Wednesday, August 31, 2016

PHAN THANH TÂM * VẾT THƯƠNG LÒNG

Vết thương lòng của một thế hệ

Phan Thanh Tâm (Danlambao) -  Tuyển tập Thơ Lính Chiến Miền Nam (ARVN Soldiers Poetry) tập hợp 125 bài thơ của hơn 50 tác giả là tuyển tập có nhiều hình ảnh sống động của thuở tao loạn trước 1975, được vẽ lên bằng chữ về người đi đánh trận với balô, nón sắt, súng dài, súng ngắn, bản đồ, địa bàn; ở một tiền đồn xa xôi, hay trong một cuộc hành quân trên kinh rạch vào một đêm đen kịt, hoặc đang nằm kích ở một khu rừng vào một buổi chiều tà lúc trăng vừa ló lên ở bên kia đồi. Tuyển tập còn vang vang tiếng bom, tiếng đạn, tiếng ca, tiếng khóc, tiếng gió, tiếng lá khô xào xạc, cùng tiếng chửi thề và cả tiếng sóng trong lòng của những người trong cuộc; và dường như có phảng phất cả mùi tử khí của nhiều xác chết đủ kiểu.

Hầu hết các bài thơ đều có âm điệu và màu sắc đáng nhớ vọng lên nỗi niềm của người chiến binh. Các bài thơ chẳng những đã thể hiện những chấn thương trong tâm hồn của tác giả; mà còn ghi dấu một địa danh, một nẻo đường nào đó trên khắp bốn vùng chiến thuật. Tuyển tập “đầy chất lính trận”. Người sưu tập và chuyển ngữ tuyển tập là cựu sinh viên sĩ quan khóa 3/73 Trường Bộ Binh Thủ Đức Nguyễn Hữu Thời (NHT), sinh năm 1953, hiện sống ở Sài Gòn. Trong lời giới thiệu, tác giả cho biết, các bài thơ này là của lính tác chiến thứ thiệt. Một số đã chết trận, nhiều người mất đi một phần thân thể; sau chiến tranh họ phải ở tù, bị hành hạ, bị giết hại. Một số khác, may mắn hơn thì lưu lạc xứ người trong lứa tuổi về chiều. 

Tôi không phải là người sính thơ nhưng khi đọc tuyển tập tôi thấy nó hay vì nó chân thật. Trong những câu thơ bàng bạc nỗi "thống hận" không đối với địch quân mà chỉ đối với chiến tranh và vận rủi của đất nước. Đúng như tác giả NHT nhận xét, chữ nghĩa trong thơ không cường điệu, không làm dáng. Họ không nói thánh, nói tướng mà đầy vẻ hào hiệp. Họ ngang tàng mà không ngang ngược, phách lối; không bi thảm hóa hoàn cảnh sống và chết của mình và đồng đội. Hồn thơ toát ra một phong cách khai phóng và còn cho thấy họ đã sống trong một không khí tự do, cởi mở. Câu thơ rất đơn giản, khi thì mạnh mẽ, cứng cỏi; khi thì đầy tình cảm, đầy những ham muốn rất người.

Ôi năm năm dài ta tới lui cuồng nhiệt
Ta được ngủ bờ ngủ bụi giữa sình lầy
Ta được chuyện trò cùng muỗi mòng đĩa vắt
Ta được ăn gạo hẩm cơm thiu
Ta được uống nước đìa un rửa
Ta được trực thăng vận kích đêm
Ta được thủ dâm từng đêm ham muốn
Ta được ngửi xác thối máu tanh
Ta được nhớ em tận cùng nổi nhớ
Hà Nghiêu Bích (Thơ Viết Từ Một KBC)

Tôi cũng có nhận xét như tác giả tuyển tập NHT là những dòng thơ sẽ “cho ta cảm thấy dường như những người lính này đã linh cảm - mặc dù đã nhập cuộc, đã góp phần vào công cuộc chung nhằm giúp mau kết thúc thời kỳ đen tối - niềm mơ ước chung của họ về một quê hương thanh bình, tươi sáng... có lẽ rồi cũng sẽ không thành! Họ không chủ bại nhưng quả thật khá bi quan. Nó như một dự cảm cho thân phận của họ, của đất nước”. Tuy vậy, không thấy có dòng thơ nào nói lên lòng căm thù người lính bên kia chiến tuyến “Chúng ta đều bình đẳng trước thương đau” (Ý Yên). Dù rằng họ phải “xếp bút, treo nghiên, bỏ mái trường”(Phạm Quang Ngọc) để “Rừng thưa dạt gió Hạ Lào; đêm nằm phục kích nhìn sao nhớ nhà”. (Trần Vạn Giả) 

Tác giả các bài thơ gốc gác từ đâu và là ai? Theo lời giới thiệu trong tuyển tập, họ đã đáp lời sông núi, “đi chiến đấu để đổ máu và chết”. Họ có thể là một sinh viên đã tốt nghiệp đại học hay dở dang đại học, một thầy giáo, một kỹ sư hay một giáo sư khoa bảng, một học sinh vừa xong trung học... "Dù độc thân hay đã lập gia đình, họ đều rất trẻ, đang tuổi thanh xuân với nhiều mộng tưởng". Họ cùng được đào tạo ở Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức hay Trường Bộ Binh hoặc trường Ha Sĩ Quan Đồng Đế. Họ chỉ mơ ước thanh bình, để có thể trở về và sống lại lối sống của họ. Nhập ngũ, họ không phải lính thành phố. Họ đều có những trải nghiệm phong phú và tàn bạo vì hoàn cảnh sống chết của họ quá đạc biệt. 

Hãy ngủ ngon đừng kinh hoàng nghe con
Dù đêm nay thật nhiều súng nổ
Hãy ngủ ngon đừng đợi chờ nghe em
Dù đêm nay anh đi ra trận
Dù đêm nay anh đi không về.
Tô Nhược Châu (Lời Cho Vợ Con Trước Giờ Hành Quân)

Vẫn theo lời của tác giả tuyển tập NHT, nếu không được hấp thụ một nền giáo dục đề cao nhân bản, họ khó lòng viết ra được những dòng thơ của đời lính trận hay như vầy. Tác giả NHT cho biết tuyển tập không gom đủ thơ chiến đấu của những tác giả nổi tiếng hoặc vô danh trong quân đồi miền Nam. Đây chỉ là một sưu tầm nhỏ của một độc giả bình thường, một người lính đọc thơ của lính. Sự chọn lựa những tác giả đưa vào tập thơ hoàn toàn chủ quan và không chuyên nghiệp; nhiều nhà thơ quân đội nổi tiếng ở miền Nam đã không có mặt. Lý do? Người sưu tầm không có cơ hội đọc thơ của các vị đó hoặc có khi chỉ vì vài tác giả nào đó, dù là quân nhân, nhưng không phải lính chiến, nên những bài thơ của họ không được đưa vào.

Mưa đổ quanh mặt trận đầy thây người chết 
Xác vắt trên kẽm gai, xác vắt cạnh hào
Xác cúi khom khô cứng, xác gầy như bệnh
Mưa trên xác chết trời chẳng chút nghẹn ngào
Có mẹ già bỏ nhà chạy mang cháu nhỏ
Những đoàn người ngơ ngác chạy trốn chiến tranh
Đạn vẫn rơi và thêm nhiều người ngã xuống
Còn nỗi chết nào hơn nỗi chết quanh đây
Nguyễn Tiến Cung (Mưa Và Nỗi Chết ở An Lộc) 

Mấy tháng rồi tao chưa thấy Saigon
Mấy tháng rồi tao không được hôn em
Tao thèm làm tình như tao thèm sống
Tao thèm hôn em hôn liên miên
Lê Công Sinh (Người Về)

Trong lời mở đầu tuyển tập, tác giả NHT cho biết, ông thực hiện tuyển tập với bản dịch các bài thơ sang tiếng Anh, nhằm hướng đến độc giả mà tiếng Anh là bản ngữ, nhất là các độc giả từ những nước ít nhiều đã dính líu đến cuộc chiến, để phần nào giúp họ hiểu được tâm tình cũng như xúc cảm của người lính miền Nam. Theo tác giả tuyển tập, ông tự thấy có trách nhiệm ghi lại, giữ lại những gì đã là tim óc, máu huyết của những đồng đội đàn anh, những người đã dùng thơ nói lên thay cho mình và cả thế hệ của mình những điều mình đã trải qua và cảm nhận nhưng đã không thể nói. Vẫn theo tác giả NHT, “nếu không được gìn giữ, biết đâu rồi sẽ mai một, sẽ bị quên lãng, sẽ biến mất... thì quả là đáng tiếc cho cho tất cả chúng ta, nhất là với những nhà nghiên cứu và phê bình văn học Việt Nam” về “Người lính miền Nam đi đánh giặc; ba lô mang theo hồn thơ văn (Nguyện Phúc Sông Hương)”.

Cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người hiệu đính tuyển tập, trong lời Bạt, viết, “những binh sĩ nhà thơ này không những đã đền ơn xã hội sinh thành ra họ mà còn lưu lại một di sản không xóa nhòa được cho các thế hệ mai hậu để con em chúng ta có thể chiêm ngưỡng bất kẻ họ ở đâu trên khắp địa cầu”. Cố Giáo sư còn tỏ ý mong tập thơ sẽ giúp độc giả có khái niệm tốt về người lính VNCH, những người suốt 20 năm đã xả thân bảo vệ hòa bình và an ninh cho miền Nam. Cố Giáo sư trong lời dẫn nhập còn viết, tuyển tập là sản phẩm của lính chiến đấu trong một cuộc chiến cam go, đứng trước một kẻ thù đày mưu mẹo, nhưng lòng họ vẫn có chỗ cho người yêu, cho tình đồng đội, không trừ cả tình lân mẫn dành cho đối phương. Nhà xuất bản Tiếng Quê Hương cho biết cố Giáo sư ngoài viết Anh-Việt lời dẫn nhập và lời bạt cũng đã giúp layout cuốn sách. 

Ba làm sao quên được 
Rồi ngày mai ngày mốt và những ngày sau đó 
Ba sẽ ở một tiền đồn xa xôi nào đó
Thật ngoài tầm nhìn của con, của mẹ, của nội ngoại
Con không bao giờ biết
Không ai có thể biết được
Một đời làm lính thú như ba

Cho tôi ngủ nhà một đêm
Để nghe hơi thở của vợ, của con mùi nước tiểu
                 thương yêu đã từ lâu tôi thèm muốn
Âu yếm nào trên môi
Hãy cho tôi lời xin thật nhỏ
Một lần rồi thôi
Đã từ lâu ba hằng nhớ các con
Như đã khóc một mình 
Trần Yên Hòa (Lời Xin)

Trong tuyển tập có bài thơ Kỷ Vật. Bài thơ được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc. Ông đã chắp cánh cho nó bay xa cùng khắp đất nước từ năm 1970; khiến bản nhạc trở thành một hiện tượng... Tuyển tập in bài thơ là của Chuẩn Nghị với ghi chú: Chuẩn Nghị, tên thật là Nguyễn Đức Nghị, người Phan Rang, nhập ngũ khóa 26 SQTB Thủ Đức, về tiểu đoàn 7 Nhảy Dù, hy sinh tại mật khu Bời Lời, Tây Ninh tháng 4/1969; đã viết nhiều thơ đăng trên Văn Nghệ Tiền Phong, Chiến Sĩ Cộng Hòa. Bản nhạc của Phạm Duy thì ghi lời là của Linh Phương. Nhà văn Uyên Thao, chủ trương Tủ sách Tiếng Quê Hương (TQH), nơi phát hành tuyển tập cho biết, tác giả tuyển tập NHT đã khẳng định, bài thơ là của Chuẩn Nghị vì Chuẩn Nghị là bạn của ông làm từ đầu năm 1969...

Tựa bản nhạc của Phạm Duy là Kỷ Vật Cho Em. Tựa của Linh Phương: Để Trả Lời Một Câu Hỏi. Bản gốc của hai bài thơ Linh Phương, Chuẩn Nghị đều có hai câu đầu: "Em hỏi anh bao giờ trở lại; Xin trả lời mai mốt anh về”. Bài của Chuẩn Nghị làm bằng thể thơ tự do còn của Linh Phương bằng thể thơ thất ngôn. Cả hai bài cùng viết về sự mất mát của chiến tranh và có nhiều ý tưởng trùng nhau nên khiến gây ra nghi vấn. Tủ sách TQH là nhà xuất bản hay giới thiệu các tác phẩm giá trị của các tác giả đang sống tại quê nhà và các tác giả trẻ. Mọi giao dịch qua địa chỉ: P.O Box 4653- Fall Church, VA 22044 - USA hay qua điện thư: uyenthao174@yahoo.com. 

Kỹ Vật - Chuẩn Nghị

Em hỏi anh bao giờ trở lại?
Xin trả lời mai mốt anh về.
Anh trở về không bằng Mũ Đỏ Áo Hoa,
Anh trở về không bằng huy-chương chiến-thắng.
Anh trở về trong chiều hoang chiếu nắng,
Trong hòm gỗ hoặc trên chiếc băng-ca.
Anh trở về nằm giữa vòng hoa,
Những vòng hoa tang chan-hòa nước mắt. 
Anh gởi về cho em vài kỷ-vật,
Đây chiếc nón sắt xuyên mấy lỗ đạn thù.
Nó đã từng che nắng che mưa,
Đã từng hứng cho anh giọt nước.
Chiều dừng quân nơi địa-đầu lạnh buốt,
Nấu vội-vàng trong đó nắm cơm khô.
Anh gởi cho em một tấm poncho,
Đã rách nát theo hình-hài năm tháng.
Lều dã-chiến trên đồi hoang cháy nắng,
Che cơn mưa gió lạnh buổi giao mùa.
Làm chiếc võng nằm nhìn đời lính đong-đưa,
Và… khi anh chết cũng poncho tẫn-liệm.
Nay anh gửi cho em làm kỷ-niệm,
Nhận không em chút tình lính này đây?
Tình lính đơn-sơ vì chinh-chiến kéo dài,
Nhưng tình lính chỉ lạt phai
Khi hình-hài và con tim biến-thể.

TRẦN NHẬT PHONG * THANH TOÁN NỘI BÔ

Sài Gòn... cuộc chiến vẫn chưa dứt!

Trần Nhật Phong (Danlambao) - Gió xoay chiều, kể từ khi phe “miền bắc có lý luận” lên nắm quyền cai trị, nhiều cơn giông tố dù “ngầm’ hay “nổi” đều đang gia tăng một cách mạnh mẽ, cuộc thanh trừng đã bắt đầu diễn ra, nhưng có vẻ hầu hết nạn nhân đều là các “đại gia”, các “sân sau” của quan chức tiền nhiệm.

Các quan chức thuộc phe “miền bắc có lý luận”, dường như cách “thu tóm” không có gì được xem là “đột phá” về tư duy, mà hầu hết là vẫn dùng theo “chiêu thức cũ”, tung tin lên mạng tạo thành dư luận, báo chí vào cuộc, công an vào cuộc, và kết quả thì các “nạn nhân”, từ một kẻ được nhà cầm quyền ca ngợi, cấp bằng khen, chỉ một đêm hay vài ngày đã trở thành “kẻ gây tộc ác” trước con mắt của công chúng. 

Nhưng cũng có những bất ngờ khiến cho các quan chức “miền bắc có lý luận” trở nên lúng túng, như vụ bắn tại Yên Bái, không phải vô cớ mà vụ bắn xảy ra, cũng không phải vì “yêu nước thương cán bộ” mà ông Nguyễn Xuân Phúc lại “nhiệt tình” quan tâm đến sự kiện này, nguồn cơ vụ bắn đã bị toàn bộ những kẻ được gọi là “lãnh đạo” ém nhẹm, dù ai cũng biết rõ vụ bắn liên quan đến tình trạng khai phá rừng vô tội vạ ở Yên Bái.

Tại Sài Gòn, cũng không phải không có lý do mà hôm 17 tháng 8 tờ báo Tuổi Trẻ đã cho đăng loạt bài về cái gọi là “cử tri thắc mắc vụ xây sân golf ở sân bay Tân Sơn Nhất”. Dân Sài Gòn đặc biệt là quận Tân Bình ai cũng biết rõ các khu đất xung quanh phi trường Tân Sơn Nhất là thuộc quyền quản trị của Bộ Quốc phòng, thế mà tờ Tuổi Trẻ lại “cả gan” dám đăng bài gây “bất lợi” cho dự án sân golf? Theo đó các “cử tri” còn tố là dự án sân golf chỉ là bình phong, thực chất là xẻ đất đai để bán cho các dự án xây khách sạn, nhà hàng sang trọng v.v...

Dân Sài Gòn hiểu rõ, Bộ Quốc phòng khư khư ôm chặt vùng đất này, vì mối lợi quá lớn cả về mặt kinh tế lẫn chính trị, mục tiêu sau cùng là buộc di dời sân bay quốc tế về Long Thành.

Về mặt kinh tế, rõ ràng nếu sân bay quốc tế dời về Long Thành, thì sân bay Tân Sơn Nhất chỉ còn hai chọn lựa, một là trở thành phi trường nội địa thì sẽ có thêm đất cho Bộ Quốc phòng, chia chác trong các dự án xây dựng đô thị, bao gồm luôn khách sạn, trung tâm thương mại, nhà hàng, giải trí v.v...

Còn hai là về mặt chính trị, phi trường Tân Sơn Nhất có nguy cơ trở thành một phi trường quân sự, theo đó các đường phi đạo sẽ được tu sửa lại cho phù hợp với các loại chiến đấu cơ, trực thăng của quân đội Việt Nam và cả PLA (lực lượng giải phóng Nhân Dân Trung Quốc), và không biết sẽ có bao nhiêu “đại gia” thuộc phe “miền bắc có lý luận” sẽ trúng thầu các dự án xây dựng xung quanh phi trường Tân Sơn Nhất, và đằng sau các “đại gia” này vốn xưa nay làm ăn nơi đất Bắc, thì chỉ toàn hợp tác với các “đại gia” của “Thiên Triều”, thì ai sẽ là nơi cung cấp nguồn vốn xây dựng? 

Các quan chức mới lên nhiệm thuộc phe “miền bắc có lý luận”, đặc biệt là ông Bí thư Thành ủy Sài Gòn Đinh La Thăng, sẽ có những “chiêu thức” gì để “thu tóm” các dự án, những ngành hái ra tiền cho đám “đại gia’ đất Bắc Phần mà thực chất là “bàn tay lông lá” của Trung Quốc ở phía sau?

Đất Sài Gòn nói riêng và Miền Nam nói chung vốn là mảnh đất màu mỡ cho việc kiếm tiền, hốt bạc, vì tánh khí của dân Nam Kỳ dễ dãi, xuề xòa, hiện đang là điểm nhắm tới của đám “đại gia” Bắc Kỳ có gốc gác Đông Âu, nhưng lại có nhiều mối làm ăn với Trung Quốc, cả vùng miền bắc đã tan hoang vì lối khai thác, xây dựng, móc ngoặc vô tội vạ của những tên “đại gia” này, và giờ đây Đinh La Thăng đang trở thành kẻ “tiên phong” mở đường cho các “đại gia” Bắc Kỳ “xâm chiếm” các mối làm ăn ở miền nam bao gồm luôn mảnh đất “vàng” ở Sài Gòn.

Vùng đất này kể từ khi mở cửa kinh tế (cuối thập niên 80), vốn là vùng đất của các “đại gia” đảng viên gốc miền Nam làm ăn với Hàn Quốc, Đài Loan, Âu Châu, Hoa Kỳ, đến nay gió đã xoay chiều, những mối làm ăn béo bở này đang trở thành mục tiêu của đám “đại gia” Bắc Kỳ hay Đông Âu.

Không phải không có lý do khi báo chí đột nhiên đăng tải ngôi biệt thự “khủng” của đại gia Trầm Bê?

Không phải không có lý do trong vụ án Phạm Công Danh, bằng mọi giá phải lôi kéo ban điều hành của công ty “Doctor Thanh” vào vụ án?

Cũng không phải không có lý do báo Tuổi Trẻ và Một Thế Giới, lại đăng tải hàng loạt lời kêu ca của cái gọi là “cư dân” ở Sài Gòn phải “hít thở” mùi nồng nặng của bãi rác Đa Phước?

Kịch bản vốn phải như vậy, vì bước kế tiếp sẽ là Bí Thư Đinh La Thăng “vào cuộc”, rồi “chỉ đạo” cho các ban ngành mở cuộc điều tra.

Tiếp theo là Bộ Công an hay Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ ra thông cáo báo chí, nói rằng “có nhiều sai phạm” đệ trình lên “Thủ tướng để xin chỉ đạo”.

Và đoạn chót của kịch bản, ai cũng biết chuyện gì sẽ xảy ra, “nạn nhân” một là bỏ của chạy lấy người, thỏa hiệp để mua sự an toàn cho bản thân, cho gia đình, cho tài sản “ngầm” còn sót lại, thứ hai là phủi đít “nhập kho”, đứng nhìn tài sản “rớt” vào tay của các “đại gia” gốc Bắc Kỳ hay Đông Âu, trên danh nghĩa “cải tổ” hay “tạm thời quản lý”. 

Vụ đại gia David Dương hiện nay, bãi rác Đa Phước đang trở thành “con dê” đầu tiên cho Đinh La Thăng “làm thịt”, cư dân xung quanh khu vực bãi rác Đa Phước chịu đựng mùi hôi thúi là chuyện dể hiểu, nhưng xa đến 8-10 km, mà báo chí đăng tãi là “mùi hôi nồng nặc” thì ai cũng thấy có chuyện gì “không ổn” từ các tay viết “đâm thuê chém mướn” này. “Không ổn” là tại sao 2, 3 bãi rác ở miền Bắc California dưới quyền của David Dương, lại không hề có những “kêu ca” như bãi rác Đa Phước ở Việt Nam? Không lẽ chính quyền của Tổng Thống Obama “bảo kê” cho David Dương?

Ai cũng biết mỗi ngày công ty Đa Phước của ông David Dương phải xử lý 5,000 tấn rác, theo đó Hồ Chí Minh phải chi trả cho công ty này 18 Mỹ kim cho mỗi tấn rác, nhìn đã thấy ngay con số, mỗi ngày Hồ Chí Minh phải chi trả cho việc xử lý rác là 90,000 USD, và cứ vậy nhân lên thành con số mỗi tháng, có “đại gia” Bắc Kỳ nào mà không “thèm thuồng” mối làm ăn này của David Dương?

Nhưng “cướp” bằng cách nào cho “hợp pháp” và đó chính là trách nhiệm của Đinh La Thăng trong nhiệm kỳ Bí Thư Thành Ủy ở thành Hồ. Và đó là lý do tại sao các tay “đâm thuê chém mướn” của tờ Tuổi Trẻ hay Một Thế Giới, trong mấy tuần này đã “ưu ái” nhiều bài viết về Đa Phước. 

Tương tự David Dương, vụ Vũ Quang Hải được “bổ nhiệm” vào công ty Rượu Bia và Nước Giải Khát Sài Gòn hay còn gọi là Sabeco, đang được phe “miền bắc có lý luận” ráo riết “đập” với lý do thuộc dạng “con ông cháu cha” nhận chức. 

Riêng tại Sài Gòn, công ty Sabeco (vốn là công ty sản xuất bia ở miền Nam trước 75), được xem là công ty quốc doanh (nhà nước làm chủ 89%) hái ra tiền nhất so với các công ty quốc doanh thua lỗ như EVN hay PetroVietnam, riêng tại đất Sài Gòn, Sabeco mỗi năm sản xuất lên đến 11 tỷ lít bia vẫn không đủ cung cấp, chỉ cần lời 5 cents (USD) cho mỗi lít bia, thì người ta đã thấy con số hàng năm công ty này thu lợi là bao nhiêu, có “đại gia” Bắc Kỳ nào mà không muốn “cướp” Sabeco về tay của mình?

Đất Sài Gòn là nơi hái ra tiền cho nhiều thành phần trong xã hội, nhưng nó cũng là nơi “chôn xác” cho những ai không hiểu rõ thời cuộc, nhất là cho những ai không hiểu rõ “cách chơi” của nhà sản.

Trong một xã hội mà cơ chế “tàn tật”, quản lý “dốt nát” thì đó chỉ là vùng đất màu mỡ cho hai thành phần đầu tư nước ngoài hưởng lợi.

Thành phần thứ nhất là những Đại Công ty xuyên quốc gia cở như Samsung, Nike, luôn đầu tư vào những quốc gia có luật lệ lỏng lẻo, tham nhũng, giá nhân công rẻ hơn súc vật, còn được ưu đãi về đất đai, ưu đãi về thuế, để họ có thể thu lợi nhuận khổng lồ trong khoảng một thập niên, trước khi tìm kiếm mảnh đất khác để tiếp tục khai thác. 

Thành phần thứ hai là những kẻ làm ăn theo kiểu “gạt đầu sông cuối chợ” hưởng lợi ngắn hạn trong một vài năm, chụp giựt, đạp lên đầu kẻ khác rồi ôm tiền bỏ chạy.

Còn những nhà đầu tư nghiêm túc, lương thiện và lâu dài, có tầm nhìn rộng, thì chỉ chọn đầu tư ở những quốc gia hay vùng lãnh thổ minh bạch rõ ràng, tương tự như nhiều năm trước đây ở Hong Kong, Đài Loan hay Singapore.

Dù bị vặn vẹo méo mó trong 40 năm qua, dù bị cai trị một cách “ngột ngạt” của đám “miền bắc có lý luận”, nhưng dân chúng Sài Gòn vẫn được xem là biểu tượng của nền văn hóa rực rỡ so với mặt bằng trên toàn quốc, Sài Gòn vẫn là Sài Gòn, không cần những lời “chém gió” của Đinh La Thăng là “tái lập Hòn Ngọc Viễn Đông” hay đòi biến Sài Gòn trở thành một thứ “Thượng Hải” của “Thiên Triều”. 

Cuộc chiến “dành sân” hay “chiếm đất xưng vương” vẫn đang diễn ra một cách gay gắt vẫn đang tăng cường độ kể từ khi Đinh La Thăng trở thành Bí Thư Thành Ủy, nó vẫn đang làm tăng thêm sự khác biệt văn hóa giữa miền Nam và những kẻ “miền Bắc có lý luận”. 

Nếu ai đó cho rằng quan điểm trên là “phân biệt vùng miền”, nhưng nếu nhận rõ sự tham lam của những “đại gia” Bắc Kỳ đang làm gì ở miền Nam, thì đây vẫn là một thực tế, Sài Gòn vẫn có những cuộc chiến đang tiếp diễn, dù cuộc chiến quân sự đã chấm dứt từ hơn 40 năm trước. 

30.08.2016

TRẦN TRUNG ĐẠO * MAO TRẠCH ĐÔNG

Tóm tắt quan điểm của Mao Trạch Đông về chiến tranh Việt Nam và "Mặt trận Giải phóng Miền Nam"

Trần Trung Đạo (Danlambao) - Trong suốt cuộc chiến Việt Nam, quan điểm chính trị và quân sự của Mao Trạch Đông thay đổi nhiều lần. Từ một Mao chủ hòa sau hiệp định Geneva trở thành một Mao chủ chiến trong giai đoạn đầu của cuộc chiến vào thập niên 1960 và lần nữa trở về với Mao chủ hòa sau Thông Cáo Chung Thượng Hải ngày 27 tháng Hai 1972.

Mao và lý luận “chiến tranh giải phóng dân tộc”

Phát xuất từ quan điểm cố hữu “lấy nông thôn bao vây thành thị” và cũng vì không đủ khả năng để trực tiếp đương đầu với Mỹ, Mao chủ trương gây khó khăn cho Mỹ, kẻ thù chính của Trung Cộng trong giai đoạn từ 1949 đến 1972, qua hình thức chiến tranh cách mạng tại bất cứ quốc gia nào Mỹ đang có quyền lợi hay có thể tạo ảnh hưởng. 

Trong dịp tiếp phái đoàn báo chí Chile ngày 23 tháng Sáu 1964, Mao tuyên bố: “Chúng tôi chống chiến tranh, nhưng chúng tôi ủng hộ các cuộc chiến chống chủ nghĩa đế quốc do các dân tộc bị áp bức phát động”. Từ Phi Châu, Nam Mỹ, và Á Châu, Mao tích cực yểm trợ võ khí và cơ sở lý luận cho các phong trào “giải phóng dân tộc”, chống “đế quốc thực dân”. Các phong trào Maoist lan rộng khắp nơi, từ Nepal bên rặng Hy Mã Lạp Sơn ở Á Châu cho đến tận những cánh đồng ở Ecuador, Nam Mỹ. 

Trong mắt Mao, ba “anh hùng” được xem là những lãnh tụ tiêu biểu của phong trào “giải phóng dân tộc” là Hồ Chí Minh tại Á Châu, Fidel Castro tại Nam Mỹ, và Ben Bella tại Phi Châu. Trong số ba “anh hùng” đó, Hồ Chí Minh và đảng CSVN vì lý do ý thức hệ và địa lý chính trị, được Mao quan tâm nhất và bằng mọi giá phải nắm chặt trong tay. 

Khi phong trào giải thực bước vào giai đoạn chót vào cuối thập niên 1960, hầu hết các nước thuộc địa đã được trao trả quyền độc lập hoàn toàn hay độc lập trong khuôn khổ thịnh vượng chung. Hai trong số ba nước tiên phong gồm Algeria và Cuba nghiêng về phía Liên Xô, Mao chỉ còn lại một đàn em trung thành duy nhất ở Á Châu là CS Bắc Việt. Mao tìm mọi cách để kiểm soát CSVN về mọi mặt từ giáo dục tuyên truyền, đường lối lãnh đạo cho đến kinh tế, văn hóa, xã hội. 

Mao và quan điểm về chiến tranh Việt Nam 

- Sau hiệp định Geneva 1954 đến 1964: Trung Cộng là nguồn cung cấp duy nhất cho CS Bắc Việt, không chỉ từ chén cơm manh áo mà cả lý luận tư tưởng. Nói chung đời sống từ vật chất đến tinh thần của đảng CSVN lệ thuộc sâu xa vào đảng CSTQ. Khắp miền Bắc, từ công sở đến gia đình, hình ảnh của Mao được đặt trên mức linh thiêng. 

Hồ Chí Minh và lãnh đạo CSVN đã thi hành một cách nghiêm chỉnh hầu hết các mệnh lệnh đầy tai họa từ Mao và các chính sách phi nhân này đã dẫn đến cái chết oan uổng của nhiều trăm ngàn người dân Việt Nam vô tội qua các chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất. Sau tổn thất nặng nề trong chiến tranh Triều Tiên, Mao có ý định tập trung vào các chính sách đối nội, và cũng muốn CSVN đặt thứ tự ưu tiên vào việc CS hóa xã hội miền Bắc trước. Tuy nhiên, để đồng thuận với đảng CSVN anh em, Mao cũng đã tích cực yểm trợ quân sự trong chủ trương CS hóa Việt Nam bằng võ lực. Tổng số viện trợ quân sự của Trung Cộng trong giai đoạn này gồm 320 triệu yuan, 270 ngàn súng ngắn, 10 ngàn pháo, 200 triệu viên đạn, 2.02 triệu đạn pháo, 1 ngàn xe tải, 25 máy bay, 1.18 triệu bộ quân phục. 

- 1964 đến 1965: Thái độ của Mao đối với chiến tranh trở nên kiên quyết hơn. Cuối năm 1964, Hồ Chí Minh chủ trương cân bằng ảnh hưởng giữa Liên Xô và Trung Cộng mong nhận được viện trợ của cả hai để theo đuổi mục tiêu CS hóa toàn cõi Việt Nam. Điều này làm Mao lo lắng. Mao sai Đặng Tiểu Bình, lúc đó là Tổng Bí Thư đảng CSTQ, bí mật thăm Hà Nội và hứa viện trợ Hà Nội một tỉ yuan nếu Hà Nội từ chối viện trợ của Liên Xô. Ngoài ra, Mao cũng cứng rắn chống lại mọi sáng kiến chấm dứt chiến tranh Việt Nam bằng phương tiện đàm phán. Mao nói thẳng với Kosygin, Chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng Liên Xô, trong chuyến viếng thăm của ông ta tới Bắc Kinh ngày 11 tháng Hai, 1965, “Liên Xô không được dùng Việt Nam để mặc cả với Mỹ”. Mao cũng từ chối đề nghị của Liên Xô về một phiên họp thượng đỉnh giữa ba đảng CS để thảo luận về đường lối chiến tranh Việt Nam. Mao xem đảng CSVN chẳng khác gì một xứ bộ của đảng CSTQ. 

- 1965 đến 1972: Khi chiến tranh Việt Nam gia tăng cường độ, Lê Duẩn, trưởng phái đoàn đại diện đảng CSVN, trong chuyến viếng thăm Trung Cộng tháng Tư 1965, đã chính thức yêu cầu Mao gởi quân sang Việt Nam. Đáp lại lời thỉnh cầu của Lê Duẩn, Mao gia tăng hàng loạt viện trợ quân sự cho CS Bắc Việt. Tháng Sáu 1965, các sư đoàn Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc tiến vào miền Bắc Việt Nam. Đến tháng Ba 1968, tổng số quân Trung Cộng có mặt tại miền Bắc là 320 ngàn quân với tất cả phương tiện yểm trợ và trang bị vũ khí đầy đủ. 

Các cuộc dội bom ồ ạt của Mỹ lên miền Bắc gây tổn hại trầm trọng trong mọi lãnh vực kinh tế, quốc phòng của CS Bắc Việt. Cùng lúc đó, Liên Xô, các nước CS Đông Âu, và đồng minh của Mỹ Tây Âu khuyến khích CS Bắc Việt và Mỹ ngồi vào bàn hội nghị để tìm cách giải quyết chiến tranh Việt Nam. CS Bắc Việt đồng ý. Chủ trương của lãnh đạo CS Bắc Việt lúc đó là vừa đánh vừa đàm để tận dụng mọi cơ hội có lợi nhất cho mục đích tối hậu CS hóa Việt Nam và đồng thời dùng bàn hội nghị để mặc cả Mỹ giảm mức độ ném bom. Ngoài ra, Hồ Chí Minh lo ngại Mỹ sẽ tăng cường thêm 100 ngàn quân tại miền Nam như y đã trao đổi với Mao vào tháng Sáu 1965. 

Mao thì khác. Mao chống đối phương pháp thương thuyết và chủ trương kéo dài chiến tranh càng lâu càng tốt. Chủ trương kéo dài chiến tranh của Mao phát xuất từ ba lý do: (1) Mao muốn tiếp tục làm tiêu hao khả năng của Mỹ, (2) chứng tỏ vai trò lãnh đạo của Mao trong thế giới thứ ba, (3) dùng chiêu bài chống đế quốc xâm lược để củng cố vai trò cai trị của Mao tại lục địa Trung Quốc. 

- Thông Cáo Chung Thượng Hải 1972 đến 30-4-1975: Quan hệ giữa Trung Cộng và Liên Xô ngày càng xấu và khó có cơ hội hòa giải giữa hai nước CS hàng đầu. Chỉ riêng năm 1969, đã có tới 400 vụ đụng độ dọc biên giới. Đáp lại ý định rút lui khỏi Việt Nam của TT Richard Nixon, Mao nghĩ đã đến lúc phải bắt tay với Mỹ để tránh bị bao vây cả hai mặt bằng hai kẻ thù mạnh nhất nhì trên thế giới. Sau chuyến viếng thăm Trung Cộng của TT Richard Nixon cuối tháng Hai 1972, tới phiên Mao cổ võ một giải pháp hòa bình cho cuộc chiến Việt Nam mà trước đó không lâu ông ta đã chống lại. 

Mao và “Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam” 

Hôm nay cả thế giới đều biết những tổ chức được gọi là “Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam” hay “Chính phủ Lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” đều chỉ là các bộ phận thuộc đảng bộ miền Nam do Trung Ương Cục Miền Nam, tên mới của Xứ ủy Nam Bộ đảng Lao Động, lãnh đạo. 

Tổ chức gọi là “Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam” (MTDTGPMNVN) hay thường được gọi tắt là “Mặt trận Giải phóng Miền Nam” được thành lập ngày 20 tháng 12, 1960 với mục đích: “Đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm, tay sai đế quốc Mỹ; thành lập một chính quyền liên minh dân tộc dân chủ rộng rãi ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc, tự do, dân chủ, cải thiện dân sinh, giữ vững hòa bình, thi hành chính sách trung lập, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc, tích cực góp phần bảo vệ hòa bình ở Đông Dương, Đông Nam Á và thế giới." 

Bí thư Trung Ương Cục đầu tiên là Nguyễn Văn Linh, Ủy viên Bộ chính tri đảng Lao Động Việt Nam. Tháng 10 năm 1964, nhu cầu quân sự gia tăng, Nguyễn Chí Thanh được điều vào Nam làm Bí thư Trung ương Cục kiêm Bí thư Quân ủy Miền. Từ 1967 đến 1975, Trung ương Cục miền Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Phạm Hùng, Ủy viên Bộ chính trị kiêm Chính ủy các lực lượng vũ trang miền Nam. Đầu năm 1961, “Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam” cũng được Trung Ương Cục Miền Nam thành lập. Dù chỉ trên danh nghĩa, “quân giải phóng” này lẽ ra phải trực thuộc “MTDTGPMNVN”, tuy nhiên, theo nội dung chỉ thị của Tổng Quân ủy CSVN tháng 1 năm 1961 nhấn mạnh: "Quân giải phóng miền Nam Việt Nam là một bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam, do Đảng sáng lập và xây dựng, giáo dục và lãnh đạo". 

Đáp ứng nhu cầu tạo thế đối trọng với chính phủ VNCH, ngày 8 tháng 6, 1969, Trung Ương Cục thành lập thêm một tổ chức mới gọi là “Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam” do Huỳnh Tấn Phát, đảng viên CS từ thời 1945 làm Chủ tịch và Nguyễn Thị Bình làm Bộ trưởng Ngoại Giao. 

Nhân dịp đánh dấu 40 năm hiệp định Paris, các cơ quan tuyên truyền của đảng ca ngợi bà Bình là "nhà ngoại giao sáng tạo linh hoạt". Điều đó không đúng. Về nguyên tắc lãnh đạo, vai trò của “Chính phủ Lâm thời” trong đó có “Bộ trưởng Ngoại Giao Nguyễn Thị Bình” chỉ là mặt nổi đối ngoại, tất cả lời ăn tiếng nói của bà đều được chỉ thị từ đảng ủy bên trong, đứng đầu là Lê Đức Thọ. Chắc bà Bình cũng phải thừa nhận, dưới sự lãnh đạo của đảng CS, mọi "sáng tạo linh hoạt" cá nhân là những điều cấm kỵ. 

Dù sao, trước 1975, nhờ che đậy dưới mục đích rất nhân bản và lương thiện “dân tộc dân chủ rộng rãi ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc, tự do, dân chủ, cải thiện dân sinh, giữ vững hòa bình, thi hành chính sách trung lập”, “MTDTGPMNVN” đã thu hút khá đông “trí thức” miền Nam về phía họ và nhanh chóng làm suy yếu cơ chế chính trị dân chủ còn rất non trẻ ở miền Nam. 

- Mao ve vãn các lãnh đạo “Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam”: Không ai hiểu con bằng cha mẹ, tác giả của sách vở mà CSVN dùng là của Mao và đường lối CSVN dùng cũng là của Mao đã từng áp dụng tại Trung Quốc như trường hợp Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc, gọi tắt là Chính Hiệp sau 1949. Chủ tịch của các Hiệp Chính này không ai khác hơn là những lãnh đạo tối cao của đảng. Mao Trạch Đông chủ tịch khóa I (1949-1954), Chu Ân Lai chủ tịch các khóa II, III, IV (1954-1976), Đặng Tiểu Bình chủ tịch khóa V (1978-1983) Đặng Dĩnh Siêu chủ tịch khóa VI (1983-1988), Lý Tiên Niệm chủ tịch khóa VII (1988-1992) v.v… 

Qua kinh nghiệm lãnh đạo Chính Hiệp tại Trung Quốc, Mao biết dù sao vẫn còn tồn tại một thành phần ngây thơ trong hàng ngũ “MTDTGPMNVN” nên sau Thông Cáo Chung Thượng Hải, Mao tìm cách khai thác và ve vãn hàng ngũ này. Điều Mao dự đoán không sai nhưng không đủ thế và lực để tạo ra ảnh hưởng lớn. Sau 1975 các thành phần ngây thơ này tập trung dưới hình thức Câu Lạc Bộ Kháng Chiến và nhiều trong số họ đã bị bắt. 

Mao tiếp Nguyễn Thị Bình tại Bắc Kinh ngày 29 tháng Hai 1972 và nói với bà Bình “Chúng ta thuộc vào một gia đình. Bắc Việt, Nam Việt, Đông Dương, Triều Tiên cùng một gia đình và chúng ta ủng hộ lẫn nhau. Nếu các bạn thành công tại hội nghị Paris, không chỉ Nam Việt mà Bắc Việt cũng đạt đến mức bình thường hóa với Mỹ ở mức độ nào đó”. 

Tháng 11, 1973, Nguyễn Hữu Thọ và phái đoàn MTDTGPMNVN thăm Bắc Kinh. Phái đoàn của y được Mao tiếp đón nồng nhiệt và hứa các khoản viện trợ không hoàn trả. Các thành viên trong phái đoàn MTDTGPMNVN ngạc nhiên trước cách đối xử khác biệt của Mao. Trương Như Tảng, Bộ trưởng Tư Pháp của “Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam”, kể lại trong vài ngày đầu thăm viếng Bắc Kinh, các lãnh đạo Bắc Kinh tưởng Trương Như Tảng là người của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa nên tỏ ra lạnh nhạt, nhưng khi biết y là thành phần của phái đoàn Nguyễn Hữu Thọ, họ đã trở nên niềm nở. 

- Mao và chủ trương hai nước CS Việt Nam: Chiều ngày 11 tháng 8, 1975, Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc Daniel P. Moynihan, hai lần đưa tay phủ quyết đơn xin gia nhập Liên Hiệp Quốc của cả Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa lẫn Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam sau khi đơn gia nhập của Nam Hàn bị bác bỏ tuần trước đó. Với lãnh đạo CSVN, việc hai miền CS Việt Nam cùng tham gia vào LHQ chỉ là một chiến thuật đối ngoại về mặt nhà nước, nhằm “hợp thức hóa” việc cưỡng chiếm miền Nam của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và gia tăng áp lực buộc Hoa Kỳ phải viện trợ để “tái thiết Việt Nam”. Về mặt lãnh đạo, chỉ do một đảng CSVN mà thôi. 

Mao biết khuynh hướng thân Liên Xô trong lãnh đạo CSVN và hy vọng lãnh đạo CSVN tại miền Nam hay gốc miền Nam sẽ có một khuynh hướng khác. Những ve vãn của Mao đối với MTDTGPMNVN cũng chỉ là hành động “còn nước còn tát”. Bắt được ý định đó, Hoa Kỳ đưa ra một “giải pháp trọn gói” tức cả bốn nước Đông Nam Á gồm Bắc Hàn, Nam Hàn, Bắc Việt, Nam Việt cùng vào LHQ. Trung Cộng không chấp nhận. Mao, vào thời gian đó, sức khỏe yếu dần nhưng đã đóng vai trò quyết định trong “giải pháp trọn gói” của Mỹ. 

Mao và lãnh đạo Trung Cộng khi ủng hộ chủ trương hai Việt Nam không phải phát xuất từ lòng thương xót Việt Nam Cộng Hòa hay người dân miền Nam mà chỉ muốn tiếp tục chi phối chính trị Việt Nam qua vai trò của Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên để trả giá cho chính sách đó bằng việc chấp nhận Nam Hàn vào LHQ, Mao cho rằng không tương xứng. Vì Mao không đồng ý “giải pháp trọn gói” tức cả bốn nước cùng vào LHQ nên chiều ngày 11 tháng 8, 1975, Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc Daniel P. Moynihan Mỹ phủ quyết CS Bắc Việt và CS Nam Việt. 

Tìm hiểu quan điểm của Mao qua các giai đoạn của cuộc chiến để thấy phía sau những khẩu hiệu tuyên truyền đường mật, dã tâm của Mao vẫn là khống chế Việt Nam bằng mọi cách. Tập Cận Bình hãnh diện là truyền nhân của Mao, do đó, đọc lại Mao để có thể đo lường những bước đi tới của họ Tập. Ngoài các đặc điểm kế thừa từ Mao, Tập Cận Bình còn đi xa hơn khi tham vọng bành trướng cả Á Châu. 

CSVN ngày nay không còn chọn lựa nào khác hơn là quy phục Trung Cộng để tiếp tục tồn tại và duy trì quyền cai trị đất nước. Chọn lựa duy nhất của các tầng lớp người Việt Nam yêu nước hiện nay là đóng góp hết sức mình vào cuộc vận động dân chủ tại Việt Nam. Dân chủ hóa Việt Nam là phương cách “thoát Trung” đúng đắn và phù hợp với sự phát triển văn minh thời đại nhất. Mục tiêu đầu tiên trong tiến trình dân chủ hóa là tháo gỡ cho được cơ chế chính trị xã hội độc tài CS hiện nay. 

31.08.2016


_____________________________________

Tham khảo: 

- Discussion between Mao Zedong and Nguyen Thi Binh. December 29, 1972. Wilson Center. 
- Chen Jian (1995), China's Involvement in the Vietnam War, 1964-69, Cambridge University Press. 

- Rosemary Foot, John Gaddis, Andrew Hurrell (2002). Order and Justice in International Relations. Oxford. 

- Yang Kuisong (2002). Changes in Mao Zedong’s Attitude toward the Indochina War, 1949-1973. Woodrow Wilson International Center for Scholars. 

- Qiang Zhai (2002). China & The Vietnam Wars, 1950-1975. University of North Carolina Press. 

- Eric J Ladley (2007) Balancing Act: How Nixon Went to China and Remained a Conservative. iUniverse. 
- Trương Quảng Hoa. Hồi kí cố vấn Trung Quốc. Diendan.org. 

- New York Times, August 7, 1975 và August 12, 1975 

- Trần Gia Phụng (2016). Lịch Sử Sẽ Phán Xét, Nhà xuất bản Non Nuoc, Toronto, Canada.

Tuesday, August 30, 2016

CẢNH QUAN THẾ GIỚI

 

Những cây cầu tự nhiên độc đáo ở Ấn Độ


tuyệt vời nhất và có lẽ cũng là nổi tiếng nhất là cầu hai tầng Umshiang hơn 180 năm tuổi. Cầu này nằm ngay bên ngoài Nongriat, một ngôi làng nhỏ chỉ có thể tới được bằng cách đi bộ, cách thị trấn Cherrapunji 10km về phía nam. Hai tầng cầu bắc ngang sông Umshiang và dân làng đang làm thêm tầng thứ ba với hy vọng sẽ hấp dẫn thêm nhiều du khách.

NGƯỜI VIỆT TẠI PHÁP

Người Việt tại Pháp kiến nghị đòi Trung Quốc tôn trọng phán quyết Biển Đông

mediaNgười biểu tình Việt Nam và Philippines trước lãnh sự quán Trung Quốc ở Makati, Manila đòi Bắc Kinh tôn trọng phán quyết Biển Đông, 06/08/2016.REUTERS/Romeo Ranoco


Trên trang web change.org dành riêng cho những kiến nghị trên mạng, đã xuất hiện một bản kiến nghị đòi hỏi « Tôn trọng phán quyết của Tòa án Trọng tài Thường trực ngày 12/07/2016 liên quan đến tranh chấp Biển Đông ». Kiến nghị viết bằng ba thứ tiếng Anh, Pháp, Việt do CRAFV (Hội đồng đại diện các hội Pháp-Việt) đề xướng.
Bản kiến nghị tố cáo những hành động quân sự của Trung Quốc tại Biển Đông từ nhiều thập kỷ qua. Trước hết là việc chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa năm 1974. Đến năm 1988, đến lượt Đá Gạc Ma (Johnson Reef) thuộc Trường Sa, năm 1995 Trung Quốc chiếm giữ Đá Vành Khăn (Mischief Reef) và xây lên một căn cứ hải quân. Năm 2012 bãi cạn Scarborough của Philippines lọt vào tay Bắc Kinh.


Đáng chú ý là năm 2012 Trung Quốc đã cắt đứt dây cáp một tàu thăm dò của Việt Nam, năm 2014 cho kéo giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981 vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Những hành vi đánh đắm tàu đánh cá Việt Nam, bắt cóc ngư dân…tiếp diễn trong nhiều năm. Và từ năm 2014 Bắc Kinh đã cho xây dựng các hòn đảo nhân tạo cùng với cơ sở hạ tầng có thể phục vụ mục đích quân sự tại quần đảo Trường Sa.

Kiến nghị nhắc lại phán quyết của Tòa án Trọng tài Thường trực La Haye (PCA) ngày 12/07/2016 đã khẳng định « đường lưỡi bò » do Trung Quốc tự vẽ để yêu sách chủ quyền trên 90% diện tích Biển Đông là không có cơ sở pháp lý, bác bỏ lý lẽ « quyền lịch sử », đồng thời buộc Trung Quốc phải chịu trách nhiệm về việc phá hoại hệ sinh thái biển. Bắc Kinh không chấp nhận phán quyết.


Bản kiến nghị viết : « Với mục đích ủng hộ duy trì hòa bình thế giới, chúng tôi, công dân Pháp và châu Âu, gốc Việt, Việt kiều và những người Việt sống ở Việt Nam kêu gọi các cơ quan chính trị Pháp, châu Âu và toàn thế giới tìm các biện pháp thích hợp để yêu cầu Trung Quốc tôn trọng phán quyết của PCA, Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) ». Đồng thời « dừng mọi hành động xây dựng bất hợp pháp các đảo nhân tạo, sách nhiễu ngư dân Việt Nam ».


Sau khi thu thập chữ ký, bản kiến nghị sẽ được gởi đến tổng thống, ngoại trưởng và Quốc hội Pháp, chủ tịch Nghị viện Châu Âu và Ủy ban Châu Âu, đại sứ tại Pháp của các nước Trung Quốc, Việt Nam, Philippines và các nước ASEAN khác, Hoa Kỳ, Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc, đại diện Đài Loan, các cơ quan truyền thông Pháp và châu Âu.
Trả lời RFI Việt ngữ, ông Vũ Ngọc Cẩn, chủ tịch MCFV (Mouvement des Citoyens Français d’origine Vietnamienne – Phong trào Công dân Pháp gốc Việt), một hiệp hội là thành viên của CRAFV đã cho biết thêm một số chi tiết liên quan đến kiến nghị.

TRẦN PHONG VŨ * TUẤN KHANH

Đọc “Khu định cư mới của ‘Việt cộng’ ở Quận Cam, USA”

Posted on August 29, 2016 by editor  0 Comments
Từ những thông tin tại chỗ, ông ghi nhận được cả những sinh hoạt từng ngày, từng mùa của những người mới tới. Từ chuyện tìm nơi an ninh, sang trọng để mua nhà lớn nhà nhỏ tới việc chọn trường ốc cho con cháu,…
Suy nghĩ từ bài viết của Tuấn Khanh tiêu đề: “Khu Định Cư Mới của ‘Việt cộng’ Ở Quận Cam, USA”
Bạn bè từ quốc nội vừa gửi cho tôi bài viết mới của tác giả Tuấn Khanh với tựa đề nêu trên. Đọc đi đọc lại tới lần thứ ba, tôi không khỏi suy tư.Trước hết vì những điều tác giả thấy xảy ra ngay tại Sài Gòn Nhỏ, nơi được mệnh danh là thủ đô của tập thể người Việt Nam tị nạn hải ngoại và cũng là nơi cư ngụ của gia đình, con cái tôi. Chỉ một sự kiện bài được một tác giả trẻ đã thành danh ở trong nước viết đã là một thôi thúc khiến tôi phải quan tâm và không thể không lên tiếng. Ngoài giá trị chứng từ của một bài viết nặng ký, tác giả còn cho tôi thấy tinh thần dân tộc, lòng yêu nước, thương nòi và thái độ bao dung nhưng thẳng thăn, can trường dám nói lên sự thật của ông.
Tuấn Khanh là ai?
Ông tên thật là Nguyễn Tuấn Khanh sinh ngày 1-10-1968, và là một tác giả nổi tiếng từ khi còn rất trẻ. Ngoài đam mê âm nhạc, Tuấn Khanh còn là một nhà báo có hạng. ông đã cộng tác với nhiều tờ báo trong nước, như Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Lao Động.
Ông đã được đài truyền hình Rai Italia của Ý trao tặng giải thưởng về âm nhạc. Vào năm 2001, ông được chọn là một trong 10 nhân vật trẻ của Đông Nam Á trong một cuộc bình chọn do tạp chí East Magazine tổ chức. Năm 2005, đài VTV mời Tuấn Khanh điều khiển trò chơi truyền hình mang tên Trò chơi âm nhạc. Năm 2007 ông là thành viên Ban giám khảo chương trình Việt Nam Idol.
Gần đây, Tuấn Khanh tuyên bố sẽ chấm dứt sáng tác tình ca phù phiếm để chuyển qua những đề tài xã hội. Điều đáng chú ý là ông sẽ không xin phép kiểm duyệt các đĩa nhạc do ông thực hiện. Điều này có nghĩa là những sáng tác của ông hoàn toàn tự do bay bổng không chịu bất cứ ràng buộc nào của bộ Thông Tin Tuyên Truyền nhà nước.
Trong mấy năm qua, kể từ khi Bắc Kinh công khai có những hành vi xâm lăng biển đảo của Việt Nam(1), tác giả Tuấn Khanh đã viết những ca khúc chống Tàu cộng, khơi gợi tình yêu nước, chống ngoại xâm và được giới trẻ trong nước nhiệt liệt hưởng ứng. Điển hình như bài “Trái Tim Việt Nam”(2) hiện được google post lên mạng như một tác phẩm tiêu biểu của ông dưới dạng một video link có kèm hình ảnh hàng trăm thanh niên nam nữ quốc nội đang cuồng nhiệt tham dự một cuộc biểu tình chống Trung cộng xâm lăng Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam.
Bản nhạc có những lời ca như “Việt Nam phải vẹn tuyền / Không thẹn cùng tổ tiên… Hãy cất tiếng nói để mãi lưu truyền / Lời thề giữ lấy nước Nam vẹn tuyền… Em có nghe chăng nước non Việt Nam / Rên xiết phân ly trong tay kẻ gian…Nếu có chết ngày nào / Thì cho thấy đất nước tôi Tư Do…”
Ngoài việc sáng tác nhạc, ông cũng viết nhiều bài mang tính phản biện liên quan tới hiện tình đất nước. Bên cạnh những bài mang nội dung chống bọn bá quyền Bắc Kinh, ông còn viết những bài về thảm họa cá chết hàng loạt ở Vũng Áng, Hà Tĩnh mới đây.
Đánh giá về tính đấu tranh, dư luận trong nước cho rằng nhạc của Tuấn Khanh và cả những bài viết của anh, đã tác hại cho chế độ không kém nhạc Việt Khang. Nhưng sở dĩ nhà nước bắt giam Việt Khang mà không dám động đến ông chỉ vì ảnh hưởng của ông trong cũng như ngoài nước quá lớn. Hà Nội sợ bứt giây động rừng nên đành ngậm miệng. Tương tự như trường hợp cô giáo Trần Thị Lam với bài thơ “Đất nước mình ngộ quá phải không anh?” Không bắt, không trù giập được thì “tha làm phúc”!
Nội dung bài viết mới của Tuấn Khanh
Mở đầu, Tuấn Khanh viết:
“Trên con đường dài dẫn ra biển Hungtington Beach, Quận Cam, có những khu nhà rất đẹp mà chủ hầu hết là người Việt… Bạn tôi, một người đã sống ở nơi này, gần bằng thời gian của thế hệ người Việt đầu tiên đặt chân đến Mỹ sau tháng 4/1975, nói rằng đó là những khu định cư mới của ‘Việt cộng’.
Những ngôi nhà đó được mua rất nhanh trong khoảng vài năm gần đây – mỗi căn từ 450.000 cho đến hơn 1 triệu USD, cho thấy có một nguồn ngoại tệ khổng lồ được chuyển ra khỏi nước Việt Nam, để xây dựng một ước mơ thầm kín và khác biệt bên ngoài tổ quốc của mình. Phần lớn những người này đều nói giọng miền Bắc, mới. Họ có một lối diễn đạt thời thượng thật dễ gây ấn tượng.
Anh bạn tôi, một người làm real estate – môi giới mua bán bất động sản ở Mỹ – kể lại cuộc trò chuyện với một khách hàng như vậy, và được biết nhà được mua ngay bằng tiền mặt, mà người khách dằn giọng “tiền tươi!”
Đường vào t.p. Huntington Beach. Nguồn: www.donovanblatt.com
Đường vào t.p. Huntington Beach. Nguồn: www.donovanblatt.com
Cũng như phần đông bà con tị nạn ở Mỹ, tôi từng nghe rất nhiều tin đồn tương tự về chuyện thời gian gần đây những đại gia trong nước, trong số không thiếu những tay tham nhũng gộc thuộc cơ chế cầm quyền Hà Nội, Sài Gòn đã và đang ồ ạt qua sinh sống và mua những căn nhà cả triệu mỹ kim ở các khu sang trọng tại Sài Gòn Nhỏ thuộc miền nam tiểu bang California, Hoa Kỳ. Tuy nghe vậy nhưng không mấy ai biết rõ thực hư ra sao. Vì thế khi đọc bài viết của tác giả Tuấn Khanh từ quốc nội gửi ra tôi không khỏi ngạc nhiên sửng sốt. Thật ra đây không phải là lần đầu tiên tôi mang cảm giác này. Ngày từ cuối năm 2015, thời gian Bộ Chính Trị đảng cộng sản Việt Nam đang ráo riết chuẩn bị Đại Hội đảng lần thứ 12, tôi đã từng một lần choáng váng khi đọc trên mạng Chân Dung Quyền Lực(i) đưa tin chi tiết kèm theo hình ảnh tiết lộ về sản nghiệp đồ sộ của ông Nguyễn Xuân Phúc, trong đó có những căn biệt thự khang trang, bề thế ở ngay Quận Cam vào thời gian ông ta còn giữ chức phó Thủ tướng dưới trào Nguyễn Tấn Dũng.
Bài viết của Tuấn Khanh không chỉ nói tới những đại gia Việt Nam ẵm tiền từ trong nước qua tậu biệt thự ở nam California mà còn ở nhiều nơi khác như Texas chẳng hạn. Tác giả cho hay:
“Không chỉ ở nơi đó, nhiều năm gần đây, cộng đồng Việt Nam ở Texas cũng hay nói với nhau rằng khu Bellaire đang ngày càng nhiều những người chạy khỏi Việt Nam hợp pháp như vậy. Thậm chí, không chỉ xuỳ tiền nhanh để mua nhà – lớp người này rất nhiều tiền – họ mua luôn các cơ sở thương mại. Từ các tiệm nail với giá vài chục ngàn cho đến các siêu thị giá trên chục triệu USD, một thế hệ khác chính kiến, khác tư duy đang len lỏi vào các cộng đồng Việt Nam chống Cộng để mong an cư và sinh tồn. Nơi quần cư cho tiếng Việt, văn hoá Việt không chấp nhận chế độ cộng sản mà tác giả Trầm Tử Thiêng từng gọi là ‘một Việt Nam bên ngoài Việt Nam’”.
Tuân Khanh cho biết thêm:
“Có lẽ vì vậy, mà ở các khu người Việt, biển quảng cáo của các luật sư di trú ngày càng nhiều. Trên đài phát thanh hay truyền hình cũng ra rả các lời mời tư vấn tìm hiểu cách lấy thẻ xanh để được ở lại nước Mỹ.”
Đứng trên lãnh vực kinh doanh, thương mại thuần túy, chẳng ai trách giới luật sư hay các cơ quan truyền thông quảng bá cho những dịch vụ này. Giản dị vì đây thuộc phạm vi nghề nghiệp của họ, là một trong những dịch vụ làm ăn để kiếm sống của giới này. Vả chăng ngoài những tay tham nhũng trong hệ thống cầm quyền đảng và nhà nước CSVN và đông đảo những kẻ thời cơ biết ăn chia với những kẻ quyền thế để làm giầu trên xương máu dân đen rồi tìm đường qua Mỹ, cũng còn có nhiều đồng bào qua định cư tại đây là bà con thân nhân của những người đã bỏ nước đi tị nạn sau cơn hồng thủy 75.
Tuy nhiên, nếu nhìn sâu vào đàng sau những hiện tượng khác lạ trong giới làm truyền thông, cách riêng các hệ thống truyền hình đang nở rộ ở nam bắc California, những người còn quan tâm tới thân mệnh quê hương, dân tộc không thể không nhận ra những chỉ dấu cần đặt câu hỏi. Có người nói, cách tốt nhất để phân biệt lập trường chính trị giữa các đài truyền hình, phát thanh là hãy quan sát cách chọn tin, đưa tin, nội dung các chương trình hội luận thời sự và dàn xướng ngôn của mỗi đài là đủ rõ. Trên thực tế có đài chỉ loan tin thế giới và những loại tin “cán chó” ở quốc nội mà luôn tránh né những tin được đảng và nhà nước CSVN coi là “nhạy cảm”. Cụ thể trong thời gian gần đây, những đài này không hề đưa tin về những cuộc biểu tình với hàng chục ngàn đồng bào ở Nghệ Tĩnh trương cao khẩu hiệu đỏi hỏi nhà cầm quyền phải minh bạch thảm họa cá chết đồng loạt và trục xuất vĩnh viễn Formosa khỏi Vũng Áng. Giới hâm mộ âm nhạc trong cộng đồng cũng than phiền về một trung tâm nọ đã dùng tiền và những lời hứa hẹn để mua đứt những ca sĩ nổi tiếng từng hát những bản nhạc đấu tranh chống Trung cộng xâm lược và một chính quyền “hèn với giặc, ác với dân” từng làm rung động lòng người thưởng ngoạn trong và ngoài nước. Giữa kẻ bị mua và tổ hợp dùng tiền từ đâu đó, âm mưu làm bặt đi những tiếng hát đấu tranh được coi là vưu vật của cộng đồng tị nạn, ai nặng tội hơn đối với những người không chấp nhận CS, mọi người đều đã rõ(ii).
Với những lời lẽ mỉa mai, châm biếm, tác giả Tuấn Khanh đã can đảm, công khai chỉ rõ bộ mặt gian manh, giả danh yêu nước thương nói của những kẻ từng lớn tiếng tuyên bố là “chống Mỹ cho đến cái lai quần” là “đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào” nhưng ngày nay lại là những kẻ đang tìm đường qua ấn thân trên đất nước kẻ thù và cũng là nơi định cư cả triệu đồng bào một thời bị họ coi là “ngụy” là “tay sai đế quốc Mỹ”!
Bài viết cho hay:
“Sẽ là một điều chua chát, nếu nhìn lại lịch sử. Dù nước Mỹ vẫn bị gọi là thua trận và bị “đuổi” khỏi Việt Nam theo các văn bản tuyên truyền, nhưng đích đến giờ đây của nhiều quan chức Việt Nam vẫn là nước Mỹ chứ không là đồng minh số một Trung Quốc. Thậm chí các quan chức, giới tư bản đỏ hiện tại của Việt Nam còn bỏ ra rất nhiều tiền để được trụ lại quốc gia thù địch đó, cho họ và cho con cái của họ.”
Nhiều người Việt Nam sống bằng đồng tiền lương thiện ít ỏi của mình tại Mỹ đã ngạc nhiên hỏi rằng “họ là ai, sao giàu vậy”. Thật không dễ trả lời…”
Đan cử chứng từ của một người bạn đang sống đời tị nạn ở Mỹ, Tuấn Khanh viết:
“Anh Mến, một người sống ở Kansas hơn 10 năm, trong một cuộc gặp ngẫu nhiên đã thảng thốt kể rằng ông chứng kiến những người Việt đến Mỹ mua một lúc 2, 3 căn nhà. Thậm chí họ còn luôn đón mua hàng chục chiếc iPhone đời mới nhất để gửi về, so với ông đến nay vẫn còn mắng con khi thấy chúng xài viết chì được phân nửa đã vứt đi.”
Trước câu hỏi ngẩn ngơ, ngỡ ngàng của người bạn tên Mến là “Việt Nam bây giờ dễ kiếm tiền lắm hả anh?” tác giả bản nhạc “Trái Tim Việt Nam” cảm thấy lúng túng, khó giải thích cho bạn hiểu, dù cả hai đều là người Việt và cùng đang dùng ngôn ngữ mẹ để đối thoại với nhau.
Xác định rằng việc kiếm tiền trong nước không dễ dàng thì lý giải sao cho thông trước bắng chứng ông Mến đã thấy tận mắt là có những người Việt vừa chân ướt chân ráo tới Mỹ đã có thể mua một lúc 2, 3 căn nhà “to đùng” bằng “tiền tươi” không cần phải vay ngân hàn! Nhưng nếu bảo rằng dễ thì biết trả lời với bạn ra sao khi ở Việt Nam ngày nay hàng triệu gia đình dân vẫn đang phải sống dưới mức nghèo khó? Mà bằng cách nào có thể giấu bạn khi hàng ngày gần như mỗi người đều thấy trên mạng hình ảnh những em bé phải giãi nắng dầm mưa được cha mẹ bọc trong bao nylon kéo qua sông suối, hoặc run rẩy bước trên những cây cầu khỉ mong manh, sau đó lê la ngồi học dưới những mái trường dột nát, kể cả những lớp học lộ thiên!
Tác giả viết:
“Thật khó mà giải thích với ông Mến, dù cùng là người nói tiếng Việt với nhau. Vì ngay ở quê hương lúc này, hàng triệu người đang nuốt các bữa ăn công nhân hàng ngày tệ bạc đến mức như công khai bào mòn tuổi xuân của họ. Những vùng quê đói nghèo phải xin gạo trợ cấp mỗi năm, nhưng đầy dẫy các quan lớn vẫn lên nhà cao, tậu xe to và viết các dự án xây tượng đài hàng ngàn tỉ.”
Tuy đang sống trên đất nước xa xôi bên kia bờ biển Thái Bình, nhờ tai mắt của bạn bè thân sơ, tác giả Tuấn Khanh vẫn có được những thông tin thật chính xác để nhận biết những gì đang xảy ra bên ngoài đất nước liên hệ tới những con người, những sự việc trong sinh hoạt hàng ngày bên cạnh anh. ông thấy được con số những người bỏ nước qua sống ở Mỹ hiện nay không còn là mấy chục hay một vài trăm… mà hàng ngàn, hàng chục ngàn người. Hiển nhiên nó đã trở thành một cao trào. Trong số những người đi, không chỉ giới hạn những thành phần tạm coi như là làm ăn lương thiện, nay có tiền thấy cần phải rời xa mảnh đất của tổ tiên nhưng bất hạnh đã trở thành hang ổ những cạm bẫy không chỉ đe dọa an sinh mạng sống bản thân mà còn di lụy tới tương lai con cháu họ sau này. Hơn thế, nó còn bao gồm cả những khuôn mặt lớn nhất của chế độ hiện nay, những kẻ thừa mứa tiền bạc, đến lúc phải tìm kế “hạ cánh an toàn”. Điều mỉa mai đối với tác giả là nơi “hạ cánh an toàn” của những tay đầu sỏ này không phải là quê hương của ông bạn “bốn tốt” và “mười sáu chữ vàng” Đại Hán mà lại là xứ Cờ Hoa, đất nước của “ba đời Tổng Thống” mà họ từng tuyên bố vung vít đã đánh bại và không giấu diếm thái độ khinh khi, miệt thị!
Từ những thông tin tại chỗ, ông ghi nhận được cả những sinh hoạt từng ngày, từng mùa của những người mới tới. Từ chuyện tìm nơi an ninh, sang trọng để mua nhà lớn nhà nhỏ tới việc chọn trường ốc cho con cháu, dĩ nhiên là trường tốt không chỉ về mặt học vấn mà cả về chuẩn mực luân lý, đạo đức…
Một đoạn trong bài, tác giả Tuấn Khanh ghi lại lời bạn anh:
Cổng trường St. Polycarp ở Stanton. Bảng chỉ dẫn có cả tiếng Việt Nam. Nguồn: Google Maps
Cổng trường St. Polycarp ở Stanton. Bảng chỉ dẫn có cả tiếng Việt Nam. Nguồn: Google Maps
“Trường St. Polycarp(3) ở thành phố Stanton, Quận Cam, là một trong những trường tư thục Công giáo mà nhiều gia đình người Việt dù tốn tiền nhưng vẫn hay gửi con vào vì mong chúng học kiến thức, và học được cả đức tin. Thỉnh thoảng, cũng có những gia đình đem con đến và cho con cái làm quen với Jesus thay cho học tin vào một lãnh tụ. Năm ngoái, chiếc xe đỗ trước cửa trường đưa đứa trẻ vào học, có cả ông bà theo để xem nơi học thế nào. Đó là những người vẫn còn mang đậm phong thái cán bộ với quần áo, giày dép vả cả giọng nói.
Khi gia đình này bước qua sân trước, vòi nước tự động tưới cây bất ngờ bị hư, nên làm tràn ra một vũng nước. Người phụ nữ lớn tuổi bước qua, càu nhàu “Thế này là không được. Phải nói nhà trường xem lại coi chứ thế này thì đi hư hết cả giày”. Thấy tôi là người Việt, đang đứng gần ở nơi bán hàng gây quỹ cho trường, nên bà nói luôn, “Anh có làm ở đây không, ông nên nói với ban giám hiệu.”
Đúng là cung cách hành xử của một công dân biết rõ quyền của mình. Có điều là khi đang nắm quyền sinh ở trong nước tuồng như các ông lớn, bà bé này vì vô tình hay hữu ý đều chỉ biết đến quyến nạt nộ dân đen thôi!
Sau khi ghi lại câu chuyện trên đây, thấy chuyện người, Tuấn Khanh nghĩ tới chuyện xảy ra thường xuyên ở quê nhà, ông viết:
“Tôi nhớ đến Sài Gòn, Hà Nội… nhớ những ngày nước ngập lụt lội đến tận giường. Nhớ đến những mùa nhập học hàng ngàn phụ huynh vật vã, lê lết khắp nơi chạy trường cho con mình, dù phải gửi lót tay. Có lẽ người Việt đã quen sống vất vả và chịu đựng nên mọi thứ quen dần, đến khi tiếp cận với một đời sống tự do và dân chủ, ai cũng hăng hái tìm và thể hiện quyền của mình. Dĩ nhiên vòi nước được sửa ngay sau đó không lâu, mà ban giám hiệu không đổ thừa cho biến đổi khí hậu hay thiếu tiền ngân sách. Gia đình đó khi quay lại hôm sau, chắc sẽ hài lòng và nghĩ mình được tôn trọng, khác với những ngày tháng mà bao nhiêu người dân ở quê hương giận dữ với hiện trạng nhưng thấy mình luôn bị biến thành trò hề. Bài học của cuộc sống đơn giản hiện rõ trên gương mặt của gia đình đó, mà tôi thấy, là sự tự tin và quyền của con người, có thể rất khác khi họ ở Việt Nam, bị cảnh sát giao thông ngoắc xe vào vô cớ, đã vội móc túi tìm vài trăm ngàn để lướt qua nan đề thật nhanh,”
Nhắc lại câu nói nổi tiếng của nhà văn John Mason và cũng là một nhà hùng biện “You were born an original. Don’t die a copy – Bạn được sinh ra như một nguyên bản, xin đừng chết như một phó bản”, tác giả Tuấn Khanh đẩy suy tư của ông đi thật xa tít tắp tới bến bờ lịch sử đất nước, giống nòi với “những người muôn năm cũ” và gần gũi như mấy triệu bà con đã liều mình vượt biên vượt biển, coi nhẹ mạng sống tìm đường chạy thoát khỏi nơi có thể làm họ mất bản sắc, cho dẫu đấy là nơi chốn nhau cắt rốn của mình.
Ông viết:
“Đã có rất nhiều người ra đi, để được thấy mình và con cái của mình được sống như là chính mình, như một nguyên bản. Nhiều năm sau 1975, vẫn có những dòng người ra đi rất xa khỏi quê hương để tìm lại phần nguyên bản của mình… Lịch sử thế giới chắc sẽ lại phải ghi thêm một chương kỳ lạ. Con người và muông thú lên thuyền ông Noah để gột sạch mình cho một thế giới mới, nhưng người Việt hôm nay lại lặng lẽ lên chiếc thuyền mong cứu chuộc nguyên bản của đời mình, cứu chuộc một cuộc sống đơn giản, thật thà và tự do.”
Con người luôn bao dung, giầu tình thương và tinh thần nhân bản nơi Tuấn Khanh đã khiến ông nhận ra không phải chỉ những người từ bao đời nay vốn mang sẵn tính “thiện bẩm sinh” mà ngay cả những kẻ do cảnh ngộ nhất thời bị biến thành máu lạnh, sẵn sang làm điều gian ác nhưng khi đã “buông dao đồ tể” bỏ nơi tăm tối tìm về ánh sáng… cũng chỉ là để tìm lại chính mình.
Nhận định của tác giả trong đoạn văn trên đây khiến tôi nghĩ tới tâm sự của ca sĩ Mỹ Lệ trong một bài viết trên mạng vừa đọc được hôm rồi mang tiêu đề “Vì sao người Việt Quốc Nội lại đua nhau ‘tháo chạy’ khỏi thiên đường Cộng Sản?”
Được biết Mỹ Lệ là một ca sĩ nổi tiếng. Bà có hai con gái ở tuổi lên 10. Vì thương con, lo lắng cho tương lai của con, bà gác sự nghiệp ca hát qua một bên, tìm mọi cách cho con qua Đức du học. Mỹ Lệ tâm sự: “Là một người mẹ không ai muốn xa con, nhất là khi con mới hơn 10 tuổi. Nhưng, chỉ có cách đó, tôi mới bảo vệ được con mình khỏi bị đầu độc!”
Nói tới từ “đầu độc” ở đây, Mỹ Lệ không chỉ nói theo nghĩa tinh thần, tâm linh hay trí tuệ. Điều này vốn dĩ là mối lo tâm phúc của những người dân phải ép mình sống dưới chế độ cộng sản. Bà muốn nói tới những loại thực phẩm “bẩn” mà từ trên xuống dưới người ta đang toa rập với nhau tiếp tục chế biến, nuôi trồng bằng mọi thứ độc dược giết người để bán ra thị trường. Nó len lỏi vào tủ lạnh, vào xó bếp, trên mâm ăn để giữa người với người, thản nhiên giết nhau tư từ trên đất nước ta hôm nay.
Tinh thần nhân bản và lòng yêu thương của Tuấn Khanh không thể cột chặt ông ở khía cạnh bao dung. Vì thế khi nghĩ tới cảnh hàng hàng lớp lớp người ta chen nhau bỏ nước ra đi cho dù để bảo vệ nguyên bản, ông không khỏi thảng thốt nêu lên câu hỏi: “Nhưng tại sao chúng ta không thể là nguyên bản ở quê hương mình? Vì sao chúng ta phải sống không là chính mình nơi chôn nhau cắt rốn của mình?”
Kết thúc, Tuấn Khanh  viết:
“Tôi đang hình dung người đàn ông có xe hơi đắt tiền không bỏ xe giữa con đường ngập nước ở Sài Gòn mà ông ta cùng nhiều con người nữa đang ướt sủng sẽ đi thẳng đến cơ quan nhà nước để hỏi rằng vì sao? Tôi hình dung gia đình Việt Nam di cư đến Mỹ đó sẽ không chất vấn một ban giám hiệu ngoại quốc về của công, mà sẽ cất tiếng nói như vậy trên chính đất nước mình? Một cuộc sống thật và đơn giản – nguyên bản vì sao đang phải bị đánh tráo bằng những phiên bản vô hồn và nhạt nhẽo?
Chúng ta được dặn dò hãy chỉ nên lo làm ăn, và đừng quan tâm đến chuyện gì khác. Và nhiều người Việt đã mất rất nhiều thời gian để làm được điều đó rồi giật mình nhìn thấy thế giới này không chỉ no đủ là tất cả. Không ít người giàu có, thậm chí quan chức đã dồn tất cả để ra đi và đổi một cuộc sống khác. Thậm chí đó là cuộc sống mà trước đây họ bảo vệ và coi những kẻ từ bỏ, ra đi là thù nghịch.
Cuộc sống đang như vậy. Rất hiện thực. Khi viết một bài trước đây, một bạn trẻ, có khuynh hướng dư luận viên, đã nhắn cho tôi “vậy cứ nghèo đi, nghèo hoài đi”. Dĩ nhiên, đó lại là một khái niệm khác, mà nếu hiểu những gì tôi viết ắt bạn trẻ ấy sẽ không nói như vậy. Vì câu hỏi của tôi rất rõ rằng chúng ta – người Việt, đang cố giàu lên và sau đó sẽ là gì?”
Rời màn hình tôi tự hỏi: liệu những lời tâm huyết của người tác giả này có chạm được tới trái tim, khối óc của những con người vô cảm, những kẻ thờ ơ với con người, với vận mạng dân tộc, nhưng tên tay sai chạy cờ, những dư-luận-viên, nhất là những kẻ đang nắm giữ vận mạng đất nước hôm nay?
Nam California cuối tháng 8, 2016
Nếu đăng lại, xin đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net”

Nguồn: Bài do tác giả gởi. DCVOnline hiệu đính và phụ chú.
DCVOnline:
(1) Trong lịch sử cận đại, Trung Cộng xâm lăng Việt Nam vào những năm 1974 – hải chiến Hoàng Sa với Hải quân Việt Nam Cộng hoà; 1979 xâm lăng trên đất liền ở các tỉnh vùng viên giới phía bắc nước CHXHCN Việt Nam; 1988 hải chiến Gạc Ma giữa tàu khu trục của Trung Cộng và tàu vận tải của CHXHCN Việt Nam.
(2) Tên của video clip, dài 3 phút, là “Trái Tim Việt Nam”, Tuấn Khanh sáng tác và hát, Talamot thực hiện video clip bằng hình ảnh những cuộc biểu tình trong tháng 12, 2007. Video do talamotWEARE1 đưa lên mạng YouTube ngày 23 tháng 12, 2007; có 167.286 lượt xem (tính đến tháng 8, 2016)
(3) Trường St. Polycarp do các linh mục dòng Columban thành lập năm 1959. Từ 1962 đến 1978 ban giảng huấn là nữ tu dòng Tông đồ Thánh thiện. Hiện nay trường có từ lớp 1 đến lớp 8. Khẩu hiệu của trường St. Polycarp là “Mater Mea, Fiducia Mea”, “Mẹ tôi, Niềm tin của tôi”. “Mẹ” ở đây là bà Maria, mẹ của Jesus Christ. Ngoài 650 USD phí hành chánh mỗi năm cho mỗi học sinh, học phí là 5.600 USD cho mỗi em; gia đình có 2 con theo học sẽ trả 9000 USD; gia đình 3 con hay nhiều hơn con sẽ đóng học phí 11.500 USD. Nguồn: http://www.stpolycarpschool. org/
Học sinh trường St. Polycarp ở Stanton. Nguồn: http://www.stpolycarpschool.org/
Học sinh trường St. Polycarp ở Stanton. Nguồn: http://www.stpolycarpschool. org/
Trần Phong Vũ:
(i) Theo giới thạo tin trong nước thì trang mạng này là do tay chân Nguyễn Tấn Dũng lập ra nhằm hạ bệ một loạt những khuôn mặt có thể sẽ là khắc tinh của ông ta trong địp Đại Hội đảng CS thứ 12 hồi đâu năm nay, trong số, ngoài Nguyễn Xuân Phúc còn có cả Trần Đại Quang.
(ii) Người viết tự hứa sẽ trở lại vấn đề này trong một bài khác.
Share