mất giá, khiến cho đời sống của chính người dân Nga lâm vào khó khăn, nhiều nhu cầu, nhiều khoản chi tiêu buộc phải cắt giảm.
Tuy vậy, dù bức tranh kinh tế Nga hiện chủ đạo là những mảng màu u ám, giới chức Nga tin rằng chính những khó khăn hiện nay là động thực thúc đẩy Moskva cải cách các chính sách và cấu trúc nền kinh tế. Và nếu triển khai được những chính sách hợp lý, nước Nga có thể vượt qua được những khó khăn kinh tế hiện tại và trụ vững trong năm 2016, được dự báo sẽ còn nhiều biến động.


*** Hùng Tâm (Người Việt): Vì sao Liên bang Nga hốt hoảng?

"Sự sợ hãi của ngươi mới làm ta hãi sợ...".

Về bối cảnh thì trả lời phỏng vấn của Moskovsky Komsomoltes, hôm Thứ Ba 26, ông Nikolai Patrushev cho rằng, “Hoa Kỳ đang có ý đồ làm suy yếu Liên Bang Nga để lấy nguồn tài nguyên thiên nhiên của nước Nga,” và rằng “Hoa Kỳ không loại bỏ kich bản Liên Bang Nga sẽ tan rã.”
Từ một bình luận gia hè phố thì nhận xét ấy quả là không đáng kể. Nhưng Patrushev đang là bí thư (tổng thư ký) của Hội Đồng An Ninh, cố vấn thân tín của Tổng Thống Vladimir Putin sau khi cầm đầu hệ thống tình báo liên bang Federal Security Service (FSB) của Nga! Quan điểm của một nhân vật có ảnh hưởng trong ban Tham mưu của Putin có trọng lượng khác hẳn và đáng để chúng ta theo dõi. Lãnh đạo Nga thực tin như vậy, hay muốn quần chúng Nga tin như vậy? Mà tại sao?
Hồ sơ Người Việt sẽ tìm hiểu chuyện ấy mà liên tưởng đến... Trung Quốc!
Sự hợp lý của nỗi sợ hãi
Nhìn vào quan điểm của một người có thế lực, chúng ta có thể - và nên - nêu ra vài giả thuyết về nguyên nhân. Nhận xét này của ông Patrushev là thực lòng? Hay chỉ là tìm cách giải thích những khó khăn hiện nay của nước Nga cho quần chúng và gán tội cho Hoa Kỳ? Mà Hoa Kỳ có tính toán như vậy không?
Quả thật là kinh tế Liên Bang Nga đang kiệt quệ, lương bổng và lợi tức của người dân suy sụp cùng trị giá của đồng Rúp - tuột đến mức kỷ lục - nên việc Moscow giải trình nguyên nhân là một ý đồ của Mỹ có sự hợp lý, ít ra về chính trị. Mục tiêu không chỉ là đổ lỗi cho Hoa Kỳ, mà là trình bày sự thể dưới một ánh sáng khác: Liên Bang Nga đang là nạn nhân của một kế hoạch thâm độc của ngoại bang và Chính Quyền Putin hay Điện Kremlin là thế lực sau cùng đang cố bảo vệ quyền lợi của nước Nga. Kết luận là mọi người Nga yêu nước phải sát cánh đứng sau chế độ Putin. Thủ đoạn chính trị này không là điều mới lạ. Nhưng sự thật có khi còn trầm trọng hơn vậy. Chúng ta cần hiểu ra cái đầu hay tâm trí của lãnh đạo Nga.
Mươi năm trước, Vladimir Putin nhận định rằng sự sụp đổ của Liên Bang Xô Viết là một thảm họa của thế kỷ 20. Đấy là cách suy luận của ông ta, và có lẽ của nhiều người Nga. Cũng Putin đã lên tiếng ca tụng Josef Stalin - không vì những lý do như chúng ta có thể hiểu. Theo Putin, Stalin đã đánh giá sai dự tính của Hitler khi ký Hòa ước với Đức Quốc Xã vào năm 1939, rốt cuộc lại bị Đức tấn công vào năm 1941. Nhưng sau khi đã lầm, Stalin khai thác vụ Đức tấn công thành lợi thế chính trị để xây dựng sự đoàn kết của nhà nước Liên Xô với quần chúng, dưới sự lãnh đạo của ông ta. Việc người dân có phê phán sai lầm 1939-1941 của Stalin hay không lại hết tầm quan trọng trước các sư đoàn Đức Quốc Xã. Tổ quốc đang lâm nguy và Hồng Quân Liên Xô dưới sự lãnh đạo của đồng chí Stalin là hàng rào bảo vệ sau cùng. Nghĩa là Putin chậm rãi khôi phục lại giá trị của Stalin. Ngày nay, Ban tham mưu của ông cùng dùng lý luận ấy khi chĩa mũi dùi vào Hoa Kỳ. Nhưng chúng ta còn phải đi xa hơn vậy.


Sự thật bên trong hậu trường
Nếu suy ngẫm thêm, chúng ta nên thấy ra hai vấn đề khác biệt: 1/ Kinh tế Liên Bang Nga đang trôi vào khủng hoảng; 2/ Điện Kremlin đang gỡ nguy bằng những lập luận hơi lạ, phi lý mà cũng có vẻ hợp lý.
Nhưng thế nào là phi lý mà hợp lý?
Thứ nhất, nói về ý đồ của Hoa Kỳ nhằm thôn tính tài nguyên của Liên Bang Nga là phi lý. Nước Mỹ có quá nhiều tài nguyên thiên nhiên, và nếu thiếu thì đã có thể tìm ra ngay tại lục địa Nam-Bắc Mỹ (Tân Bán Cầu), thí dụ như dầu khí của Canada và Mexico. Nước Mỹ còn có loại tài nguyên giá trị nhất là khả năng sáng tạo rất linh động. Thí dụ như kỹ thuật khai thác đá phiến thành dầu để mau chóng dẫn đầu thế giới về sản lượng.
Kịch bản “ý đồ thâm độc của Mỹ đế” là chuyện phi lý. Trong quá khứ, quả tình là Đức hay Nhật đã từng mơ ước khai tác tài nguyên thiên nhiên trong lãnh thổ của Nga, nhưng chưa tiến đến giai đoạn đau đầu là chiếm đoạt, biến chế rồi chuyên chở lượng tài nguyên ấy về nước. Hoa Kỳ thì chưa khi nào tính như vậy vì có giải pháp rẻ hơn ở nhà hay ở nơi khác.
Chuyện kia là Hoa Kỳ mong ước Liên bang Nga bị sụp đổ cũng vậy. Khi Liên Xô tan rã rồi sụp đổ, Âu Châu đã hứng nhiều mảnh vụn và Liên Bang Nga kế thừa phần còn lại, trong một tình trạng tương đối ổn định và đấy là một ưu điểm chiến lược của Chính quyền George W. H. Bush khi thảo luận và chuẩn bị với Chủ Tịch Mikhael Gorbachev. Ngày nay, nếu Liên Bang Nga rã thành từng mảng thì chuyện gì xảy ra, và những ai có lợi? Lãnh thổ Nga tiếp cận với các nước Bắc Âu, Tây Âu, Thổ Nhĩ Kỳ, vài nước Trung Á và Trung Quốc. Ngoại trừ Trung Quốc may ra có lợi khi nhận một mảnh vỡ của Nga, chứ các nước kia thì không.
Và chắc chắn là Hoa Kỳ sẽ chẳng xơ múi gì, có khi còn phải đi chữa lửa! Huống hồ, Liên Bang Nga còn có một khi vũ khí hạch tâm và cả vạn hỏa tiễn dài ngắn lớn nhỏ. Với kịch bản là cố tình làm cho nước Nga tan rã thì Mỹ sẽ gặp ác mộng khủng bố có vũ khí chiến lược tung hoành từ Trung Á tới Âu Châu và cả Hoa Kỳ!
Vấn đề thật ở đây - ngoài mọi tính toán của Hoa Kỳ - là Liên bang Nga có thể tự tan rã. Và Putin cùng giới chức hữu trách về an ninh đều biết như vậy!
Chúng ta đi xa hơn nữa khi nhìn vào bài toán kinh tế. Đã chứng kiến sự sụp đổ của Liên Xô rồi sự suy yếu của Liên Bang Nga dưới triều đại Boris Yeltsin, khi lên lãnh đạo 15 năm về trước, Putin muốn cải thiện tình hình và được lợi thế là dầu thô từ 26 đô la một thùng đã trong tám năm vọt giá lên quá 100 đô la. Nhờ vậy, Putin củng cố được nội bộ với ngân sách và dự trữ tương đối sung túc hơn, và còn có thể chinh phục lại những mảng đã mất của Liên Xô, là Georgia 2008 và Ukraine 2014. Nhưng nỗi khó khăn của ông là không thể cải cách và đa dạng hóa kinh tế, khiến cho kho lẫm đều tùy thuộc vào năng lượng, và vào các trung tâm quyền lợi lẫn quyền lực là các tổng công ty quốc doanh.
Khi dầu thô sụt giá, kinh tế sa sút, các trung tâm này bị thiệt hại trong khi ngân sách liên bang hết tiền mua chuộc sự trung thành của các địa phương. Sự rạn nứt và tan rã xuất phát từ đó.
Chính quyền Putin đành bám vào những lập luận phi lý để biện minh, giải thích. Nhưng nỗi sợ hãi ấy của họ mới là điều đáng sợ. Thế giới không thể đoán trước được phản ứng của một kẻ cùng đường, có máu lạnh và có vũ khí tàn sát! Vì vậy, lời phát biểu của ông Nikolai Patrushev mới có trọng lượng ghê người!
Hoa Kỳ sẽ làm gì?
Đã phải trình bày đến đây thì cố đi xa hơn một chút - cho tới mé vực .
Hoa Kỳ không muốn mà dù có muốn thì cũng chẳng thể đưa quân vào Liên Bang Nga để bảo vệ trật tự, gìn giữ ổn định và nhất là kiểm soát được các kho võ khí chiến lược khi Điện Kremlin nghiêng đổ. Các trung tâm nghiên cứu hay Ngũ Giác Đài cùng hệ thống tình báo Mỹ có thể theo dõi, phân tách và dự đoán kịch bản tan rã, nhưng không hề và cũng chẳng thể đề nghị giới lãnh đạo chuẩn bị can thiệp, như Putin hay Patruschev đang ám chỉ.
Cùng lắm, và đây là giải pháp “khả thể,” Hoa Kỳ chỉ có khả năng yểm trợ hoặc can thiệp vào các nước ở vòng ngoại vi của Liên Bang Nga, như ba nước Cộng Hòa Baltic hay Belarus và nhất là Ukraine. Đấy là nhu cầu có mặt tại vùng trái độn để chặn trước những miểng vụn có thể sẽ tung tóe trong những năm tới.
Mà càng chuẩn bị trước như vậy lại càng chứng minh rằng Putin có lý! Đầu năm 2016, chúng ta đang gặp một kịch bản lạ thường và cực kỳ nguy hiểm.
Kết luận ở đây là gì?
- Rất khó suy luận với những người mắc bệnh tự kỷ ám thị mà cầm súng.
- Lãnh đạo Trung Quốc cũng suy nghĩ chẳng khác gì Kremlin.

(iii) (Chuyện cuối Năm ta về Việt Nam)
Trần Kỳ Trung: Suy nghĩ của một người dân về thành công đại hội Đảng

Đại hội đảng lần thứ 12, sau ngày 28/1 trên báo chí, đài, ti vi… do nhà nước quản lý, ban tuyên giáo chỉ đạo sau những bài xã luận, bình luận, rồi lại một điệp khúc “Thành công tốt đẹp”. Với tôi, một người dân, có suy nghĩ: Nếu nói đại hội “thành công” mà người dân theo dõi đại hội, chỉ thấy đại hội gần như dành hai phần ba thời gian để bầu ra một Ban chấp hành trung ương, một Bộ chính trị mới???
Không lẽ “thành công” chỉ có một việc đó sao!
Người dân như tôi, muốn nói, sau đại hội, người dân tin rằng đảng sẽ có những quyết sách đúng đắn, dẫn dắt đất nước Việt Nam này về tương lai tươi sáng, một đất nước Việt Nam văn minh, dân chủ, quyền con người được tôn trọng thực sự. Vị thế của đất nước Việt Nam, con người Việt Nam được các nước, các nền văn hóa trên thế giới nể trọng.
Ai cũng mong, sau đại hội đảng lần thứ 12, đất nước Việt Nam sẽ chuyển mình, trước hết trong nội bộ đảng, các ông lãnh đạo hãy thể hiện sự đoàn kết, không vì lợi ích phe nhóm, có bản lĩnh chính trị vững vàng, một lòng một dạ vì nhân dân, vì dân tộc. Thật buồn ở nước ta, những vị trí lãnh đạo của đảng, nhà nước không do nhân dân bầu ra mà do trong đảng, cụ thể ở đây là quyết định của Bộ chính trị và Trung ương đảng. Dù điều đó không đúng với mong muốn của người dân nhưng chúng tôi buộc phải chấp nhận.
Trong cơ chế theo quy định của Hiếp pháp do các ông thảo ra, có cho thành lập đảng đối lập đâu, nên bây giờ chúng tôi biết trông mong vào ai? Chỉ duy nhất có đảng cộng sản, đảng cộng sản của các ông nắm quyền đất nước này suốt mấy chục năm, nhà nước, quốc hội, các hội đoàn trong mặt trận… cũng của các ông. Các ông xây dựng được một lực lượng quân đội, công an lớn mạnh, không một thế lực nào trong nước, kể cả những thế lực ở nước ngoài mà các ông gọi là “phản động” có thể địch lại được.
Các ông giữ được đoàn kết, vì dân tộc, vì quyền lợi đất nước thì sức mạnh của đảng cộng sản tăng lên, quyền lãnh đạo được giữ vững, không ai có thể phá hoại, giành quyền lãnh đạo đó. Ngược lại nếu nội bộ lãnh đạo trong trung ương đảng cộng sản không đoàn kết, vì lợi ích phe nhóm cấu kết với nhau, dựa vào những thế lực lớn nước ngoài phản động như nhà cầm quyền Trung Quốc hiện nay để triệt hạ lẫn nhau…chính các ông tự hủy hoại thanh danh, tự mình làm yếu sức mạnh của chính mình, dẫn đến mất sự chính danh lãnh đạo, kinh tế suy đồi, xã hội hỗn loạn. Lúc đó, không còn con đường nào khác nhân dân sẽ tự phát nổi dậy, máu lại đổ.
Là người dân trải qua những cuộc chiến tranh, chúng tôi không bao giờ muốn điều đó ở trên đất nước mình, và tôi tin, nếu các ông còn tâm trí bình tĩnh, sáng suốt đi theo con đường dân tộc, cũng không muốn đất nước ta đi vào con đường đó.
Sau đại hội, nghĩa là mọi việc an bài, bình tâm, hết chuyện phải nhìn trước, ngó sau, cũng không phải tính toàn từng đường đi, nước bước để giành quyền lãnh đạo, tôi mong lãnh đạo trong trung ương đảng cộng sản, các ông ngồi lại, hãy nhìn những việc làm được và chưa được để có những việc hợp lòng dân. Rõ nhất, một người dân như tôi, không bao giờ tin rằng, nhà cầm quyền Trung Quốc lại có thể là một “láng giềng tốt” với người dân, với đất nước Việt Nam. Hàng ngày, hàng giờ họ vẫn nuôi tham vọng thôn tính bằng được Việt Nam.
Người dân nhìn thấy, các ông lãnh đảng cộng sản Việt Nam chắc thấy rõ hơn người dân: Bất chấp luật pháp quốc tế, bất chấp sự phản ứng quyết liệt của người dân Việt Nam, trên đất liền nhà cầm quyền Trung Quốc cho quân lấn đất. Ngoài biển họ vẫn đưa người, khí tài đến xây dựng các sân bay, xây dựng căn cứ quân sự trên các đảo thuộc chủ quyền của nhà nước Việt Nam. Họ còn cho người giả danh kỹ sư, công nhân, người du lịch… trà trộn vào cộng đồng người Việt, để làm nội ứng khi đất nước ta có biến. Kinh tế nước ta, họ không từ một thủ đoạn nào để làm suy yếu từ in tiền giả, phá giá, hàng giả, trộn chất độc vào thực phẩm đầu độc người ăn… Một nhà cầm quyền ác độc như thế, không lẽ gọi đó là bạn “tốt”!!!
Với ban lãnh đạo đảng khóa mới phải có đối sách đúng, nhất là dựa vào ý nguyện của người dân, vào dư luận quốc tế tiến bộ. Coi vận mệnh sống còn của dân tộc lớn hơn vận mệnh đảng để đề ra một đường lối đúng đoàn kết trong dân, đoàn kết trong đảng, thu phục sự ủng hộ quốc tế, giữ vững toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, chặn đứng được âm mưu bành trướng xâm lược của nhà cầm quyền Trung Quốc.
Sau đại hội đảng, ban lãnh đạo đảng, cụ thể ở đây là trung ương đảng và BCT phải có một đường lối mới, không mắc vào sai lầm của đường lối cũ. Nếu như ban chấp hành trung ương cũng như Bộ chính trị của khóa này “khai tâm” thực sự cao thượng, khoan dung, độ lượng, biết lắng nghe cùng ngồi lại với những nhà tri thức chân chính, những tướng lĩnh về hưu còn nặng lòng với vận mệnh dân tộc để tìm con đường sáng cho dân tộc. Dũng cảm từ bỏ những học thuyết Mác – Lê Nin lỗi thời mà không còn mấy nước trên thế giới trọng dụng, thả tự do cho tất cả những tù nhân, chỉ vì bất đồng chính kiến, mà phải vào tù. Đây thực sự là những người yêu nước chân chính, trong những người đó, có rất nhiều nhà tri thức thông minh, có bản lĩnh mà những nhà lãnh đạo đảng cộng sản có thể bắt tay cùng vạch ra đường lối để đưa đất nước Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, thoát khỏi sự trì trệ trong quản lý cũng như chính sách.
Được như thế, nhân dân, nhất là tầng lớp yêu nước, trí thức chân chính rất vui mừng.
Sau đại hội đảng, với ban chấp hành trung ương và bộ chính trị mới, có nhiều nhà lãnh đạo trong trung ương cũng như bộ chính trị của khóa trước còn trụ lại. Tôi cho rằng, điều này cũng là điều may, và biết đâu, chính những ông, bà này sẽ có ý thức thay đổi phương thức lãnh đạo, hợp với yêu cầu thời đại, hợp với đòi hỏi chính đáng của người dân. Là bởi, khóa trước ban lãnh đạo trung ương cũng như bộ chính trị không có biện pháp “chữa trị dứt điểm” để nạn tham nhũng phát triển vô hạn độ, nạn phe cánh, nhóm lợi ích bộc lộ rõ rệt gây nên sự mất đoàn kết trong nội bộ đảng, điều này diễn ra ngày càng nặng đẩy sự điều hành kinh tế, quản lý đất nước vào chỗ khó khăn, không thống nhất, mạnh ai, nấy làm.
Tôi nghĩ rằng, các ông, các bà trong ban chấp hành trung ương cũng như Bộ chính trị khóa mới, từng ở khóa cũ, phải nhận ra vấn đề này, không lặp lại vết xe đổ đó. Chỉ có như thế mới tạo ra uy tín của mình, mới chứng tỏ sự lựa chọn của các đại biểu đi dự đại hội đảng lần thứ 12 cho các ông, các bà vào trung ương cũng như bộ chính trị là đúng đắn.
Cũng mong sau đại hội đảng lần này đảng và nhà nước Việt Nam có những chính sách cụ thể thông thoáng, không nghi kị, đại lượng, chân tình… tập hợp được sự ủng hộ của người Việt Nam đủ mọi thành phần, đủ mọi tầng lớp trong và ngoài nước cùng chung tay xây dựng một nước Việt Nam mới trong đoàn kết, yêu thương. Hãy rộng lòng với bà con người Việt ở hải ngoại không gợi lại hận thù, phân biệt.
Nếu nói thành công đại hội đảng, tôi tin, không phải do hơn năm nghìn bộ đội, công an cùng khí tài quân sự hiện đại bảo vệ nên được an toàn tuyệt đối. Cũng không phải thành công do hơn một nghìn đại biểu bỏ phiếu thống nhất chọn ra những người vào BCH Trung ương, BCT theo đúng dự kiến. Đại hội thành công lại càng không phải rất ít có ý kiến phản biện, mà thống nhất cao… Sự thành công đó, nếu nhắc đến chỉ là sự nhất thời, bó hẹp trong một đại hội do có sự sắp đặt trước, không thực chất.
Sau đại hội đảng, nếu lòng tin của dân vào đảng được tăng lên do đảng gần dân, nghe dân và làm theo những điều dân muốn, là bầu ra được những người lãnh đạo có uy tín đủ tâm, đủ tầm được toàn dân ủng hộ lãnh đạo đất nước, là đề ra được chiến lược bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, đưa đất nước tiến đến nền văn minh, dân chủ được thế giới công nhận. Đó mới là thành công đúng nghĩa của hai từ này.


*** Ts Nguyễn Văn Tuấn: Bộ Chính Trị khóa 12 có gì mới?

Tôi lại sắp làm phiền một số bạn khi trả lời câu hỏi trên, vì sẽ có một câu trả lời … nhạy cảm. Thật tình, dù không muốn bị tẩy não, nhưng vẫn khó mà tránh được những bàn luận chung quanh những kết cục của đại hội XII của đảng CSVN. Một trong những kết cục đó là thành phần trong Bộ chính trị. Khi so sánh với BCT XI, tôi thấy BCT XII có hai cái mới liên quan đến phân bố vùng miền và trình độ học vấn.
BCT Khoá XII có 19 người, tăng 3 người so với BCT Khoá XI. Nhưng điểm đáng chú ý là nhìn vào danh sách thấy rất nhiều người miền Bắc. Thật vậy, trong số 19 người thì có đến 14 người (tức gần 3/4) là từ miền ngoài. Trong khi đó, BCT XI, có 9/16 (hay 56%) là người miền Bắc. Nói cách khác, tỉ lệ uỷ viên BCT XII từ miền Bắc tăng 31% so với BCT XI. Thật ra, sự phân bố trên cũng khá phù hợp với thực tế là 70% đảng viên là người miền Bắc (1).
Một dữ liệu khác cũng thú vị không kém là trình độ học vấn. Năm nay, BCT XII có đến 10 người (tức hơn phân nửa) có bằng tiến sĩ. Nhưng BCT XI chỉ có 7/16 là tiến sĩ. Như vậy, tỉ lệ uỷ viên tiến sĩ tăng 20%. Sẽ rất thú vị nếu có được con số uỷ viên TƯ đảng có bằng tiến sĩ, nhưng chưa biết con số này sẽ lấy từ đâu.
Càng ngạc nhiên hơn khi biết rằng ngay cả BCT bên Tàu, nơi mà VN bắt chước, cũng có ít tiến sĩ hơn VN. Trong số 25 người trong BCT Tàu, chỉ có 5 người có bằng tiến sĩ (2).
Chẳng những số tiến sĩ áp đảo, mà con số giáo sư và phó giáo sư trong BCT XII cũng rất đáng nể. Có đến 6 người mang hàm GS/PGS: Trần Đại Quang, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Thiện Nhân, Phạm Minh Chính, Vương Đình Huệ, và Tô Lâm. Chưa thấy nơi nào mà giới cầm quyền tối cao lại có nhiều người mang hàm giáo sư như ở VN.
Nếu người nước ngoài nhìn vào danh sách uỷ viên BCT và biết được trình độ học vấn của họ thì sẽ rất nể phục VN. Nếu nghĩ rằng trình độ học vấn có tương quan với phát triển kinh tế, thì có thể họ sẽ suy luận rằng VN là nước rất phát triển. Nhưng trong thực tế, VN là một nước nghèo và hay “ăn xin”. Ăn xin nhiều đến nỗi giới ngoại giao nước ngoài hỏi chừng nào VN hết ăn xin (3). Thật ra, (nói vui một chút), ở VN có một sự tương quan cao giữa số quan chức có bằng tiến sĩ và vay/xin ODA: theo thời gian, con số tiến sĩ càng nhiều thì số tiền vay/xin ODA càng cao!
Nói tóm lại, BCT XII năm nay có đến 3/4 là người miền Bắc; và hơn phân nửa có bằng tiến sĩ, và trong số đó có 6 người mang hàm giáo sư. Tôi nghĩ dù muốn hay không thì cũng phải đặt vấn đề phân bố vùng miền ở nước ta, vì chính người cao nhất trong đảng từng nói một câu mang tính phân biệt vùng miền. Chúng ta phải tìm hiểu tại sao ông ấy nói như thế. Không nên giấu giếm khi vấn đề đó nó tồn tại và có ảnh hưởng đến suy nghĩ của người dân. Người dân hỏi tại sao một cộng đồng đóng góp quá nhiều cho nền kinh tế quốc dân, nhưng cộng đồng đó lại thiếu sự đại diện tương ứng trong đảng và trong các cơ quan công quyền. (Source: FB NguyenVanTuan)
(1) Việt Nam vẫn còn chia cách: vết thương chậm hồi phục, ít có triển vọng cho con cái của đồng minh Mỹ (Bloomberg/ BS).
(2) Bằng cấp của các bộ trưởng Việt Nam, China, Mĩ, và Úc (Nguyễn Văn Tuấn).
(3) Theo ông Lê Đăng Doanh thuật lại trong một buổi báo cáo cho trung ương đảng với cách nói thẳng và không màu mè: “[…] Tôi xin báo cáo rất chân thành với các anh là ra đấy chỉ khổ tâm thôi. Nhiều thằng nó nói với tôi là chúng mày định ngửa tay đi ăn xin đến bao giờ nữa? Chúng mày là người thông minh, có học, về mặt nào đấy chúng mày không kém gì chúng tao cả… Tại sao chúng mày cứ ăn xin miết thế. Chúng mày giỏi thế mà chúng mày nghèo lâu đến như thế là thế nào? Chúng mày cứ đề ra cái mục tiêu là đến bao giờ chúng mày đừng có đi ăn xin nữa được không? Nó nói với tôi trắng trợn và thẳng lắm chứ, y nguyên như tôi nói với các anh chị.”


(2) Thơ Luân Hoán:

HẠNH PHÚC QUANH TA

(tặng họa sĩ Lê Ký Thương),

bác phu xe này trông quen quen
dáng vẻ như là một nhà văn
nhìn lui ngó tới là thi sĩ
ủa lạ, phải là họa sĩ... chăng ?
điếu thuốc trên tay khói bốc hơi
bay lên nựng nhẹ vành nón cời
hình như trên nón bài thơ mới
và nét vẽ lên cả cuộc đời
trông bác hiền khô mỉm mỉm cười
hương thừa trí thức chắn con ngươi
mũi cao má thẳng còn ngon lắm
đủ để yêu chơi vài ba người
áo diện theo quần màu quê hương
sáng tươi không bợn chút phiền buồn
cần lao không hẳn là vất vả
lòng biết yêu đời chơi tới luôn
sạch sẽ cặp chân diện sandal
toàn bộ gió ngoài thật ngon lành
cái xe cũng bảnh như ông chủ
chuẩn bị khai chân cuộc viễn hành
thú thật tôi ngờ bác phu xe
giỡn chơi cho giống sắp hành nghề
mượn xe ai đó mà chụp ảnh
một cách vẽ tranh cũng rất phê
cuộc sống buồn vui vạn cảnh tình
người người chen chúc cùng mưu sinh
ước chi tất cả đều hạnh phúc
như bác phu xe ở trong hình !
(10.22 AM- 05.01.2016)

GIỌNG GÁY QUÊ HƯƠNG

cu cườm cu đất cũng là cu
giọng gáy trầm buồn tự thiên thu
không hiểu từ đâu âm thanh ấy
u uẩn man man lời mẹ ru
giọng gáy như là tiếng quê hương
tình trời tình đất đẫm nhớ thương
bổng trầm vang vọng niềm thao thức
gói ghém điệu ngân của ruộng vườn
cõi tạm bơ vơ rước chim về
mong rằng nghe gáy đỡ nhớ quê
ngờ đâu giọng thổ buồn như khóc
bấm bụng cho đi nỗi não nề
chia biệt chim liền mười bốn năm
bây giờ mới có dịp nhìn thăm
qua hình ảnh chụp đưa lên mạng
chim vẫn giữ nguyên dáng triết nhân
mười chín tuổi rồi có ít đâu
con chim chân chất chẳng ưu sầu
riêng ta thao thức linh tinh chuyện
buồn thật vu vơ chẳng đuôi đầu
(8.53 PM-04.01.2016)

NHỚ VỀ MỘT CHỖ SỐNG LÂU NĂM

chỗ ở tôi xưa, nay chuyển mình
"phồn hoa giả tạo" hết lung linh
dán bùa độc đảng: phồn hoa thật
ít nhất hiện trên những tấm hình
Đà Nẵng tôi xưa giờ thế này
nhà cao đường rộng đêm như ngày
đèn soi thay nắng, đời đang sáng
góc tối mơ hồ đọng lá cây
phố xá thênh thang lóe mặt hàng
tây tàu giày dép nối như đan
tiếng Anh tiếng Pháp chen môi hót
làm nhẹ nhàng dần giọng Quảng Nam
đã hết du côn vắng ăn mày
may ra còn được một vài tay
đại gia phương bắc vào lập nghiệp
cộng tác cùng đôi mống cướp ngày
thành phố vùng lên mở mang cầu
một dòng sông ngắn chợt chen nhau
cầu quay khép mở theo tàu chạy
cầu lửa phun chơi dưới dạng rồng
nghe nói không lâu dưới đáy sông
métro rộng sẽ lưu thông
quận 3 giờ đã là thành phố
đại lộ thênh thang Phạm Văn Đồng
người ký văn thư nhượng chủ quyền
phố tàu nương bóng đã làm duyên
quán ăn tụ điểm ăn chơi lớn
lập sẵn pháo đài, chuyện dĩ nhiên
xin sửa sớm cho mặt lề đường
phẳng bằng sẽ tạo nét dễ thương
người tàu tiếp quản không lo vấp
giữ sức bành thêm về Nam phương
Đà Nẵng vang danh nhất nước rồi
sao tôi lạc hậu thấy không vui
hóa ra thật sự tôi mất gốc
thỉnh thoảng xì ra nỗi ngậm ngùi
(10.32 AM-04.01-2016)


.........................................................................................................................

Kính,

NNS